Tiểu thuyết Vùng Sâu của Tô Nhuận Vỹ từ góc nhìn diễn ngôn - Pdf 40

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
______________________

LÊ THỊ THANH HUYỀN

TIỂU THUYẾT VÙNG SÂU CỦA TÔ NHUẬN VỸ
TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI – 2013


2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Quan niệm trước đây xem văn học là nghệ thuật ngôn từ, xem ngôn
từ chính là yếu tố quan trọng tạo nên đặc trưng riêng của văn học với các loại
hình nghệ thuật khác. Cách tiếp cận này hầu như chỉ tập trung chú ý vào đặc
trưng văn học, vào tính thẩm mĩ của văn học, mà thường đối lập văn học với ý
thức hệ xã hội. Lí thuyết diễn ngôn xem văn học là một diễn ngôn do các quy
tắc mang tính chất ý thức hệ của thời đại qui định. Nghiên cứu diễn ngôn tiểu
thuyết là một hướng nghiên cứu mới, một hướng tiếp cận khác. Nó không tập
trung nghiên cứu tiểu thuyết theo hướng xem xét phản ánh cái gì, việc phản
ánh có chân thực hay không mà chủ yếu đi vào nghiên cứu tác phẩm ở phương
diện tư tưởng, thế giới quan; nghiên cứu cách nhà văn kiến tạo nên thế giới

thức (Truyện ngắn 1973), Dòng sông phẳng lặng (Tiểu thuyết 1973 - 1982),
Ngoại ô (Tiểu thuyết 1983), Phía ấy là chân trời (Tiểu thuyết 1988). Sau hơn
20 năm, nhà văn mới trình làng cuốn tiểu thuyết Vùng sâu chủ yếu viết về vấn
đề hậu chiến.
Tiểu thuyết Vùng sâu hoàn thành vào tháng 10/2010 được giải thưởng
của Quỹ Phùng Quán với ghi nhận “Hấp dẫn và sâu sắc, phản ánh trung thực
nỗi đau nhân tâm thời hậu chiến ở Huế”. Tuy nhiên, đây là một tác phẩm mới,
chưa được công bố rộng rãi vì vậy những công trình nghiên cứu về tác phẩm
này chưa có. Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Tiểu thuyết Vùng sâu của Tô
Nhuận Vỹ - từ góc nhìn diễn ngôn là công trình nghiên cứu đầu tiên về tác
phẩm này.
2. Lịch sử vấn đề
Về nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam
Thuật ngữ diễn ngôn không chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam những năm
gần đây. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về diễn ngôn, trong đó có cả các


4

sách dịch và giáo trình biên soạn như: Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của
David Nunam [40]; Phân tích diễn ngôn của Gallian Brown và George Yule
[8]; Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban [6]; Đỗ Hữu
Châu với Đại cương ngôn ngữ học [10]; Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề
lý luận và phương pháp [21] của Nguyễn Hòa... Tuy nhiên, những công trình
này đều đặt diễn ngôn trong bối cảnh lý thuyết trước hậu cấu trúc, tiếp cận diễn
ngôn dưới góc độ dụng học, chú trọng phân tích ngôn ngữ, cắt nghĩa lời nói.
Một số nghiên cứu cụ thể như Khía cạnh văn hóa của ngôn ngữ [22] hay
Nghiên cứu diễn ngôn chính trị - xã hội (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt
hiện đại) [22] của Nguyễn Hòa, hay Tìm hiểu và phân tích diễn ngôn phê bình
[5] của Diệp Quang Ban... Những công trình trên không chỉ giúp làm rõ khái

xứ thuộc địa trong tác phẩm “Người tình” của Marguerite Duras [34]; Diễn
ngôn lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh [27] của
Nguyễn thị Diệu Linh; Ngô Thị Thanh với Diễn ngôn tính dục trong “The
diary of Shinjuku thief” của Nagisa Oshima [43]; Diễn ngôn trong truyện ngắn
kỳ ảo đầu thế kỷ [20] của Phạm Thị Minh Hòa; Diễn ngôn về giới trong
“Người tình” của Marguerite Duras [56] của Trần Thị Hoàng Yến,... Đặc biệt,
với những nghiên cứu sâu sắc trong dẫn nhập lý thuyết, hai công trình Diễn
ngôn thơ Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991 [24] của Trần Thiện Khanh và Thơ
Trần Dần – nhìn từ lý thuyết diễn ngôn của M. Foucault [19] của Đinh Minh
Hằng đã là những hướng dẫn quan trọng cho đề tài của chúng tôi.
Về tiểu thuyết Vùng sâu và tác giả Tô nhuận Vỹ:
Nhà văn Tô Nhuận Vỹ tên thật là Tô Thế Quảng, sinh ngày 25 - 8- 1941
tại Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Sau khi học các trường học sinh
miền Nam, ông vào Đại học Sư phạm Hà Nội, rồi vào chiến trường Trị Thiên
Huế. Sau chiến tranh ông từng là Tổng thư kí hội văn nghệ Bình Trị Thiên,
Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Hiện nay là giám đốc Sở Ngoại Vụ Thừa
Thiên Huế. Tiểu thuyết Vùng sâu ra đời sau một thời gian dài ấp ủ và thai


6

nghén. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã từng “bật mí” rằng, đó chính là tiểu thuyết
“Mưa rơi trên cầu”, ông bỏ dở rồi làm lại vì những nhân vật mà ông đề cập có
một thực tế cuộc sống sâu sắc hơn, cần phải có những trang viết xứng tầm.
Tiểu thuyết Vùng sâu có chủ đề, luận đề rất quan trọng, trong đó đề cập đến sự
vô ơn đối với những người có công. Dù chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm
nhưng đây vẫn là vấn đề nhức nhối. Do đây là một tác phẩm mới, chưa được
công bố rộng rãi nên những bài viết nghiên cứu, phê bình về tác phẩm này
chưa nhiều.
3. Mục đích nghiên cứu

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thao tác như so sánh, thống kê, phân
tích tổng hợp...để rút ra những luận điểm đặc trưng và khái quát nhất cho vấn
đề.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu tác phẩm Vùng sâu dưới góc
nhìn diễn ngôn. Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng rằng đây sẽ là
một đóng góp nhỏ vào việc ứng dụng các lý thuyết mới trong việc phân tích và
tìm hiểu những diễn ngôn cụ thể.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tham khảo, Nội dung của
luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về diễn ngôn và trường tri thức chi phối diễn ngôn
trong tiểu thuyết Vùng sâu
Chương 2: Diễn ngôn thế tục trong tiểu thuyết Vùng sâu
Chương 3: Diễn ngôn chấn thương trong tiểu thuyết Vùng sâu


8

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ DIỄN NGÔN VÀ TRƢỜNG TRI THỨC CHI PHỐI
DIỄN NGÔN TRONG TIỂU THUYẾT VÙNG SÂU
1.1. Khái quát về diễn ngôn
Thời gian gần đây, khái niệm diễn ngôn đã được sử dụng khá rộng rãi ở
nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực nghiên cứu văn học, song nội hàm của nó
thì vẫn chưa được làm sáng tỏ. Nhiều nhà khoa học xác nhận đó là khái niệm
còn bỏ ngỏ, mỗi người nghiên cứu sử dụng theo những cách biểu hiện riêng
của mình, người đọc phải dựa vào ngữ cảnh để hiểu cách dùng trong từng
trường hợp cụ thể. Vì thế, việc tìm cách xác định nó vẫn là một đòi hỏi bức

của Nguyễn Thị Ngọc Minh – một trong những tác giả nghiên cứu và giới thiệu
lí thuyết diễn ngôn mới vào Việt Nam: “Con đường thông minh nhất khi tiếp
cận thuật ngữ này là đặt nó vào những bối cảnh, nét nghĩa nào được khai triển
và sáng tạo thêm.”. Theo đó, tác giả đã khái quát và đưa ra ba hướng tiếp cận
định nghĩa, chúng tôi xin lược trích lại như sau:
1.1.1.1. Hướng tiếp cận ngôn ngữ học
Nền tảng của hướng tiếp cận ngôn ngữ học về diễn ngôn là những luận
điểm của F.de Sausure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Sự ra đời của
cuốn giáo trình này đã đánh dấu một bước ngoặt trong nghiên cứu ngôn ngữ:
chuyển từ nghiên cứu sự biến đổi của ngôn ngữ qua các thế hệ sang nghiên cứu
bản chất của ngôn ngữ như một hệ thống tĩnh tại, khép kín. Trong công trình
này, Saussure phân biệt ngôn ngữ và lời nói. Ngôn ngữ là một hệ thống, một
kết cấu tinh thần trừu tượng, khái quát trong khi lời nói là sự vận dụng ngôn
ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể, bởi các cá nhân cụ thể. Ngôn ngữ là bản thể
xã hội, thuộc về cộng đồng trong khi lời nói thuộc về cá nhân. Ngôn ngữ là
những cấu trúc tiên nghiệm và bất biến trong khi lời nói là bình diện sinh


10

thành. Ông chỉ ra đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, sản
phẩm của xã hội kết đọng lại trong óc mỗi người chứ không phải là lời nói.
Sự đối lập lời nói/ ngôn ngữ trong quan điểm của Saussure đã làm nền
tảng cho sự phân biệt giữa discourse (diễn ngôn) và text (văn bản). Văn bản
(text) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn (discourse) là
cấu trúc lời nói mang tính động. Trên cơ sở đối lập này, vào những năm 1960,
ngôn ngữ học đã rẽ sang hai hướng: một hướng đi sâu nghiên cứu cấu trúc nội
tại của các văn bản như một hệ thống chỉnh thể, khép kín và biệt lập và hướng
còn lại, chuyên nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn trong mối quan hệ với ngữ cảnh
phát ngôn, nhân vật phát ngôn... Cả hai khuynh hướng này đều được hình

hai trục thời gian: trục vốn có của văn bản tác phẩm và trục thời gian của sự
kiện, nhân vật hư cấu trong một thế giới vốn được tổ chức phức tạp hơn nhiều,
và cuối cùng là cách nhìn mà từ nó các sự kiện được tri giác); phương diện cú
pháp (các cấu trúc văn bản như sự tổ chức thời gian, tổ chức không gian) [53].
Trong diễn ngôn tự sự (Narrative discourse), trên cơ sở phân biệt “discourse”
và “story”, G.Gennette cho rằng diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày một câu
chuyện. Tác giả đã phân chia diễn ngôn tự sự thành các phạm trù ngữ pháp
như: thời, thức, và giọng. Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ
giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa hoạt động kể và câu chuyện [17].
Cũng trong giai đoạn này, khái niệm diễn ngôn bắt đầu được sử dụng
rộng rãi và đặc biệt trở thành một khái niệm trung tâm trong trường phái phân
tích diễn ngôn (hay còn gọi là nghiên cứu diễn ngôn), một hướng nghiên cứu
có phạm vi và ảnh hưởng rộng rãi, bao trùm rất nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ
học, xã hội học, tâm lý xã hội học, nghiên cứu văn học...
Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Trong cách hiểu ngắn gọn nhất, phân
tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích
ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi
chiếu... Nếu như ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt


12

lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật
mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố
ngoài văn bản (hay còn gọi là ngôn vực). Các yếu tố này bao gồm trường
(field) (hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn), thức (mode) (vai trò của ngôn ngữ
trong tình huống), không khí chung (tennor) (các vai xã hội trong giao tiếp).
Như vậy là, dưới cái nhìn của các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của
con người và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều liên quan đến ngôn ngữ, và có
thể được tìm hiểu như một hệ thống gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với

Bởi thế, Bakhtin nhấn mạnh, đối thoại là bản chất của diễn ngôn. Mỗi người
nói không phải là người nói đầu tiên, mà đều là người trả lời, là người đối thoại
với hàng ngàn người trước đó. Người nghe không phải là người lắng nghe một
cách thụ động mà là người chủ động hồi đáp. Mỗi đối tượng của phát ngôn đều
đã từng được bàn bạc, soi sáng, đánh giá nhiều lần, theo những cách khác nhau,
hay nói cách khác, các quan điểm, thế giới quan, các xu hướng khác nhau giao
cắt, tán đồng, đối địch với nhau ngay trên đối tượng ấy.
Trong thực tế, các phát ngôn thường cấu kết với nhau và được tổ chức
trong những hình thức ổn định mà ông gọi là các thể loại lời nói. Thể loại lời
nói là những loại hình phát ngôn tương đối bền vững, được sản sinh ra trong
một phạm vi sử dụng ngôn ngữ cụ thể, là một chỉnh thể bao gồm ba bình diện:
nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu. Bằng phạm trù thể loại lời nói,
Bakhtin đã thể hiện sự phê phán của ông đối với phong cách học truyền thống
và đề xuất, muốn nghiên cứu phong cách ngôn ngữ hay phong cách cá nhân,
không thể không đi sâu tìm hiểu các thể loại lời nói. Bởi “thực chất phong cách
ngôn ngữ hay phong cách chức năng chẳng phải là gì khác, mà chính là phong
cách thể loại ở những lĩnh vực nào đó trong hoạt động giao tiếp của con
người”, và “mọi thay đổi lịch sử của các phong cách ngôn ngữ đều gắn với sự
thay đổi của các thể loại lời nói” [5].


14

Như vậy, nếu phát ngôn mang đậm sắc thái cá nhân, thể hiện phong cách
của các chủ thể phát ngôn khác nhau, thì thể loại lời nói đại diện cho phong
cách ngôn ngữ của mỗi thời đại, mang tính chất cộng đồng, xã hội, là cái có
trước, chi phối phát ngôn của các cá nhân. Mối liên hệ giữa phát ngôn như là
đơn vị lời nói của các thể và thể loại lời nói như là cái kho lưu trữ giữ các phát
ngôn của cộng đồng, thời đại cũng cho thấy bản chất đối thoại của diễn ngôn/
lời nói. Qua mối quan hệ tác động giữa hai yếu tố này, Bakhtin nhấn mạnh tính

nhà lịch sử, nhà văn hóa học, nhà triết học, chính trị học hay xã hội học. Những
vấn đề mà ông đặt ra cũng như cách thức tư duy của ông đã làm xô lệch đường
phân giới giữa các ngành khoa học, và làm điểm tựa cho sự phát triển của
nhiều ngành khoa học mới. Khái niệm diễn ngôn tuy không được giới thuyết
một cách hệ thống trong một công trình lý thuyết cụ thể nào của ông, song lại
là một mắt xích, một chìa khóa quan trọng đến mức nếu không hiểu khái niệm
này, thì người đọc khó có thể tiếp cận toàn bộ các trước tác khổng lồ với những
tư tưởng khá dị biệt của ông. Tuy nhiên, bởi không thể tiếp cận toàn bộ các
công trình nghiên cứu phức tạp của Foucault, nên chúng tôi chủ yếu tóm lược
và diễn giải những luận điểm chính trong quan niệm của ông về diễn ngôn dựa
trên những tổng thuật có uy tín, và tiểu luận Trật tự diễn ngôn - một tiểu luận
tập trung rất nhiều những tư tưởng quan trọng của Foucault về thuật ngữ này.
Theo Sara Mills trong Discourse, có thể thấy ba cách định nghĩa khác
nhau về diễn ngôn trong các trước tác của Foucault. Thứ nhất, diễn ngôn được
coi là tất cả các nhận định nói chung, đó là tất cả các phát ngôn hoặc văn bản
có nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực. Thứ hai, diễn ngôn là
một nhóm các diễn ngôn cụ thể, được quy ước theo một cách thức nào đó và có
một mạch lạc hoặc một hiệu lực nói chung, “được nhóm lại với nhau bởi một
áp lực mang tính thiết chế nào đó, bởi sự tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay
bởi chúng cùng hành động theo một cách gần giống nhau” [32]. Ví dụ, diễn


16

ngôn nữ giới là một nhóm các diễn ngôn có chung một hiệu lực là nhằm phản
kháng lại diễn ngôn về phụ nữ của đàn ông, diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc là
nhóm các diễn ngôn có chung một hiệu lực là áp đặt quyền lực thực dân lên
những xứ sở thuộc địa... Thứ ba, diễn ngôn là một thực tiễn sản sinh ra vô số
các nhận định và chi phối việc vận hành của chúng [32].
Quan niệm thứ ba về diễn ngôn là quan niệm có ảnh hưởng lớn nhất đến

một nạn nhân thụ động và bất lực của xã hội (trong Người con gái Nam Xương,
người phụ nữ chỉ có cách tự vẫn để bảo toàn danh tiết, trong lịch sử, đầy rẫy
những câu chuyện nói rằng khi nhà vua bị băng hà, các cung nữ đều bị chôn
sống...); miêu tả người phụ nữ như một đối tượng tri thức hoàn toàn thụ động,
im lặng, hay nói cách khác tiếng nói của họ gần như bị tẩy xóa khỏi toàn bộ
nền văn hóa trung đại.
Như vậy, ba cách tiếp cận ngôn ngữ học, phong cách học và xã hội học
này đã cung cấp ba cách định nghĩa khác nhau về diễn ngôn: diễn ngôn như là
cấu trúc của ngôn ngữ/lời nói, diễn ngôn như là lời nói – tư tưởng hệ, và diễn
ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực. Ba quan niệm
này nảy sinh trên nền tảng những cách cắt nghĩa khác nhau về bản chất, vai trò
của ngôn ngữ. Nếu ngôn ngữ học được phát triển trên nền tảng tư tưởng của
Saussaure nhấn mạnh đến tính hệ thống, khép kín, tĩnh tại của diễn ngôn thì
các nhà tư tưởng như M. Bakhtin, M. Foucault lại khẳng định tính chất sinh
thành, đa dạng, năng sản của diễn ngôn. Nếu Bakhtin đặc biệt chú ý đến tính
liên chủ thể của diễn ngôn thì Foucault đề cập đến tính phi chủ thể của diễn
ngôn, sự biến mất của chủ thể người trong mê cung của các diễn ngôn. Ba quan
điểm tiếp cận này đều có sức lan tỏa và ảnh hưởng rất lớn đến gần như toàn bộ
lý thuyết văn học và ngôn ngữ trong thế kỉ XX.


18

1.1.2. Diễn ngôn theo Foucault
1.1.2.1. Quan niệm diễn ngôn của Foucault
Foucault quan niệm về sự đối đầu thường trực giữa ham muốn và thiết
chế: ham muốn coi diễn ngôn là một cái gì đó trong suốt, bình yên, có độ mở
vô tận, nơi những người khác đáp lại trông chờ của ham muốn, nơi các chân lý
lần lượt tự mình đứng dậy, ham muốn chỉ cần làm một việc là thả mình mặc
cho nó đưa đi như một con thuyền trên mặt nước, trong khi đó với thiết chế thì

về nhà tâm lí học, kẻ tội phạm nói về nhà tội phạm học, người bệnh nói về bác
sĩ, điều đó cũng có nghĩa là quyền được phát ngôn không thuộc về họ, những gì
họ nói ra đều không phù hợp với chuẩn tri thức, là những kẻ không có quyền
lực. Quyền lực chủ yếu vẫn được tạo ra qua sự vận hành ngôn ngữ.
Chính con người tạo ra ý nghĩa của thế giới và lọc thế giới qua ngôn
ngữ. Con người tạo ra các kí hiệu, các diễn ngôn, các mã, đến lượt mình, các
diễn ngôn lại tạo hình cho cấu trúc xã hội. Cũng có thể nói như vậy đối với
ngôn ngữ, ngôn ngữ tạo ra hệ tư tưởng thống trị, rồi đến lượt mình hệ tư tưởng
thống trị lại tạo ra các cá nhân. Chẳng hạn các nhà tâm lý học, tâm thần học tạo
ra diễn ngôn về chứng điên, định nghĩa về chứng điên, rồi lại những diễn ngôn
về chứng điên đó - trong quá trình vận hành - sẽ ngày càng có quyền có lực với
con người, kể cả nhóm người tạo ra chúng. Foucault chú ý đến vai trò của diễn
ngôn trong việc chuẩn hóa, và thiết lập những quan hệ quyền lực đối với con
người. Quyền lực có sức mạnh tác động, điều khiển hành động của con người.
Con người, với tính cách chủ thể, được tạo ra bởi quyền lực và các cơ chế
khách thể hóa của sự chuyển hóa.
Quan điểm của Foucault được các nhà hậu cấu trúc phát triển, với xác tín
cho rằng trong xã hội hiện đại có sự đấu tranh giành “quyền lý giải” giữa các
hệ thống tư tưởng khác nhau. Do đoạt được phương diện thông tin đại chúng,
hệ tư tưởng thống trị, đã áp đặt ngôn ngữ và lối nghĩ của mình cho các cá nhân,
chính hệ tư tưởng không để cho cá nhân đó có được phương thức phù hợp để tổ


20

chức lấy kinh nghiệm sống của bản thân nó bằng cách tước mất ngôn ngữ cần
thiết của nó. Chủ nghĩa hậu cấu trúc nhận thấy ngôn ngữ bị đồng nhất với tư
duy, ý thức của con người bị đánh đồng với văn bản, nội dung thông báo bị
đồng nhất với hình thức thông báo.
Foucault đã vạch ra bản chất quyền lực nằm ẩn sâu dưới những lớp áo

bác sĩ đối với bệnh nhân, cuộc nói chuyện của ông chủ đối với thư kí, trong bài
giảng của thầy giáo đối với học sinh... Quyền lực không phải chỉ là sự trấn áp
từ bên trên mà còn là sự phản kháng từ bên dưới, điều này được Foucault phát
biểu qua mệnh đề nổi tiếng: “ở đâu có quyền lực, ở đó có đấu tranh” [32].
Quyền lực không phải chỉ hiện hữu bằng pháp luật mà xuyên thấm và điều
khiển cách tư duy và hành xử, cách nói năng giao tiếp của con người. Foucault
cụ thể hóa sự hiện hữu của quyền lực bằng hình ảnh nhà tù hình tròn, nơi đó,
tất cả các phạm nhân đều cảm thấy bị giám sát bởi một con mắt vô hình. Ở bất
cứ nơi đâu, lúc nào, ta cũng có thể nhận thấy bàn tay vô hình của quyền lực, cái
áp đặt và kiểm soát chủ thể trong từng thời khắc.
Foucault chỉ ra mối quan hệ phức tạp giữa diễn ngôn và quyền lực. Ông
nói: “Diễn ngôn có thể vừa là một công cụ, vừa là hệ quả của quyền lực; đồng
thời, cũng là một vật cản, một khối chướng ngại vật, một mũi kháng cự và một
điểm bắt đầu cho chiến lược đấu tranh. Diễn ngôn làm lan truyền và sản sinh
quyền lực, nó củng cố chính nó, nhưng cũng hủy hoại nó và phơi bày nó, làm
cho nó yếu đi và khiến nó có thể gây trở ngại cho chính nó” [32]. Ông nghe
thấy trong một diễn ngôn sự xung đột và giao tranh giữa ham muốn và thiết
chế. Và ông nhận thấy trong quá trình tạo lập, vận hành của diễn ngôn, sự can
thiệp của bàn tay quyền lực: những nguyên tắc loại trừ, sự bình luận thực chất
là những cách thức chi phối của quyền lực đối với tư duy và phát ngôn của con
người.
Foucault cho rằng tri thức là sản phẩm được tạo ra bởi các diễn ngôn. Và
bởi đằng sau diễn ngôn là quyền lực, cho nên, tri thức mà chúng ta có là kết


22

quả của các mâu thuẫn về quyền lực. Và diễn ngôn là chiến trường nơi diễn ra
các cuộc giao tranh nhằm giành quyền phát ngôn chân lý, quyền tuyên bố cái gì
được coi là tri thức. Toàn bộ tri thức mà chúng ta có, thực chất là kết quả của

đó để có thể tư duy về một số chủ đề nhất định” [32]. Về mặt chức năng, tri
thức hệ có vai trò như “một thứ khung khổ vừa cho phép con người nhận thức
thế giới, vừa giới hạn tư duy con người, đồng thời nó là một bộ lọc” [33]. Như
trong bài viết về nghệ sĩ Trịnh Thị Minh-Hà, Hoàng Ngọc Tuấn đã chỉ ra tri
thức hệ chi phối nhận định của con người về một hiện tượng:
“Trịnh Thị Minh-Hà là một nghệ sĩ Mỹ hay một nghệ sĩ Việt Nam?
- Nếu chị là một người nghệ sĩ tầm thường, Chị hẳn bị xem là nữ nghệ sĩ
Việt nam thuộc về cộng đồng Việt ở Mỹ.
-Nếu chị là một nghệ sĩ trung bình và đạt được chút ít công nhận từ
chính mạch của Mỹ, chị hẳn bị xem là một nữ nghệ sĩ Mỹ gốc Việt.
- Nếu chị là một nghệ sĩ trên trung bình và đạt được một vài công nhận
đáng kể trong chính mạch của Mỹ, chị hẳn được xem là nữ nghệ sĩ Mỹ.
- Nếu chị là một nghệ sĩ ưu tú và đạt được sự sông nhận của quốc tế, chị
hẳn được xem là nghệ sĩ Mỹ” [2, tr. 20].
Trong phân tích này, chữ nữ (vấn đề giới) và chữ Việt Nam (vấn đề
chủng tộc) bị thay đổi dần theo cấp bậc tài năng của người nghệ sĩ, từ đó cho
thấy tác động của diễn ngôn nam quyền và diễn ngôn thuộc địa tới tri thức cụ
thể như thế nào.
Foucault còn cho rằng tri thức hệ có sự đứt gãy, nó khiến cho cái được
coi là tri thức ở một thời điểm này lại không được coi là tri thức ở một thời
điểm khác. Ông đưa ra ví dụ minh họa về ý nghĩa được gán cho các sự kiện
trong mối quan hệ với một trật tự thần thánh: Ở châu Âu thời hiện đại sơ kỳ,
mọi sự kiện đều được diễn dịch theo một hệ thống tư tưởng kết nối trần thế với
một trật tự siêu nhiên hoặc tôn giáo. Do đó, cái mà bây giờ được xếp vào nhóm
các hiện tượng tự nhiên, như một cơn bão lớn chẳng hạn, vào thời đó, sẽ được


24

phân loại theo ý nghĩa của nó trong cái hệ thống tượng trưng lớn hơn này, có

tạo bởi hoạt động của trường sử dụng mà nó được định vị trong đó”.
Foucault cho rằng nhận định có vai trò là đơn vị cấu thành nên diễn
ngôn. Nhận định là những phát ngôn có một hiệu lực thiết chế nào đó, được
hiệu lực hóa bằng một hình thức quyền uy nào đó. Và hiệu lực thiết chế, quyền
uy bên trong, đứng sau nhận định mới chính là cái khiến cho nhận định đó có
được chấp nhận hay không.
Thứ ba là các diễn ngôn. Các diễn ngôn là tập hợp các nhận định được
phê chuẩn, mang một thứ lực được định chế hóa nào đó, điều đó có nghĩa là
chúng có ảnh hưởng sâu sắc đến cách mà cá nhân hành động và suy nghĩ. Cái
tạo nên biên giới của một diễn ngôn rất không rõ ràng. Tuy nhiên, ta có thể nói
rằng các diễn ngôn là các nhóm nhận định có một thứ lực giống nhau – chúng
được nhóm lại với nhau bởi một áp lực định chế nào đó, bởi sự tương tự giữa
xuất xứ và bối cảnh hay bởi chúng cùng hành động theo một cách gần giống
nhau. Ví dụ, diễn ngôn về nữ tính thuộc tầng lớp trung lưu ở thế kỷ XIX bao
hàm một loạt những nhận định đồng chất (chẳng hạn, những phát ngôn, văn
bản, điệu bộ, hành vi được chấp nhận như là sự mô tả bản chất người phụ nữ
thời Victoria: Khiêm cung, giàu trắc ẩn, vị tha) và tạo nên những giới hạn mà
người phụ nữ trung lưu có thể hiện thực hóa cảm quan của chính họ về bản sắc.
Có những diễn ngôn khác thách thức tri thức này (chẳng hạn, các diễn ngôn
của chủ nghĩa nữ quyền) nhưng diễn ngôn về tính nữ này là thứ tri thức đã
được phê chuẩn bởi các thiết chế trong thời đại Victoria - nhà Thờ, hệ thống
giáo dục, v.v... Thứ tri thức này cùng tác hoạt với các thiết chế đó để đặt ra
ranh giới của những hình thức khả hữu về tính nữ của tầng lớp trung lưu.
Thứ tư là thư khố. Thư khố là tập hợp các diễn ngôn nhằm giới hạn cái
gì được nói, đáng để biết và nhớ. Thư khố là cái kho lưu trữ những từ vựng, cú



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status