BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thu Thủy
TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ - TỰ TRUYỆN
CỦA NGUYÊN HỒNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI
TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thu Thủy
TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ – TỰ TRUYỆN
CỦA NGUYÊN HỒNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI
TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN NGHỆ THUẬT
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2014
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG ............................................................................................15
1.1. Tự truyện, hồi kí - tự truyện như là những loại hình diễn ngôn .........................15
1.1.1. Khái niệm hồi kí; tự truyện ; hồi kí - tự truyện ...........................................15
1.1.2. Phương pháp nghiên cứu loại hình và việc phân xuất các loại hình diễn
ngôn nghệ thuật ..........................................................................................24
1.2. Diễn ngôn nghệ thuật và diễn ngôn tự truyện, diễn ngôn hồi kí - tự truyện ......26
1.2.1. Một số hướng tiếp cận diễn ngôn và hướng tiếp cận của tác giả luận văn .27
1.2.2. Sự hội tụ cái tôi tác giả, chủ thể viết, chủ thể kể trong diễn ngôn tự truyện,
hồi kí - tự truyện ........................................................................................33
1.2.3. Đặc điểm nội dung, cảm hứng, thế giới nghệ thuật của tự truyện, hồi kí - tự
truyện từ góc nhìn diễn ngôn .....................................................................38
1.2.4. Đặc điểm ngôn từ và phương thức thể hiện nội dung, cảm hứng của tự
truyện, hồi kí - tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn ........................................41
1.2.5. Sự chi phối của thời - không gian trong tự truyện, hồi kí - tự truyện đối với
văn bản nghệ thuật: nét đặc trưng thi pháp thể loại nổi bật .......................45
1.3. Tự truyện, hồi kí - tự truyện trong sáng tác của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô
Hoài.....................................................................................................................47
1.3.1. Tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng ..........................................47
1.3.2. Tự truyện của Hồ Dzếnh .............................................................................48
3.2.2. Diễn ngôn nhân vật ....................................................................................116
3.2.3. Vị thế tiếng nói của cái tôi tự truyện và sự đan bện, hòa phối các lớp diễn
ngôn trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của ba nhà văn ..........................121
3.3. Xu hướng liên kết, tổng hợp và lấn át trong tương tác thể loại ........................126
3.3.1. Xu hướng tổng hợp hình thức tự sự cỡ nhỏ với tự sự cỡ lớn ....................126
3.3.2. Xu hướng liên kết, tổng hợp tự truyện với tiểu thuyết ..............................128
3.3.3. Xu hướng tổng hợp và lấn át giữa tự truyện và hồi kí ..............................131
3.3.4. Xu hướng xâm lấn, mở rộng của chất thơ .................................................135
Tiểu kết chương 3 ......................................................................................................138
KẾT LUẬN ................................................................................................................139
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................142
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tự truyện, hồi kí - tự truyện là hai thể loại văn học không mới nhưng khi
nhìn vào thực tiễn sáng tác cũng như thực tiễn nghiên cứu văn học ở Việt Nam thì có
thể xem là đây là những thể loại ít được chú trọng. Trong những năm trở lại đây, cùng
với sự nở rộ của thể loại tự truyện trên văn đàn là nhu cầu cắt nghĩa lại đặc trưng của
thể loại văn học này. Cuộc tranh luận thực chất có tồn tại hay không thể loại tự truyện
trong văn học Việt Nam đã khơi dậy nhiều vấn đề cần bàn bạc. Thêm vào nữa, đường
biên thể loại giữa tự truyện và hồi kí, tự truyện và tiểu thuyết tự thuật, về xu hướng
tổng hợp, liên kết, lấn át trong tương tác thể loại của những tác phẩm chuyên viết về
“người thật việc thật”,… vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ. Trung tâm của khái niệm tự
truyện, hồi kí - tự truyện là vấn đề “sự thật” cũng đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Những “nhập nhằng” về thể loại và “lỗ hổng” về tri thức xung quanh khái niệm “sự
riêng về quá khứ của mình. Đặc biệt, trong khuôn khổ đặc điểm thể loại tự truyện và
hồi kí - tự truyện, họ đã có những nét riêng trong cách thức xây dựng tác phẩm, trong
cách kể chuyện,… Chính vì lẽ đó, mỗi trang truyện là một thế giới riêng, độc đáo,
không lặp lại ở bất kỳ ai. Nghiên cứu tự truyện và thể loại kế cận nó : hồi kí - tự truyện
của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài dưới góc độ diễn ngôn nghệ thuật sẽ mang lại
một cái nhìn mới, giúp cắt nghĩa lại những vấn đề đang bỏ ngõ và tìm ra phong cách
cũng như sự biến đổi trong quá trình sáng tác của ba nhà văn.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu lý thuyết về vấn đề diễn ngôn ở Việt Nam
Nghiên cứu diễn ngôn là một hướng nghiên cứu khá mới xuất hiện vào thế kỷ
XX ở phương Tây và bắt đầu nở rộ, ảnh hưởng đến khoa nghiên cứu văn học của các
nước khác trên thế giới. Lý thuyết về diễn ngôn đã được nhiều nhà nghiên cứu bàn
luận và hoàn thành bằng nhiều công trình được công bố. Ở Việt Nam, lý thuyết về
nghiên cứu diễn ngôn chủ yếu được dịch và giới thiệu ở lĩnh vực ngôn ngữ học. Có thể
kể đến những công trình như Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown và George Yule
do Trần Thuần dịch. Riêng về lý luận văn học, có một số tác giả đã viết những bài viết
xác định đối tượng nghiên cứu cũng như các hướng nghiên cứu diễn ngôn. Có thể kể
đến một số bài viết sau:
3
Trần Đình Sử trong bài viết Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm
nay đã cho người đọc một số tri thức về khái niệm diễn ngôn, tìm hiểu rõ căn nguyên
ra đời của vấn đề diễn ngôn và vai trò quan trọng của diễn ngôn trong tu từ học và thi
pháp học. Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh đến những luận điểm quan trọng về diễn
ngôn dưới cái nhìn của ba nhà nghiên cứu đại diện cho ba lĩnh vực có liên quan đến
khái niệm này: F.de Sausure (ngôn ngữ học), M.Bakhtin (thi pháp học), M.Foucault
(xã hội học).
đã được vận dụng khá rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học lớn nhỏ
trong cả nước. Có thể kể đến một số công trình nổi bật sau:
Luận án Tiến sĩ mang tên Kí như một loại hình diễn ngôn (2013) của Nguyễn
Thị Ngọc Minh đã vận dụng khái niệm diễn ngôn để phân tích đặc điểm thể loại văn
học kí nói chung và kí trong văn học Việt Nam nói riêng. Bằng công trình nghiên cứu
của mình, tác giả đã đưa ra những nhận xét thích đáng về thể loại kí, đặc biệt là sự tác
động, chi phối của mã sự thực và mã thể loại đã tạo nên những đặc trưng riêng của thể
kí: “Kí là loại hình văn học có mã thể loại kép: vừa chịu sự chi phối của những mã
ngoài nghệ thuật, vừa chịu sự chi phối của mã thể loại nghệ thuật. Mã thể loại ngoài
nghệ thuật đã khiến cho trong bộ khung cấu trúc của kí có tồn tại những mã thể loại
biên niên, kỉ truyện, khảo cứu lịch sử,… Mã thể loại nghệ thuật lại khiến cho các sự
kiện trong kí được tổ chức thành một khung truyện kể, có một câu chuyện, một ý nghĩa
thống nhất, các sự vật, sự kiện được khắc họa sinh động bằng các chi tiết, các đoạn
miêu tả chân dung, phong cảnh…, lời văn của kí là lời văn nghệ thuật được lạ hóa, có
một giọng điệu cảm xúc riêng, tất cả những yếu tố làm nên sức sống, sức hấp dẫn và
giá trị lâu bền của kí” [55].
Nguyễn Thị Hải Phương trong luận án Tiến sĩ Tiểu thuyết Việt Nam đương đại
nhìn từ góc độ diễn ngôn (2012), đã vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu tiểu
thuyết Việt Nam đương đại. Trong công trình này, tác giả luận án đã chỉ ra hai khuynh
hướng cơ bản trong diễn ngôn tiểu thuyết đương đại đó chính là diễn ngôn thế tục và
diễn ngôn chấn thương. Trong mỗi phần, Nguyễn Thị Hải Phương đã vận dụng hướng
tiếp cận xã hội học của Foucault để nghiên cứu cơ chế văn hóa – xã hội chi phối lên
việc hình thành các khuynh hướng diễn ngôn đó, đồng thời cho thấy hệ thống nhân vật
được các tác giả xây dựng tương ứng.
5
Nguyễn Thị Ngọc Minh trong bài nghiên cứu Diễn ngôn về xứ thuộc địa trong
tác phẩm Người tình của M.Duras đã vận dụng khái niệm diễn ngôn để nghiên cứu các
đó, tác giả đã đi sâu khảo sát các lớp diễn ngôn cấu thành diễn ngôn của người kể
chuyện như diễn ngôn tả, diễn ngôn kể, diễn ngôn bình luận.
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình khác như: Diễn ngôn gián tiếp tự
do trong truyện ngắn Cá sống của Nguyễn Ngọc Thuần (Hoàng Tố Mai); Nghệ thuật
xây dựng diễn ngôn tình yêu trong tương quan giữa văn bản tiểu thuyết Tình yêu thời
thổ tả với tiểu sử tự truyện của G.G.Marquez (Phan Tuấn Anh); Quy ước diễn ngôn
văn chương giai đoạn 1986-1991 (Hồng Duy); Lớp văn bản ngôn từ của truyện ngắn
cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 nhìn từ góc độ lý thuyết diễn ngôn (Hoàng
Thị Thu Giang);...
Qua việc thống kê, phân tích, mô tả những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi
nhận thấy các tác giả chủ yếu vận dụng hướng nghiên cứu xã hội học (Nguyễn Thị Hải
Phương, Trần Văn Toàn, Phan Tuấn Anh,...) hoặc khai thác diễn ngôn theo khía cạnh
trần thuật với quy mô nhỏ như diễn ngôn người kể chuyện, diễn ngôn đối thoại, độc
thoại,... mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể những
yếu tố cụ thể chi phối đến quá trình tạo lập diễn ngôn hoặc vận dụng đồng thời các
hướng nghiên cứu diễn ngôn vào một tác phẩm cụ thể. Có thể nói, trong những công
trình trên, Kí như một loại hình diễn ngôn là công trình vận dụng hướng nghiên cứu
diễn ngôn một cách sâu rộng nhất, xác lập được đặc trưng thể loại kí dựa trên cơ sở
phân tích diễn ngôn. Mặc dù sự vận dụng hướng nghiên cứu diễn ngôn trong khoa học
nghiên cứu văn học ở Việt Nam chưa trở nên phổ biến, rộng rãi và thực sự sâu rộng.
Tuy vậy, những công trình trên đã định hướng cho chúng tôi rất nhiều trong việc triển
khai đề tài.
2.3. Các nghiên cứu về tự truyện, hồi kí - tự truyện Việt Nam và tự truyện,
hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài
Nghiên cứu về tự truyện và hồi kí - tự truyện cũng là một đề tài thu hút đối với
giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Phạm Ngọc Lan trong luận án Tiến sĩ Tự truyện trong văn học Việt Nam (2006)
là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về thể loại tự truyện trong văn học Việt
Nam. Tác giả luận văn đã xác lập nên khung thể loại tự truyện, đưa ra những nhận
hai góc độ. Thứ nhất, tác giả luận văn đã tiến hành nghiên cứu nghệ thuật tái hiện, tái
tạo hồi ức và tiếng nói của cái tôi. Thứ hai, tác giả tập trung tìm hiểu nghệ thuật trần
thuật với những phương diện chính như: kết hợp trần thuật theo diễn biến sự kiện và
8
trần thuật theo dòng hồi ức; sự hòa phối điểm nhìn; kỹ thuật giảm tốc, tăng tốc, đảo
thuật, dự thuật; kết hợp ưu thế của các loại diễn ngôn, phát huy sức mạnh ngôn từ và
đặc điểm giọng điệu trần thuật;…
Lê Thị Lan trong luận văn Thạc sĩ Thể loại tự truyện qua Những ngày thơ ấu của
Nguyên Hồng và Sống nhờ của Mạnh Phú Tư đã tiến hành nghiên cứu trên cơ sở so
sánh hai phong cách tiêu biểu trong làng văn học Việt Nam trong việc sử dụng chung
một thể loại để tái hiện lại hai số phận trẻ thơ có phần nào bất hạnh giống nhau. Về
mặt nội dung, tác giả đã đặt hai nhà văn với hai tác phẩm trên trục so sánh với những
tiêu chí: cảm hứng, cái nhìn hiện thực, sự khẳng định của cái tôi tác giả. Về mặt nghệ
thuật, tác giả đã tiến hành so sánh về kết cấu cốt truyện, nghệ thuật trần thuật và giọng
điệu, ngôn ngữ. Từ việc nghiên cứu theo hướng so sánh trên, tác giả đã chỉ ra được
những nét đặc trưng trong phong cách tự truyện của hai nhà văn, đồng thời phần nào
khái quát được những đặc điểm chung của thể loại tự truyện về cả phương diện nội
dung và nghệ thuật.
Còn có những công trình luận văn khác khai thác những khía cạnh khác nhau
trong tự truyện, hồi kí của Nguyên Hồng, Tô Hoài như Cái nhìn, không gian và thời
gian nghệ thuật trong hồi kí của Tô Hoài (Nguyễn Hoàng Hà); Nghệ thuật trần thuật
trong hồi kí của Tô Hoài (Lê Thị Hà); Hai phong cách hồi kí: Những ngày thơ ấu
(Nguyên Hồng) và Cỏ dại (Tô Hoài) (Phạm Thị Hiền); ... Ngoài những luận án, luận
văn trên, nghiên cứu tự truyện và hồi kí - tự truyện còn được thể hiện ở nhiều bài viết,
bài báo khác. Có thể kể đến như bài viết Tự truyện trong văn xuôi Đoàn Lê (Bùi Thanh
Truyền); Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn
Kháng (Đỗ Hải Ninh); Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn
chúng tôi vẫn chưa thấy có công trình nào trực tiếp tiếp cận tự truyện, hồi kí - tự
truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài theo hướng nghiên cứu diễn ngôn một
cách có hệ thống và toàn diện. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã đặt vấn đề tìm
hiểu: Tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài dưới góc
nhìn diễn ngôn nghệ thuật.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Bằng mô hình lý thuyết diễn ngôn nghệ thuật, chúng tôi mong muốn có thể
cắt nghĩa, lý giải vai trò, ý nghĩa của yếu tố “sự thật” được xem là cốt lõi, là hạt nhân
của thể loại tự truyện và hồi kí - tự truyện trong sáng tác của Nguyên Hồng, Hồ
10
Dzếnh, Tô Hoài. Từ đó, chúng tôi hướng tới việc nghiên cứu những yếu tố quyền lực,
những động cơ, mục đích, những yếu tố ngoài thể loại chi phối đến cách cảm, cách xây
dựng, cách kể về “sự thật” đó của mỗi tác giả. Tự truyện, hồi kí - tự truyện là những
thể loại tự thuật về quá khứ của mỗi tác giả. Tiếp cận những thể loại này theo hướng
diễn ngôn sẽ giúp chúng tôi trả lời những câu hỏi như: Tại sao chủ thể kể lại hướng sự
hồi tưởng về sự việc đó? Hồi tưởng về sự việc đó nhằm mục đích gì? Việc hồi tưởng
có đơn thuần để thỏa mãn nhu cầu nhận thức? Hồi tưởng về quá khứ đó có mối liên hệ
gì với hiện tại? Những yếu tố ngoài thể loại góp phần chi phối sắc thái diễn ngôn như
thể chế xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Qua đó, chúng tôi mong muốn có thể đem lại một
cách tiếp cận mới mẻ, rõ ràng hơn, góp phần lý giải phần nào những vấn đề mà giới
nghiên cứu còn tranh luận về thể loại này, góp phần hoàn thiện hơn những đặc trưng
nội dung của thể loại tự truyện, hồi kí - tự truyện.
3.2. Luận văn được thực hiện còn nhằm mục đích tìm ra dấu hiệu sự chi phối của
mã thể loại đến quá trình tạo tác diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện. Mã thể loại là
một cơ chế tác động kép đên quá trình tạo lập diễn ngôn. Trong đó, nó vừa quy định
ngòi bút sáng tạo phải tuân thủ những yêu cầu đặc trưng của thể loại vừa hướng tới sự
4.2. Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Để triển khai luận văn, chúng tôi đặt
những tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài trong hệ thống tự truyện của
Việt Nam và hệ thống các thể loại khác trong sự nghiệp sáng tác của ba nhà văn này .
Điều này giúp chúng tôi tìm hiểu và làm rõ các đặc điểm riêng, độc đáo, cách tân của
loại hình diễn ngôn nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng,
Hồ Dzếnh, Tô Hoài. Từ đó, tránh đưa ra những kết luận sai lệch, chủ quan.
4.3. Phương pháp phân tích diễn ngôn: Chúng tôi sử dụng hệ phương pháp
hình thức phân tích văn bản trong ngôn ngữ để phân tích tác phẩm thành các đơn vị
nhỏ hơn. Từ đó đặt ngôn ngữ trong hành động nói, trong bối cảnh giao tiếp sinh động
để giải quyết nội dung mà luận văn cần đạt. Đặc biệt là gắn diễn ngôn với hoạt động
giao tiếp của con người, từ đó truy tìm những yếu tố và quá trình, hệ quả chi phối đến
quá trình giao tiếp theo nghĩa rộng và quá trình kiến tạo diễn ngôn theo nghĩa hẹp của
nhà văn. Phương pháp phân tích diễn ngôn cũng giúp chúng tôi tìm hiểu cấu trúc, kĩ
thuật tạo tác diễn ngôn và đặc biệt là vai trò điều phối, tổ chức của chủ thể kể.
4.4. Phương pháp liên ngành văn học và ngôn ngữ: Bởi vì diễn ngôn ra đời
từ Ngữ học, sau đó được vận dụng vào nhiều ngành khoa học khác nhau. Văn học là
12
nghệ thuật ngôn từ, nó có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ học. Vận dụng phương
pháp liên ngành văn học và ngữ học giúp tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và ngôn
ngữ, qua đó làm cơ sở để tìm hiểu rõ và triển khai các luận điểm của luận văn.
4.5. Phương pháp so sánh: Trong quá trình triển khai luận văn, muốn làm rõ
hơn đặc điểm diễn ngôn nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên
Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, chúng tôi có so sánh họ với nhau và so sánh với một số tác
phẩm của những nhà văn khác trên cùng một trục chủ đề hoặc thể loại hoặc thời điểm
sáng tác,... Từ đó có cơ sở khẳng định nét độc đáo trong cách xây dựng diễn ngôn
nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của họ. Phương pháp so sánh cũng giúp
chúng tôi trong việc đối chiếu các khung thể loại tự truyện, hồi kí, tiểu thuyết, truyện
- Tô Hoài: Cỏ dại; Tự truyện ;Cát bụi chân ai; Chiều chiều
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn với tên “Tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô
Hoài dưới góc độ diễn ngôn nghệ thuật”, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những vấn đề
xoay quanh diễn ngôn tác phẩm về hai mặt nội dung và hình thức. Cốt lõi của đề tài là
khám phá quy trình, hệ quả chi phối của những yếu tố trong và ngoài thể loại, khách
quan và chủ quan đến nội dung và hình thức diễn ngôn đó, cách nhà văn nhìn nhận lại
quá khứ, đánh giá lại quá khứ và kể lại quá khứ ấy bằng con người của hiện tại.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG. Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày khái quát những tiền
đề lý thuyết là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu. Đó là lý thuyết về đặc điểm
của hai thể loại kế cận nhau : tự truyện và hồi kí - tự truyện; lý thuyết về nghiên cứu
diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn tự truyện và diễn ngôn hồi kí - tự truyện về các mặt
như nội dung, cảm hứng, các phương thức biểu hiện, ngôn từ, không - thời gian,… Và
một phần không thể thiếu đó chính là vị trí, vai trò của thể loại tự truyện, hồi kí - tự
truyện trong sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài.
Chương 2: MÃ NỘI DUNG DIỄN NGÔN TRONG TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ - TỰ
TRUYỆN CỦA NGUYÊN HÔNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI. Trong chương này,
chúng tôi tập trung nghiên cứu diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện của Tô Hoài, Hồ
Dzếnh, Nguyên Hồng về phương diện nội dung, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của yếu tố
“sự thật” cũng như các “quyền lực”, các yếu tố trong và ngoài thể loại đã chi phối đến
tái hiện những “sự thật” trong quá khứ đó. Trung tâm là sự chi phối của động cơ, mục
đích và các yếu tố có cơ chế tác động gián tiếp như thể chế kinh tế, xã hội, sắc tộc, tôn
giáo,... Chúng tôi sẽ đặt những diễn ngôn nghệ thuật trong tương quan với hoàn cảnh
Hồi kí là một thể loại văn học thuộc loại hình kí, ghi chép một cách chân xác
người thật việc thật, nó gắn liền với một thời điểm lịch sử xã hội nhiều biến động và
qua hồi kí, người đọc không chỉ hình dung được cuộc đời của nhân vật kể chuyện mà
còn có thể hình dung được một cách khái quát bức tranh xã hội, lịch sử thời kì ấy. Có
nhiều tài liệu đã đưa ra định nghĩa về thể loại này, có thể kể đến:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí, kể lại
những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng
kiến… Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính
xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật
kí. Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi kí lại gần
1
Vũ Tuấn Anh, Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại, TCVH số 9/1996, tr.28.
16
với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [23, tr.152]. Hồi kí giống với nhật kí ở hình
thức giãi bày, tâm sự, cách kể chuyện theo trình tự thời gian, chú ý đến các sự kiện
mang tính chất tiểu sử. Còn về phương diện chất liệu, tính xác thực, không sử dụng hư
cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, kí sự tư liệu lịch sử. Tuy
nhiên, khác với các thể loại vừa nhắc đến, hồi kí chỉ tái hiện lại những gì gây ấn tượng
sâu đậm trong lòng tác giả, chỉ kể lại những gì nằm trong tầm quan sát của chủ thể kể,
vì thế, những sự kiện trong hồi kí không thể chuẩn xác và toàn diện, đầy đủ như trong
các tư liệu gốc, các chứng tích. Hơn thế nữa, hồi kí là một thể loại văn học, đã là văn
thì dù ít hay nhiều, dù thể hiện qua phương diện không dễ nhận thấy đi chăng nữa thì
hồi kí cũng in đậm dấu ấn của tác giả, được thể hiện bằng phong cách ngôn ngữ văn
chương, một lối văn sinh động, hình tượng, biểu cảm.
Theo Từ điển văn học của Đỗ Đức Hiểu, hồi kí là “thuật ngữ chỉ một thể loại
nằm trong nhóm thể tài ký. Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể
hiểu, phân tích, nghiên cứu, lý giải do đâu mà có như vậy. Hơn nữa, những lý giải đó
còn phải thuyết phục người đọc.
1.1.1.2. Tự truyện
Cũng nằm trong hệ thống những thể loại viết về lịch sử - chuyện đời như một
“dòng chảy”, nhưng là thể trung gian giữa tự sự hư cấu và tự sự phi hư cấu, tự truyện
mang trong mình những đặc trưng thể loại riêng.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc thể loại
tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình…” [23, tr.389]. Có thể thấy, đặc trưng lớn nhất
của thể loại tự truyện đó chính là chủ thể trần thuật tự kể lại chính câu chuyện cuộc đời
mình.
Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên: “Tự truyện là những câu
chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả… Theo Lơjon, bởi vì, về
quá khứ, kỷ niệm bị xóa mờ với thời gian, vì tư duy khi viết tự truyện đã trải qua biết
bao cảnh đời, và vì các sự kiện được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà
trùng hợp với sự thật… Tự truyện không phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn,
mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết…” [29, tr.1905-1906]. Đây chính là
18
những căn cứ xác thực để xác lập sự khu biệt giữa tự truyện và các loại văn chân dung,
hồi kí.
Trong bài viết Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (Tản
Đà) – những bước đi đầu tiên của Tự truyện Việt Nam, Lê Tú Anh đã nêu ra ba quy
ước để một tác phẩm được xem là tự truyện, chúng tôi xin được tóm tắt lại:
1/ Tự truyện là chuyện đời của chính người viết. Có một lưu ý cho quy ước này,
chuyện đời của người viết phải là những chuyện có thực, là cuộc đời nhà văn đã
nghiệm sinh. Nói cách khác, tác giả tự truyện phải là con người hữu thể, đã sống thật.
2/ Người viết tự truyện phải đặt cái “tôi” của mình ở vị trí trung tâm tác phẩm để
tự quan sát, đào xới, lý giải bằng nhãn quan cá nhân. Nghĩa là, nhà văn viết tự truyện