Tìm hiểu truyện lịch sử của tô hoài và hướng tiếp cận từ góc nhìn văn hóa, phong tục ( khảo sát qua bộ ba tác phẩm đảo hoang, chuyện nỏ thần, nhà chủ) - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ LUYẾN

TRUYỆN LỊCH SỬ CỦA TÔ HOÀI
VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
(KHẢO SÁT QUA BỘ BA TÁC PHẨM: ĐẢO HOANG,
CHUYỆN NỎ THẦN, NHÀ CHỬ)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Trần Thị Minh
– người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
khóa luận. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo
dục Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Trong khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính
mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn.

Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Nguyễn Thị Luyến



2.1.2. Thay đổi các tình tiết trong truyền thuyết để thể hiện những chủ đề
mới ........................................................................................................ 22
2.1.3. Hiện thực hóa những chi tiết huyền ảo................................................ 26


2.2. Khắc họa những chân dung mới ............................................................ 28
2.2.1. Con người đấu tranh trong cuộc sống sinh tồn và luôn mang khát vọng
cao cả ........................................................................................................... 29
2.2.2. Con người có đời sống tình cảm phong phú........................................ 34
2.3. Chất thơ trong truyện lịch sử của Tô Hoài ............................................. 44
2.3.1. Bức tranh thiên nhiên đẹp thơ mộng ................................................... 44
2.3.2. Vẻ đẹp trong sáng của tình người ....................................................... 45
KẾT LUẬN ................................................................................................. 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 51


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Truyện lịch sử là một thể loại đáng chú ý trong văn xuôi Việt Nam thế
kỷ XX. Trải qua nhiều biến động, có thời kỳ phát triển rầm rộ, có giai đoạn
tạm thời lắng xuống nhưng truyện lịch sử vẫn không ngừng được tìm tòi và
thử nghiệm trong một quá trình liên tục: đầu thế kỷ là sự xuất hiện của những
cây bút như Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô
Tất Tố...sau đó là Chu Thiên, Hà Ân, An Cương, Thái Vũ... và đến cuối thế
kỷ, xu hướng viết truyện lịch sử thu hút nhiều nhà văn hơn như Ngô Văn Phú,
Hoàng Công Khanh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh...
Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam
hiện đại. Khoảng 150 tác phẩm lớn nhỏ trong hơn 60 năm cầm bút với nhiều
thể loại, nhiều đề tài đã chứng tỏ sức sáng tạo dồi dào của tác giả. Trong sự

Từ lâu, cái tên Tô Hoài đã trở nên quen thuộc với bạn đọc ở nhiều lứa
tuổi khác nhau. Tô Hoài viết nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại. Sáng tác
của ông không chỉ gây ấn tượng đặc biệt với bạn đọc mà còn trở thành đối
tượng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Các bài viết về
tác phẩm của Tô Hoài thường tập trung vào những mảng đề tài quen thuộc
hoặc các tác phẩm nổi tiếng của ông.
Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài (1987) của giáo sư Hà Minh Đức là
một bài viết công phu, đánh giá khá đầy đủ những đóng góp của Tô Hoài qua
gần nửa thế kỷ sáng tác, trong những tác phẩm viết cho tuổi thơ và người lớn;
về làng quê ngoại ô và miền núi; ở các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và ký.
Bài viết cũng làm nổi bật phong cách sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài ở
“năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan”, ở các
phương diện miêu tả phong tục tập quán, khung cảnh thiên nhiên, tính cách
nhân vật, tìm tòi sáng tạo ngôn từ và cấu trúc câu văn. Với giáo sư Hà Minh

SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

2


Đức, Tô Hoài là “cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”, là “một ngòi bút tươi
mới không bị cũ đi với thời gian” [10, 89].
Nhà nghiên cứu Vân Thanh trong Tô Hoài với thiếu nhi (1982) đánh giá
cao những đóng góp của Tô Hoài trong mảng sáng tác cho thiếu nhi là ở đề tài
phong phú, thể loại đa dạng, nội dung phù hợp với lứa tuổi. Truyện về các tấm
gương anh hùng trước Cách Mạng và trong kháng chiến có tác dụng giáo dục
lý tưởng và đạo đức cho các em sắp bước vào đời. Sáng tác thuộc loại “những
mẩu chuyện nhỏ”, xinh xắn, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc nhằm ca ngợi xã hội mới
là viết cho bạn đọc nhỏ tuổi hơn. Truyện lịch sử viết cho lứa tuổi lớn, gợi khát
vọng tìm hiểu đất nước, tình yêu quê hương, yêu lao động và bài học về ý chí,

VÀ TRUYỆN LỊCH SỬ CỦA TÔ HOÀI

1.1. Khái niệm “truyện lịch sử”
Truyện là một bộ phận quan trọng của văn xuôi tự sự, bao gồm cả tiểu
thuyết, truyện dài, truyện vừa... Trong cuốn Từ điển Văn học, tập 2, Nhà xuất
bản Khoa học - Xã hội trang 450 ghi rõ: “Truyện thuộc loại tự sự - có hai
thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp nghệ thuật chính là
kể. Truyện thừa nhận có vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng. Tùy theo
nội dung phản ánh, dung lượng, chủ thể sáng tạo mà truyện chia thành nhiều
loại: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (cũng gọi là tiểu thuyết)”.
Truyện lịch sử là một trong những thể loại của văn xuôi tự sự, lấy lịch
sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tác nghệ thuật. Viết truyện lịch sử, tác giả
có thể dựa trên chất liệu là lịch sử, với những sự kiện trong quá khứ rồi hư
cấu, tưởng tượng thêm để tạo nên những nội dung mới gây hứng thú cho
người đọc. Tuy đề tài và cảm hứng lấy từ lịch sử song nó không hề né tránh
và xa rời những vấn đề thực tại, thời thế, hiện tại. Đúng như BiêlinxKi đã
khẳng định: “ Chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta
giải thích cho hiện tại và chỉ ra tương lai của chúng ta”. Đây chính là một đặc
điểm quan trọng của truyện lịch sử.
Cùng là truyện viết về lịch sử, do có nhiều quan niệm khác nhau nên dẫn
đến những cách gọi tên không thống nhất. Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn
học (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), các tác
giả gọi là văn học lịch sử: “Thể loại văn học lịch sử còn bao gồm các tác phẩm
SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

6


văn học nghệ thuật sáng tác về các đề tài và nhân vật lịch sử (...). Các tác phẩm
viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy


chính là phải gợi cho các em những suy nghĩ về hiện tại và khơi lên những
ước mơ mới về tương lai cho tâm hồn các em. Đó cũng là cách nói lấy xưa để
phục vụ nay mà thôi” [Xem 2].
Còn trong các công trình của Bùi Văn Lợi, Đỗ Hải Ninh, Trần Thị
Quỳnh Hoa, Lê Thị Chung, các tác giả đã khảo sát các truyện viết về lịch sử
xuất hiện trong những năm đầu thế kỷ XX của Nguyễn Tử Siêu, Lan Khai,
Phan Trần Chúc... các tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Xuân
Khánh... và đều gọi là tiểu thuyết lịch sử.
Từ những ý kiến khác nhau của các tác giả nêu trên, tôi thấy những
cách gọi tên của các tác giả về khái niệm truyện lịch sử và tiểu thuyết lịch sử
thì khác nhau nhưng về nội dung lại có nhiều nét tương đồng. Thực tế cho
thấy, trong sáng tác, ranh giới của các thể loại nhiều khi chỉ có ý nghĩa tương
đối. Sự phân biệt giữa truyện, truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết được nhìn
nhận trong sự khác biệt về quy mô, dung lượng của tác phẩm. Trong luận văn
này, chúng tôi coi truyện lịch sử là tên gọi của các truyện vừa, truyện dài, tiểu
thuyết, những tác phẩm văn xuôi tự sự có quy mô vừa và lớn, còn những tác
phẩm truyện ngắn về đề tài lịch sử không nằm trong phạm vi này.
1.2. Các chặng đường phát triển của truyện lịch sử trong văn xuôi Việt
Nam từ năm 1945 đến nay
Cùng với quá trình hiện đại hóa văn học nước ta đầu thế kỷ XX, ở
chặng đường trước năm 1945 truyện lịch sử phát triển mạnh với các tên tuổi
như: Nguyễn Tử Siêu với Tiếng sấm đêm đông, Hai Bà đánh giặc, Việt thanh
chiến sử ...; Nguyễn Triệu Luật với Bà chúa Chè, Loạn kiêu binh ...; Ngô Tất
Tố với Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám; Lan
Khai với Cái hột mận, Ai lên Phố Cát ...; Phan Trần Chúc với Giọt máu cuối
cùng, Tĩnh Đô vương...; Nguyễn Huy Tưởng với An Tư, Đêm hội Long Trì, ...
và nhiều tác giả khác nữa. Sự góp mặt của các nhà văn này đã làm phong phú

SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

Tả quân Lê Văn Duyệt (1935), Vua Tây chúa Nguyễn (1938), Vua Hàm Nghi
với việc Kinh thành thất thủ (1935), Lịch sử Đề Thám (1935)... Có thể nói
SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

9


rằng từ sau khởi nghĩa Yên Bái thất bại (1930), tiểu thuyết lịch sử nở rộ là
biểu hiện của nền văn học yêu nước, một phương tiện để ký thác tình cảm của
một số người cầm bút. Và tiểu thuyết lịch sử được bạn đọc tìm đến, chính là
để tìm thấy ở đây một niềm an ủi, một ý chí tự hào và lòng hi vọng thầm kín
vào tiền đồ của đất nước”.
Về hình thức, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vẫn chịu ảnh hưởng của
lối ghi chép biên niên, kết cấu chương hồi, câu văn biền ngẫu của tiểu thuyết
trung đại. Một số tác giả đã cố gắng tìm tòi, kết hợp được tính chân thực của
lịch sử với khả năng tưởng tượng, hư cấu của nhà văn trong việc khai thác
tâm lý, xây dựng tính cách nhân vật. Đó là trường hợp tác giả Phan Bội Châu
với nhân vật anh Phấn, cô Chí trong Trùng Quang tâm sử, Nguyễn Triệu Luật
với nhân vật Đặng Thị Huệ trong Bà Chúa Chè, Nguyễn Huy Tưởng với nhân
vật Trịnh Sâm trong Đêm hội Long Trì...
Trong suốt 30 năm tiếp theo (1945 - 1975), sau khi đất nước giành độc
lập, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành hai cuộc kháng chiến
trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cùng với thơ ca và văn xuôi
về đề tài chiến tranh cách mạng, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này với những
tác giả tiêu biểu như Hà Ân (Quận He khởi nghĩa, Trên sông truyền hịch),
Chu Thiên (Bóng nước Hồ Gươm), Nguyễn Huy Tưởng (Lá cờ thêu sáu chữ
vàng)... đã ca ngợi truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc trong lịch sử
chống ngoại xâm và phong kiến, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, khích lệ động
viên nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Các
tác giả đã tái hiện được không khí thời đại được phản ánh, xây dựng những

hương sắc của đời sống và tâm hồn dân tộc đã được nhà văn thể hiện sinh
động và hấp dẫn.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng tích cực của giao lưu văn học với nước ngoài
cũng giúp người cầm bút mở rộng tầm nhìn và nhận thức, tìm tòi cách thể
hiện mới. Trong xu thế đó, các nhà nghiên cứu phê bình và nhà văn cũng có
cách nhìn mới đối với tiểu thuyết lịch sử. Về mối quan hệ giữa tính chân
thực lịch sử với hư cấu lịch sử, giáo sư Phan Cự Đệ, trong Tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại đã cho rằng: “Trong quá trình sáng tác, các nhà viết tiểu thuyết

SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

11


lịch sử, vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ vai
trò của hư cấu sáng tạo nghệ thuật ... Nhà nghệ sĩ sẽ lấy quyền sáng tạo và
hư cấu để bổ sung cho những chi tiết, những thời kỳ mà lịch sử không nói
đến” [8, 82]. Về đề tài sáng tác, khi nhận xét tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác, giáo sư Phan Cự Đệ viết: “Ông không quan niệm lịch sử
chỉ là những câu chuyện của các ông hoàng bà chúa, của các tướng lĩnh, là sử
biên niên của các trận đánh. Truyện lịch sử trước hết là tiểu thuyết, là thế sự,
là chất văn xuôi, là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên” [8, 102].
Quan niệm đó đã được sự đồng tình hưởng ứng của nhiều người sáng tác và
phê bình văn học. Từ sau đổi mới, truyện lịch sử phát triển mạnh và có nhiều
thành tựu. Các nhà văn đã có nhiều tìm tòi trong cách thể hiện. Kết cấu linh
hoạt, sự kiện không nhất thiết triển khai theo mạch thời gian mà có thể triển
khai theo mạch vận động của suy nghĩ, cảm xúc nhân vật. Yếu tố hư cấu được
sử dụng triệt để trong xây dựng nhân vật hoặc để bổ sung, sáng tạo chi tiết.
Nhân vật được soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau đã hiện lên với tất cả
những mặt tốt xấu, những phức tạp trong đời sống nội tâm. Nhờ thế, đến với

gáy, Chú Bồ nông ở Sa-mác-can...
Thứ hai, truyện về các anh hùng tuổi thơ với những tác phẩm tiêu biểu
như Vừ A Dính, Kim Đồng, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ ...
Ngoài mảng truyện đồng thoại và truyện về các anh hùng tuổi thơ đã
kể trên, Tô Hoài còn tâm đắc với việc tìm tòi một số truyện cổ tích để viết lại,
kiểu tiểu thuyết hóa truyền thuyết và ông đã rất thành công với Đảo hoang,
Chuyện nỏ thần, Nhà Chử. Với những tác phẩm này, Tô Hoài cũng đã mở ra
một hướng khai thác mới ở đề tài lịch sử: Hướng khai thác lịch sử gắn với
huyền thoại, phong tục và văn hóa. Không phải là người đầu tiên, cũng không
phải là người viết nhiều nhất, nhưng chỉ với ba tác phẩm trên, Tô Hoài đã ghi
dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc ở mảng đề tài này. Khác với truyện lịch sử
của Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân, An Cương, Nguyễn Đức Hiền... trong giai
đoạn trước, khai thác lịch sử gắn với các nhân vật anh hùng và truyền thống
chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Còn bộ ba tác phẩm này của Tô Hoài viết
chủ yếu dựa theo các truyền thuyết lịch sử, chuyện đời xưa ít nhiều chứa đựng

SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

13


các yếu tố hoang đường và từ lâu đã rất quen thuộc với các em. Có thể nói đây
là một hướng đi cần thiết, bổ ích với bạn đọc lứa tuổi thiếu niên, đang khao
khát muốn vén tấm màn huyền thoại để biết sự thật cuộc sống và con người
thưở xa xưa. Tô Hoài đã đem đến cho bạn đọc nhỏ tuổi một cảm quan về lịch
sử dân tộc qua nét vẽ tài hoa, tinh tế bức tranh phong cảnh, phong tục.
Về điều kiện sáng tác các tác phẩm này, nhà nghiên cứu Đỗ Bạch Mai
cho rằng: “Tô Hoài đã được thừa hưởng một điều kiện khá thuận lợi: những
năm gần đây, nhiều địa phương đã sưu tầm được một khối lượng lớn các câu
chuyện, các mẩu chuyện làm phong phú thêm rất nhiều cho hệ thống truyền

đến cho các em một niềm vui, một bài học nhỏ, một lời căn dặn. Với các em
lúc nào ngòi bút của ông cũng đầm ấm, tươi trẻ. Thời gian không mệt mỏi,
không hằn vết trên trang viết cho các em. Có biết bao câu chuyện bổ ích và
đẹp trong cuộc đời sẽ còn dành cho tuổi thơ, ông còn là người kể chuyện
hứng thú và sáng tạo” [11, 157].

SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

15


Chương 2
TRUYỆN LỊCH SỬ CỦA TÔ HOÀI
VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Sau các truyện lịch sử về các nhân vật anh hùng Cách Mạng của dân
tộc, Tô Hoài tiếp tục khơi một nguồn mạch mới từ trong truyền thuyết cho ra
mắt độc giả liên tục ba cuốn truyện lịch sử, đó là Đảo hoang (1976), Chuyện
nỏ thần (1982) và Nhà Chử (1985). Thông qua ba tác phẩm này, Tô Hoài đã
làm sống lại không khí sinh hoạt của dân tộc trong thời kỳ đầu dựng nước.
“Ông muốn trở về ngọn nguồn của những câu chuyện truyền thuyết, cổ tích
để tìm hiểu đời sống của dân tộc trong thời kỳ xa xưa với những cảm nghĩ và
hình thái tư duy, với những hành động sáng tạo của người lao động trong quá
trình đấu tranh dựng nước và giữ nước” [Xem 10]. Đồng thời qua đó, Tô Hoài
muốn đưa đến suy ngẫm về những vấn đề có ý nghĩa đối với đời sống con
người hôm nay.
2.1. Sáng tạo lại những truyền thuyết của dân tộc
Các truyền thuyết và cổ tích như Truyện dưa hấu, Nỏ thần An Dương
Vương, Chử Đồng Tử hầu như đã rất quen thuộc với tất cả mọi người dân đất
Việt. Song với lòng yêu mến sâu sắc truyền thống dân tộc, với ý thức tìm tòi

mang theo hương vị bát nước chè xanh "ngon không đâu có được" của quê
nhà.
Về trang phục của người Văn Lang, tác giả Trần Ngọc Thêm cho biết:
"Đối với nam giới, đồ mặc phía dưới ban đầu là chiếc khố. Khố là một mảnh
vải dài quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng và luồn từ trước ra sau. Khố
mặc mát, phù hợp với khí hậu nóng bức và dễ thao tác trong lao động, vì vậy,
nó không chỉ là đồ mặc điển hình thời Hùng Vương mà còn được duy trì ở
một bộ phận dân chúng khá lâu về sau này" [37, 204]. Trong truyền thuyết
Chử Đồng Tử có chi tiết hai cha con Chử chung nhau một chiếc khố. Khi bố
mất, Chử dùng chiếc khố duy nhất mặc cho cha rồi mới chôn. Chi tiết đó vừa
phản ánh cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn của nhân vật vừa cho thấy Chử là

SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

17


người con rất có hiếu. Trong Đảo hoang và Nhà Chử, nhiều lần Tô Hoài
miêu tả các nhân vật trong trang phục này với nhiều ý nghĩa. Trên đường về
thăm ông, ghé vào một xóm ở vùng trung du, Chử xuất hiện "người trần trùng
trục, đóng khố một" trước mắt dân làng. Các chàng trai ở xóm bến của ông
Chử nơi đồng bằng cũng đều "cởi trần, khố một". Như vậy, chiếc khố là trang
phục phổ biến của đàn ông khắp các cõi. Khi ông Chử qua đời, trên mình ông
là "chiếc khố đơn vỏ cây sui. Cái khố vỏ cây sui của ông Chử đóng đã xơ ra...
Bây giờ cháu xin thay cho ông tấm khố vải gai của bố cháu. Bố cháu đã phơi
dứa gai để mẹ cháu dệt nên vải, dệt cho cháu về bến quê. Ông đóng tấm khố
vải gai này của cháu cho có được hơi hướng con cháu quanh mình, dẫu ông
nằm xuống, dẫu con cháu ông ở xa, đi xa đến đâu cũng vẫn như được hầu hạ
quanh ông. Cái khố vải gai của con cháu, ông mang đi ông ạ" [18, 83]. Ở đây,
chiếc khố vỏ cây sui đã theo ông Chử khi còn sống, chứng kiến cuộc đời

trốn thoát khi bị quân của Hai Bà Trưng vây thành Luy Lâu trong Chuyện nỏ
thần. Tô Hoài còn để cho Lý Ông Trọng, trong câu chuyện của mình, luôn
nhắc nhở mọi người việc giữ gìn phong tục: "Vấn tóc ngắn để tiện đi lại trong
rừng. Vẽ mình cho giống hình long quân, khi bơi lội dưới sông, loài giao long
không dám phạm tới. Đi chân đất để tiện trèo cây. Cày bằng dao, trồng bằng
lửa. Trời nắng để đầu trần cho đỡ nóng bức. Ăn trầu cau, răng đen trừ được ô
uế" [18, 499]. Ở Đảo hoang, có đoạn tác giả miêu tả cảnh sinh hoạt của gia
đình An Tiêm sau khi đã tìm được Mon và ra làm nhà trên bãi biển: "An Tiêm
và Mon đắp lò, đào hố lấy đất nung nồi trã, bát, đọi. Đất đây quánh làm được
đồ ăn thức đựng, làm được bánh ngói, làm được cái khánh, con cá treo tết...
Mon đào đất thó, nặn khuôn, cùng Gái chơi đập pháo đất, tiếng pháo đất kêu
toác như nứa nổ suốt ngày. Mẹ con lấy cuốn trúc xâu lại lỗ tai để đeo khuyên
rồi đi lấy tổ cánh kiến về nhuộm răng cánh gián, nhuộm cả răng đen cho cả
nhà. Bố con đi tìm lá chàm về ngâm, đợi ngày nắng thì xăm chàm lại mình. Rồi
ai cũng có vòng tay, có khuyên vàng. Nàng Hoa thổi lửa rèn vàng kỳ cạch được
mấy bộ. Hai mẹ con ăn trầu bỏm bẻm, đeo khuyên, đeo vòng sáng ngời ra đứng
xem bố con An Tiêm và Gấu em vào sới, như tết ngày trước xem đánh vật ở

SVTH: NguyÔn ThÞ LuyÕn

19


ven sông Cái" [18, 384]. Chỉ trong một đoạn văn ngắn, tác giả đã cho thấy các
nhân vật, dù sống trong hoàn cảnh hết sức vất vả, thiếu thốn và đơn độc trên
đảo hoang, tách biệt với cộng đồng nhưng luôn có ý thức giữ gìn, khôi phục
những phong tục tập quán lâu đời của cha ông truyền lại. Ở đây, việc làm đồ
đất nung, pháo đất, ăn trầu, nhuộm răng, xăm mình, dùng đồ trang sức, đấu vật
ngày tết không chỉ là tập tục mà còn là biểu hiện của tình yêu, nỗi nhớ quê
hương, khát vọng về một cuộc sống bình yên và ý thức lưu giữ những nét văn
Trích đoạn Bức tranh thiên nhiên đẹp thơ mộng Vẻ đẹp trong sáng của tình người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status