Đặc điểm tiểu thuyết Trần Dần dưới góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật - Pdf 33

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
Mở đầu.................................................................................................................3
NỘI DUNG........................................................................................................12
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG.......................................................12
1.1. Tiểu sử và con người Trần Dần..........................................................12
1.2. Văn nghiệp của Trần Dần...................................................................19
1.3. Diễn ngôn............................................................................................29
Chương 2. DIỄN NGÔN KỂ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA.....................43
TRẦN DẦN...................................................................................................43
2.1. Khái quát về diễn ngôn kể..................................................................43
2.2. Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Trần Dần..................................45
2.3. Một số đặc sắc cơ bản của diễn ngôn kể trong tiểu thuyết của Trần
Dần.............................................................................................................50
....................................................................................................................72
Tiểu kết chương 2......................................................................................73
Chương 3. DIỄN NGÔN THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRẦN
DẦN...............................................................................................................74
3.1. Khái quát về diễn ngôn thoại..............................................................74
3.2. Hệ thống nhân vật trong diễn ngôn thoại...........................................78
3.3. Một số đặc điểm cơ bản của diễn ngôn thoại trong tiểu thuyết của
Trần Dần....................................................................................................80

1


2


Mở đầu


một cơn sốt trong văn chương. Dù trải qua nhiều thăng giáng trong số
phận, nhưng theo thời gian, càng ngày người ta càng nhận ra vị trí quan
trọng của “vị thủ lĩnh trong bóng tối” trong nền văn học Việt Nam hiện
đại. Tác phẩm của ông đưa lại một nguồn mạch mới cho nền văn học
nước nhà. Chính cái nguồn mạch mới này là một trong những lí do thu
hút chúng tôi tìm hiểu đề tài này. Sinh thời, Trần Dần viết một số cuốn
tiểu thuyết: Người người lớp lớp (in ngay sau giải phóng Thủ đô 1954),
Sứa (1960, viết về xã hội loài kiến), Cổng tỉnh (1994), Những ngã tư và
những cột đèn (1965 - 2011). Những tác phẩm đều được đánh giá cao
tạo trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Nó thể hiện sự chuyển mình
và tìm tòi những hình thức nghệ thuật của tác giả. Đọc và hiểu được
Trần Dần thực sự là một thách thức. Đây cũng là một thử thách và động
lực hấp dẫn người viết tìm hiểu đề tài này.
1.3. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếu thuyết Trần
Dần đại trên các phương diện thi pháp học, tự sự học, ngôn ngữ, phong
cách... nhưng nghiên cứu diễn ngôn tiểu thuyết thì hầu như chưa có. Việc
nghiên cứu diễn ngôn tiểu thuyết Trần Dần giúp ta tìm hiểu phong cách
thời đại, ý thức xã hội, cơ chể văn hóa, môi trường văn hóa của thời kì,
những nguyên tắc chi phối sáng tác trong từng giai đoạn của thể loại tiểu
thuyết. Từ đó, ta không chỉ cho ta thấy vẻ đẹp của ngôn ngữ trong hành
chức của nó mà còn góp phần tìm hiểu những nỗ lực cách tân của tác giả
Trần Dần trong một thể loại quan trọng của nền văn học.
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đặc điểm tiểu
thuyết của Trần Dần dưới góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật” với mong

4


muốn góp phần giải mã một tác phẩm chứa đựng những điều mới mẻ
trên nhiều phương diện, trong đó có diễn ngôn.

Thi pháp văn xuôi và Dẫn luận về văn chương kì ảo của Tz. Todorov…
Ngoài ra, cũng phải kể đến những công trình nghiên cứu về diễn ngôn
của các nhà nghiên cứu văn học trong nước, Ở mảng tư liệu này về cơ
bản, ta thấy chủ yếu là những bài viết nhỏ, lẻ giới thiệu quan điểm của
các nhà nghiên cứu diễn ngôn nước ngoài (chủ yếu là quan niệm của
M.Foucault) hoặc vận dụng quan điểm của tác giả đó để phân tích các
hiện tượng văn học. Chẳng hạn như bài viết : Bản chất xã hội- thẩm mĩ
của ngôn từ văn học của Trần Đình Sử, Những bậc tiên phong của tư
duy hậu hiện đại của Phương Lựu, Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi
hư cấu Viêt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 của Trần Văn Toàn, Thứ
nhận diện diễn ngôn hậu thực dân qua thực tiễn văn học Việt Nam thời
kì đổi mới của Đoàn Ánh Dương…. Nhìn chung, những ý kiến bàn về
diễn ngôn này còn ở tình trạnh tản mạn hoặc chủ yếu ở dạng thực hành
phân tích.
Trong nghiên cứu diễn ngôn ở tiểu thuyết, bài và công trình nghiên
cứu chưa nhiều. Những bài viết về vấn đề diễn ngôn của tiếu thuyết hiện
nay thì lại quá ít ỏi nếu không muốn nói là chưa có. Có lẽ vì khái niệm
diễn ngôn (discourse) chưa được giới thuyết rõ ràng nên mỗi nhà nghiên
cứu văn học lại hiểu theo một cách khác nhau. Nhìn chung, ban đầu các
nhà nghiên cứu văn học Việt Nam chủ yếu hiểu khái niệm diễn ngôn như
là khái niệm lời văn. Chính vì thế, khi bàn về diễn ngôn tiểu thuyết Việt
Nam hiện nay, họ mới chỉ dừng lại nghiên cứu khía cạnh lời văn, khía
cạnh ngôn từ là chủ yếu Đáng chú ý là những ý kiến bản về ngôn từ
trong Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 - khảo
6


sát trên nét lớn của Nguyễn Thị Bình. Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt
Nam thời kì đổi mới của Bích Thu. Tiểu thuyết đương đại của Bùi Việt
Thắng, Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn

Dương Tường trong Lời bạt Mùa sạch nhìn nhận Mùa sạch như
một bước ngoặt đánh dấu một độ chín mới trong phong cách đa bội Trần
Dần. Ông cho rằng một trong những điểm đặc sắc nhất của thi phẩm này
là tính chất ca dao - đồng dao như là vật liệu và cấu trúc nhạc giao hưởng
được thể hiện qua một tổ khúc lấy từ bốn từ “trong - sạch - sáng - mùa”
[11].
Như Huy với Tác phẩm Mùa sạch của Trần Dần qua góc nhìn
nghệ thuật ý niệm nhìn theo một hướng khác, khẳng định Mùa sạch là
một thi phẩm tiêu biểu của nghệ thuật ý niệm [23].
Trần Trọng Vũ trong Đau lòng Sổ bụi… những bức thư không gửi
không đi sâu vào một tác phẩm hay một nét phong cách sáng tạo đặc
trưng của Trần Dần, mà có cái nhìn khái quát toàn bộ sự nghiệp của ông
để thấy được tính tự sự qua “TÔI và CHO TÔI, THƠ và KHÁCH THƠ”,
quan niệm sáng tác mới của Trần Dần thể hiện qua “CHỮ và NGHĨA”,
“BÊN NÀY và BÊN KIA”. Bên cạnh việc nhận diện quan niệm sáng tạo
của Trần Dần, tác giả đi vào khám phá đời sống chiều sâu của NGƯỜI
THƠ, đưa đến những nhận định mang cảm thức nhân sinh sâu sắc [53].
Tháng 1/2011 tiểu thuyết “Những ngã tư và những cột đèn” chính
thức ra mắt độc giả sau 44 năm hoàn thành bản thảo. Tác phẩm ngay lập
tức được nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm. Dương Tường đọc
“Những ngã tư và những cột đèn” cứ tưởng đây là tác phẩm được viết
năm 2065 chứ không phải 1965 như tự thân nó vậy… Một tác phẩm thực
sự mới và lạ [51,4]. Xét về nghệ thuật văn bản, đây là một cuốn tiểu
thuyết gây sững sờ cho những độc giả có mối quan tâm và hỏi đòi về sự
8


kiếm tìm kỹ thuật. Phạm Xuân Nguyên đánh giá Những ngã tư và những
cột đèn là cuốn tiểu thuyết sau gần nửa thế kỷ mới được xuất bản, nhưng
đọc rất mới, đọc rồi đọc lại vẫn mới, vẫn bất ngờ trước từng trang, vẫn

triển khai hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ này. Xuất phát từ tình hình
đó, chúng tôi mạnh dạn đi vào khảo sát diễn ngôn trong tiểu thuyết của
Trần Dần để bổ sung thêm cái nhìn mới mẻ về đặc điểm tiểu thuyết của
ông, từ đó khám phá các bình diện phong phú của diễn ngôn tiểu thuyết.
3. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở khảo cứu các quan niệm về diễn ngôn của các nhà
nghiên cứu, chúng tôi đã bước đầu đưa ra khái niệm diễn ngôn, diễn
ngôn văn học, diễn ngôn tiểu thuyết làm điểm tựa cho việc nghiên cứu
đề tài.
- Từ việc tìm hiểu về diễn ngôn, chúng tôi tiến hành khảo sát tiểu
thuyết của Trần Dần; nhận xét về cách sử dụng diễn ngôn giàu sáng tạo
của Trần Dần, trên cơ sở đó, đánh giá những nỗ lực cách tân của Trần
Dần trong tiểu thuyết, góp phần thúc đẩy sự đổi mới của thể loại này
trong văn học Việt Nam đương đại.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của công trình này là các lí thuyết về diễn
ngôn.
- Đối tượng nghiên cứu thứ hai là tiểu thuyết của Trần Dần, như:
Người người lớp lớp, Những ngã tư và những cột đèn, Cổng tỉnh,...
4. Phạm vi nghiên cứu

10


Phạm vi nghiên cứu là diễn ngôn trong tiểu thuyết của Trần Dần.
Trong đó, luận văn chỉ tập trung khảo sát những tiểu thuyết đương đại
của ông, như: Người người lớp lớp, Những ngã tư và những cột đèn,
Cổng tỉnh,...
5. Phương pháp nghiên cứu

một nhà thơ, nhà văn, một tài năng nhiều mặt. Ông sinh ra trong một gia
đình khá giả nhưng muộn con tại phố Năng Tĩnh, Nam Định. Cha Trần
Dần là một viên chức kho bạc Nam Định.
Ông học qua bậc Thành chung ở quê rồi lên Hà Nội học tiếp và đỗ
Tú tài Triết. Năm 1946, Trần Dần cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ
Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng Dạ đài
với tuyên ngôn: "Chúng tôi, một đoàn vong gia thất thổ, đã đầu thai
nhằm lúc sao mờ..." Đến ngày 19-12-1946, ông cùng nhóm Dạ đài ra số
báo Dạ Đài 2.
Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông trở về Nam Định tham
gia công tác thông tin tuyên truyền ở huyện Vụ Bản rồi làm việc ở Sở
Tuyên truyền Khu IV. Năm 1948, ông tham gia Vệ quốc quân, ở Ban
Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La (nay thuộc Sư đoàn 316), làm công tác
tuyên truyền cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Địch, sau đó làm báo ở mặt trận
Tây Bắc và phụ trách văn công Trung đoàn 148 Sơn La. Trần Dần cùng
Trần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng lập nhóm văn nghệ quân đội đầu
tiên - Nhóm Sông Đà. Thời gian này ông bắt đầu làm thơ bậc thang và
vẽ tranh lập thể, bị cho là khó hiểu. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản
Việt Nam (lúc ấy có tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) từ năm 1949.
Năm 1954, cùng với Đỗ Nhuận, Tô Ngọc Vân, Trần Dần tham gia chiến
12


dịch Điện Biên Phủ và viết truyện dài “Người người lớp lớp”. Chiến
dịch kết thúc, ông được cử sang Trung Quốc viết thuyết minh phim
“Chiến thắng Điện Biên Phủ”. Tuy nhiên do bất đồng với người cán bộ
chính trị đi cùng nên ông "nhường" cho người này viết thuyết minh.
Tháng 03/1955: Ông tham gia phê bình tập thơ “Việt Bắc” của nhà
thơ Tố Hữu. Trần Dần nhận định tập thơ Tố Hữu nhỏ bé nhạt nhẽo trước
cuộc sống vĩ đại và mắc một sai lầm nghiêm trọng là sùng bái cá nhân,

thành “Sổ bụi”. Nhận xét về giai đoạn này, ông có nói: Mình ngồi ba
chục năm quen rồi. Ngồi mà vẫn đi, vẫn ngao du. Mình có cuốn sổ
"bụi", sổ "ngao du". Mình đi chơi lang thang trong cuốn sổ này. Đây là
sổ để ghi tất cả những gì mới nghĩ ra. Có khi ngoài cả ý thức. Đó là
cách đi của mình [7]. Ông vẫn kiên trì công cuộc cách tân thơ của mình.
Ở “Sổ bụi” 1988 khi nói về Thơ mini ông có viết: “tôi thích viết cái chưa
biết, mặc các ông viết cái đã biết. 90 có hoàn thành không? có thành
công không để mà đốt đi? Tôi đã đốt tôi đi không phải chỉ đôi lần…cái
chưa biết- cái khó - thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuối tôi” [6].
Sổ bụi cuối cùng viết năm 1989, trước khi những năm cuối cuộc đời
bệnh tật đã cướp đi của ông trí nhỡ và sự minh mẫn. (Di chứng của
những lần xuất huyết não, lần đầu tiên ông bị là vào năm 1983) [6]. Đặc
biệt, Trần Dần không bao giờ mất lòng tin đến một ngày tác phẩm của
mình được xuất bản trở lại. Sau khi ông mất, trong di cảo của ông, các
con ông đã tìm thấy một tập bản thảo có ghi "Trần Dần tự xuất bản", hay
tập thơ "Bao giờ em đi lấy chồng" mà ông đã tự trình bày và minh họa
sẵn cách đấy 35 năm. [5]
Năm 1988 Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm,...được mời tham gia sinh
hoạt văn học trở lại. Tháng 5, Trần Dần vào Huế gặp gỡ đồng nghiệp và
14


bạn đọc. Đến thời kỳ Đổi mới, bước vào giai đoạn tác giả có thể bỏ tiền
tự in, tự phát hành với sự cấp giấy phép của Nhà xuất bản. Vài tác phẩm
của ông được xuất bản trở lại như trường ca "Bài thơ Việt Bắc" năm
1990 (cho dù chương 12 của bản trường ca phải bỏ) và tập thơ tiểu
thuyết “Cổng tình” năm 1994 - tác phẩm sau này đã đoạt giải thưởng của
Hội nhà văn. Ông mất tại Hà Nội năm 1997.
1.1.2. Con người Trần Dần
1.1.2.1. Một con người đa tài, có tư tưởng cách tân

cùng với tư duy sắc sảo, Trần Dần sớm tiếp thu được những thành tựu
của văn học thế giới, từ lối thơ bậc thang như sự phản kháng lại với thơ
truyền thống của Maiacopxki đến những ưu tư về chữ và những kĩ thuật
tự sự phương Tây trong các tiểu thuyết của ông. Từ những bài thơ ít
nhiều mang dáng dấp thơ mới (Hồn xanh dị kì, Chiều mưa - trước cửa),
ông chối bỏ duy cảm, hướng tới duy giác, thiết lập cấu trúc đa tuyến
tính, xứng đáng là thủ lĩnh thơ ca trong bóng tối. Trước những đỉnh cao
tưởng chừng không vượt qua của thơ mới, đã cùng những người bạn
đồng chí hướng cất lên bản phán quyết đầy tính chất gây hấn: chôn thơ
mới. Lối nói quyết liệt ấy là biểu hiện của một mong muốn mãnh liệt:
phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiền
chiến để sáng tạo nên những thành tựu mới, phải cướp được độc giả của
tiền chiến… như sau này ông từng giải thích: “Thơ nay hầu như vẫn đặt
nghĩa. Tôi đặt thơ là chữ. Con chữ làm nên nghĩa. Ông đòi hỏi nhà văn
phải là: Kẻ viết? đạp đổ chân trời? xổng xích các chân mây?” [22].
Trong văn xuôi, các tiểu thuyết của ông cũng ngày một tiến đến phá vỡ
khung tiểu thuyết truyền thống, hoài thai những bút pháp kĩ thuật hiện
đại, cái mà còn quá xa lạ với các cây bút tiểu thuyết và giới phê bình văn
học. Ông sáng tác thơ, tiểu thuyết, viết nhật kí và thậm chí trong những
năm tháng tham gia kháng chiến chống Pháp ông từ là người vẽ tranh
16


minh hoạ trên các tờ báo Sông Đà, Giải phóng Tây Bắc, Giải phóng
Biên Giới… Từ chối những đường viền kẻ sẵn (Nguyễn Hữu Hồng
Minh), khước từ những kinh nghiệm truyền thống, Trần Dần đã chấp
nhận một sự dấn thân mạo hiểm trong văn học. Dù thành công hay thất
bại thì ông cũng xứng đáng là vị thủ lĩnh trong bóng tối ngay từ những
ngày văn học Việt Nam mới nhen nhóm chữ “hiện đại”.
1.1.2.2. Một con người từng trải, chịu nhiều bất hạnh

như là một sự trêu ngươi của số phận. Chỉ có những người trong cuộc,
gần gũi, gắn bó mới biết Trần Dần đã đi qua những năm tháng đó như
thế nào. Quả thực, người ta ngày càng nhắc nhiều đến ông không chỉ ở
những sáng tác độc đáo đến dị biệt, đầy tính tiên phong mà còn ở một
cuộc đời đầy biến cố và bi kịch.
1.1.2.3. Một con người đầy bản lĩnh
Sau Nhân Văn, có những con người mất lửa nhiệt huyết: Họ mãi
mãi chỉ dừng lại cột mốc và chỉ còn ngoảnh lại phía sau. Nhưng với Trần
Dần, cột mốc ấy, ngược lại, đánh dấu một sự lên đường quyết liệt hơn, là
thời gian sung sức nhất cho sáng tạo. Dù sống trong hoàn cảnh triệt tiêu
ông ngay từ trong tư tưởng, bị tuyên bố “treo bút” nhưng ông vẫn viết và
vẫn tin rằng tác phẩm của mình rồi sẽ được mọi người biết tới. Ông hiểu
rõ rồi xã hội sẽ thay đổi. Những tư tưởng của ông rồi sẽ được nhìn nhận
lại. Ông sống nhẫn nhịn song vẫn khẳng định tư tưởng, lối sáng tạo của
mình; vượt qua rào cản của thời đại, chính trị, vượt qua chính mình và
vượt qua cả thói quen ngại đổi mới của người Việt, của độc giả. Trong
những ngày tháng đi lao động cải tạo, chịu cảnh “tứ khổ”: khổ lao động
nặng, khổ đối xử, khổ nhớ, khổ nắng mưa bất nhất. Nhưng ông đã tìm
cách biến “tứ khổ” thành “tứ khoái”: khoái làm thơ, khoái thi tài liệu,
khoái dự định viết, khoái nhìn nghe ngẫm ngợi và hi vọng, sửa chữa
18


hoàn thành tác phẩm “Cổng tỉnh” (1959) [49]. Suốt 40 sau vụ Nhân Văn,
cuộc đời Trần Dần thưa vắng các sự kiện xã hội, ông không còn là người
dấn thân mà trở thành một kẻ ngoài lề. Nhưng con người ấy, với niềm
đam mê viết và sáng tạo không ngừng nghỉ đã liên tiếp cho ra đời các tác
phẩm tạo nên niên biểu của một nhà văn, thể hiện cách dấn thân của kẻ
ngoài lề. Nó thể hiện sự sáng suốt của một bản lĩnh phi thường. Nếu
không có một bản lĩnh đặc biệt, Trần Dần chắc đã buông xuôi tất cả,

tỉnh”, “Mùa sạch”, “Jờ Joacx”, “Thơ Mini”, “Thơ không lời”, “Mây
không lời”,…
Phong cách thơ nổi bật nhất của ông là sự cách tân. Ông được đánh
giá là người cách tân trong thơ cả về hình thức (với lối thơ bậc thang) lẫn
tư tưởng (đa diện, triết lý...) Ông chối bỏ kiểu thơ dòng nghĩa: “Thơ nay
hầu như vẫn đặt nghĩa. Tôi đặt thơ là chữ. Con chữ nó làm ra nghĩa”
[49]. Đây là cách ông gây hấn với lối thơ đã ngự trị, lên ngôi chính vị
không chỉ trong quá khứ văn học đến thời Trần Dần mà còn được nuôi
dưỡng đến tận hôm nay. Chối bỏ thơ dòng nghĩa cũng chính là chối bỏ
hệ hình tư duy cũ, lấy nghĩa của từ làm cứu cánh, mở ra một đời sống
mới cho con chữ. Đặt những sáng tác của Trần Dần trong lát cắt đồng đại
của văn học Việt Nam ta thấy một sự lệch chuẩn hoàn toàn với khung văn
học và kênh tiếp nhận. Ông không hề thoả hiệp với thời đại. Phải chứng
kiến những năm tháng Trần Dần đã đi qua ta mới thán phục, ngưỡng mộ
sức viết và khả năng sáng tạo của ông. Trần Dần sống và sáng tạo chủ yếu
trong tình thế: người viết thì ngồi, cái được viết ra thì nằm, mà cuộc sống
mưu sinh thì không dễ dàng gì. “Một tác giả không có triển vọng xuất bản
những tác phẩm của mình thì chẳng có gì thúc giục anh hoàn tất nó,
chẳng có gì ngăn anh ta tạm thời gạt nó sang một bên và chuyển sang
làm việc khác” [51;30] Vậy mà trong gần 40 năm, Trần Dần viết mà
20


không một phản hồi, thúc giục, xuất bản. Điều này chứng tỏ sức kiên định
phi thường của ông, điều mà hiếm nhà văn làm được, ngay cả những nhà
văn lớn trên thế giới.
Thơ Trần Dần có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Ngay sau phong
trào thơ mới, Trần Dần đã chủ trương làm thơ theo trường phái tượng
trưng cùng với nhóm Dạ đài. Theo nhà thơ Dương Tường: "Thơ Trần
Dần đương nhiên là khó hiểu. Nhưng chính ông ấy cũng nói về sự khó

con đò!
Ðáy dạ thời gian
còn đọng
những tên
Như
Nà Phạc
Phủ Thông
Ðèo gùng
Khau vác.”
Tác phẩm của Trần Dần đã “rửa tội cho những bài thơ kháng chiến
cùng thời: cho những lấm lem, gian dối, đối với những người đã chết.
Khâm liệm những lầm than đau khổ của những người còn sống. Đào
thải những hào quang bịa đặt, những giá trị khả nghi. Trần Dần vạch sự
thực trên thơ, về "10 cây số máu". Những chữ của Trần Dần vừa vẽ
chiến tranh, vừa đả đảo chiến tranh. Sau những lời hùng của người
23


chiến sĩ, lời bi hướng về người hấp hối, lời bàn về ngõ cụt của chiến
tranh, của những chiến thắng đắp trên xác chết” [49]. Lúc bài thơ ra
đời, tư tưởng này quả là có sức “khiêu khích” với tư tưởng “bưng bít”
gian khó chiến tranh của chính quyền. Nhưng giờ nhìn lại, ta thấy đó là
tư tưởng nhân văn và đúng đắn. Bài thơ của ông và bài “Tây tiến” của
Quang Dũng cùng chịu chung số phận và cùng được minh oan khi xã hội
thay đổi. Rõ ràng, cách nhìn của Trần Dần là cách nhìn vượt thời đại.
b. Cổng tỉnh
“Cổng tỉnh” là một bản trường ca, một cuốn tiểu thuyết hiện thực
xã hội được nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 1994, 15 năm sau khi viết
xong. Thời điểm viết xong là lúc vụ Nhân Văn đang khiến các nhà thơ,
nhà văn rơi vào ngõ hẹp, bị nhấn xuống “bùn lầy". Tác phẩm được Trần

Ðây có phải bụi Cửa Trường?
Một cuống nhau chôn trạnh lòng phố mẹ!...
Ðây có phải đường Hàng Song xanh lấm tấm sao chiều?” [10;9]
1.2.2. Vài nét về văn xuôi của Trần Dần
1.2.2.1. Khái quát chung
Trong văn nghiệp của Trần Dần không chỉ làm thơ mà còn viết
tiểu thuyết. Nếu thơ là mảng màu chính thì văn xuôi là mảng màu mới
mà Trần Dần muốn vẽ trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của mình. Các
tiểu thuyết có đóng góp không nhỏ làm phong phú hơn cho sự nghiệp
sáng tác của ông. Sau khi kháng chiến thắng lợi (1954), ông đã viết cuốn
tiểu thuyết “Người người lớp lớp” về chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là
cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông. Sau đó, vì vụ Nhân Văn, hầu hết tất cả
sáng tác của ông đều bị cấm xuất bản. Phải mãi về sau, người ta mới tìm
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status