Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ NHƢ NGỌC
THƠ DU TỬ LÊ
DƢỚI GÓC NHÌN TƢ DUY NGHỆ THUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Diêu Thị Lan Phƣơng

HÀ NỘI - 2012

3
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 11
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT 11
VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA DU TỬ LÊ 11

4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nổi tiếng với lĩnh vực thơ tình ở miền Nam từ trước giải phóng, Du Tử
Lê còn được xem là một trong những tác giả có thơ được phổ nhạc nhiều
nhất. Những bài hát như Ơn em, Trên ngọn tình sầu (Từ Công Phụng), Khúc
Thụy Du (Anh Bằng), Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau, Tình sầu Du Tử Lê
(Phạm Duy) đã đi vào lòng người yêu nhạc nhiều thế hệ.
Sau giải phóng, Du Tử Lê định cư ở nước ngoài (Mỹ). Trong thời gian
này, thơ Du Tử Lê đã được giới thiệu rải rác trở lại trong nước qua các bài
viết đặc sắc của các nhà phê bình như Thanh Thảo, Phạm Xuân Nguyên, Trần
Mạnh Hảo gây được chú ý trong công luận.
Du Tử Lê sống giữa thời kì đất nước có nhiều biến động, cùng với
những biến cố xảy ra trong cuộc sống cá nhân đã tác động mạnh mẽ đến con
người, hành động và nhất là tâm lí nhà thơ. Du Tử Lê là một hiện tượng thơ
tương đối phức tạp, những đặc trưng cho thi ca của người nghệ sĩ đặc biệt này
cho đến nay vẫn còn là một ẩn số. Đương thời, con người Du Tử Lê và những
đóng góp của Du Tử Lê về thơ đã chịu không ít sự từ chối, từ phía người đọc
và cả giới phê bình thơ. Suốt hai giai đoạn văn học, miền Nam 1954-1975 và
hải ngoại, Du Tử Lê đã có những đóng góp trong việc cách tân, thử nghiệm
làm mới thi ca qua chính sáng tác của mình, nhưng sự đón nhận hình như
không được đồng đều và không được giới làm văn học nói đến một cách công
bằng. Trước 1975, ông được giải Văn học nghệ thuật toàn quốc năm 1973 ở
bộ môn thơ. Tuy nhiên, tên tuổi Du Tử Lê không được nhắc tới nhiều. Bộ Văn
học miền Nam của Võ Phiến chỉ nhắc qua loa tên của Du Tử Lê hai lần, trong
khi một bài thơ của một nữ sinh đăng báo Tết của trường trung học cao
nguyên đã được Võ Phiến ghi nhận như một đóng góp đáng ghi vào văn học

5
sử. Bù lại, từ hai thập niên trở lại đây, đã có những nghiên cứu, trình bày và

có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và
New York Times(1996). Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy,
làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học Hoa Kỳ và châu
Âu.
Năm 1998, nhà xuất bản W. W. Norton, New York đã chọn Du Tử Lê
vào một trong năm tác giả Việt Nam để in vào phần "Thế kỉ 20: thi ca Việt
Nam" khi tái bản tuyển tập World Poetry An Anthology of Verse From
Antiquity to Our Present Time (Tuyển tập Thi ca thế giới từ xưa đến nay).
Trong cuốn Understanding Vietnam, tác giả, giáo sư Neil L. Jamieson
đã chọn dịch một bài thơ của Du Tử Lê viết từ năm 1964. Cuốn sách này sau
trở thành tài liệu giáo khoa, dùng để giảng dạy tại các đại học Berkeley,
UCLA, và Cambridge, London.
Giới nghiên cứu tại hải ngoại đã có nhiều bài phê bình khá sắc sảo, cho
thấy sự quan tâm đối với thơ Du Tử Lê, đáng chú ý có các bài viết:
- Du Tử Lê, màu-xanh-vàng-phai (Đặng Phú Phong)
- Du Tử Lê - Người tình thủy chung với văn chương (Thái Tú Hạp)
- Hứng nhạc trong thơ Du Tử Lê (Lê Văn)
- Một thoáng bâng khuâng với thơ Du Tử Lê (LM Trần Cao Tường)
- Phỏng vấn nhà thơ Du Tử Lê (Trường Đinh)
- Thơ Du Tử Lê: Hiện tượng và Thể loại (Nguyễn Vy Khanh)
- Tính vỡ vụn của thời đại trong lục bát Du Tử Lê (Vương Thành)
Những bài viết này đã đưa ra những đánh giá khoa học về con người
cũng như thơ ca Du Tử Lê. Thái Tú Hạp trong bài viết Du Tử Lê - Ngƣời tình
thủy chung với văn chƣơng đã ca ngợi: “Du Tử Lê, chàng lãng tử đã ăn ở thủy
chung với văn chương Việt Nam lâu dài nhất. Với văn chương, Du Tử Lê

7
chưa hẳn là nơi chốn giải sầu, tạm quên lãng những phù trầm nhân thế, những
giải tỏa niềm đau khoảnh khắc, là cõi tịnh an sau những miệt mài xông xáo
vào cuộc sống đầy khói xe và tiếng động. Văn chương Du Tử Lê hiện thực,

trong nước. Điển hình là vào ngày 18-8-2005, báo Công an thành phố Hồ Chí
Minh đã đăng bài Bộ mặt ngạo mạn của Du Tử Lê của hai tác giả Trọng Đức
và Lê Nguyễn, phản hồi cho việc Nhà xuất bản Văn nghệ xuất bản tập thơ Du
Tử Lê, với nhiều ý kiến công kích cả về thơ ca lẫn con người của ông.
Du Tử Lê là một hiện tượng thơ vô cùng đặc biệt. Và dù khen hay chê,
người đọc vẫn không thể phủ nhận một điều rằng Du Tử Lê và thơ ông vẫn là
cả một dấu hỏi lớn cần được khám phá. Các bài phê bình về thơ Du Tử Lê
đều là những ý kiến khoa học nghiêm túc, xác đáng, nhưng phần nhiều vẫn
chỉ dừng lại ở các nhận diện lẻ tẻ, thiếu tính chất hệ thống. Sự cần thiết phải
tiếp cận tác phẩm Du Tử Lê trên phương diện văn bản, đi sâu tìm hiểu những
quan niệm và cách tân thơ ông hứa hẹn cần sự ra đời của những công trình
khoa học chuyên sâu hơn.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của luận văn là nghiên cứu quan niệm thơ Du Tử Lê,
thế giới nghệ thuật thơ Du Tử Lê để tìm hiểu tư duy thơ của tác giả, từ đó
nhận diện những thay đổi đó đã tác động nên nội dung cái tôi trữ tình, biểu
tượng cũng như hình thức sáng tạo nghệ thuật trong thơ ông như thế nào.
Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Du Tử Lê
trước năm 1975, đặt trong dòng chảy của văn học dân tộc, trong sự so sánh,
đối chiếu với những nhà thơ khác (cùng thời).
Sự nghiệp sáng tác của Du Tử Lê rất đa dạng, bao gồm cả truyện ngắn,
tiểu thuyết, tùy bút, hồi kí, truyện thiếu nhi và thơ. Trong khuôn khổ luận văn
này, người viết sẽ chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm tư duy thơ Du Tử Lê

9
trong những sáng tác của ông trước năm 1975. Cụ thể là 5 tập thơ đã xuất bản
trong nước:
1. Thơ Du Tử Lê (1964);
2. Tình khúc tháng 11 (1965);
3. Tay gõ cửa đời (1967);

với hoàn cảnh của cá nhân, dân tộc và thời đại mà Du Tử Lê sống để thấy
được sự tác động của lịch sử lên một đời thơ và cách thức phản ứng đặc biệt
của Du Tử Lê.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: so sánh thơ Du Tử Lê với thơ của
các tác giả cùng thời để tìm ra những nét chung mang tính thời đại và những
nét đặc sắc, riêng biệt, độc đáo cùng những biến đổi trong tư duy thơ Du Tử
Lê. Mặt khác so sánh Du Tử Lê với chính Du Tử Lê để thấy được sự đổi mới
liên tục của ông trong suốt chặng đường thơ.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: vận dụng những quan điểm triết
học, mỹ học, tâm lý học Mác - Lênin để thấy được mối giao thoa giữa khoa
học, nghệ thuật và thơ ca; từ sự phân tích cụ thể tác phẩm, người viết tổng
hợp khái quát để có những kết luận khách quan, tránh những áp đặt chủ quan
không bám sát văn bản thơ.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm
thơ của Du Tử Lê
Chương 2: Cái tôi trữ tình và một số biểu tượng đặc sắc trong thơ Du
Tử Lê
Chương 3: Ngôn ngữ thơ Du Tử Lê 11
NỘI DUNG

Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT
VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA DU TỬ LÊ

1.1. Một số vấn đề lý luận về tƣ duy nghệ thuật
1.1.1. Quan niệm về tư duy

đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và
tình cảm, cảm xúc và lý trí nhằm mục đích nhận thức. Tư tưởng (Idée) hay
còn gọi là quan niệm tư tưởng, vừa là kết quả lại vừa là xuất phát điểm của tư
duy. Quan hệ con người với con người, con người với xã hội, con người với
hoàn cảnh sống… là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng
ở mỗi con người. Tư tưởng, do đó, mang một nội dung quyền lợi, một nội
dung tình cảm nào đó. Tư tưởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia,
tính giai cấp, nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tư duy. Tư tưởng nằm ở
phạm trù nội dung, tư duy nằm ở phạm trù phương pháp. Điều này có thể hiểu
là, nếu phương pháp tư duy đúng mà quan niệm tư tưởng sai thì càng ngày
càng dẫn sâu vào sai lầm.
Nói đến tư duy là nói đến những hoạt động của bộ óc người ở trạng thái
sống động của nó. Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của
các tế bào não. Đó là một quá trình xử lý lượng thông tin do các khí quan cảm
giác thu nhận được. Trong lịch sử phát triển của con người, sự hình thành và
phát triển của tư duy gắn làm một với sự hình thành và phát triển của chủ thể.
“… phán đoán đầu tiên của sự sống là ở chỗ, với tư cách là chủ thể cá thể, sự
sống tách mình ra khỏi tính khách quan” (Kharaptrenco M.B. Sáng tạo nghệ
thuật. Hiện thực. Con ngƣời. Tập I, II. NXB Văn học. H, 1985. tr. 216).

13
“Nói đến “sự sống” trong vận động tư duy chính là nói đến cơ sở sinh
lý của tư duy. Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tư duy một thuộc tính quan trọng,
đó là sự trao đổi tinh thần có tính chất giao tiếp, tính chất “cảm ứng”, “giao
cảm” giữa người với người. Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có
tính bề ngoài, còn trao đổi tinh thần, giao lưu tư tưởng và tình cảm là bản chất
hoạt động của tư duy. Nhưng cả tư tưởng và tư duy sẽ không nảy sinh được
nếu không có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ là cái vỏ
vật chất của tư tưởng. Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ
hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực. Không có tư duy thì

biểu tượng trực quan, sáng tạo ra các biểu tượng mới và thể hiện dưới một
hình thức cụ thể.
1.1.2. Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ
Hoạt động nghệ thuật là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng,
tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động ấy nhằm khái quát hóa hiện
thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ. Tư duy nghệ thuật vì thế lấy phương
tiện tư duy là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được với cơ sở là
tình cảm, xúc cảm của người nghệ sĩ, thông qua trí tưởng tượng phong phú và
sự liên tưởng tinh tế mà người nghệ sĩ sáng tạo nên những hình tượng, biểu
tượng mới. “… tồn tại là nội dung của tư duy nhưng “hình thức” của nó thuộc
về chủ thể sáng tạo. Đối với tư duy khoa học thì “hình thức” ấy đã được
khách quan hóa theo quy luật vận động của khái niệm và quan hệ logic giữa
các khái niệm. Đối với tư duy nghệ thuật “hình thức” ấy là sự biểu hiện trực
tiếp của quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và trình độ văn hóa của người sáng
tạo” [71, tr.55]. “Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm
“hiện thực trực tiếp” cho nó. Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật,

15
các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện. Nó có mã nghệ thuật,
tức là hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng kí hiệu để gìn giữ, tổ chức
và truyền đạt thông tin. Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lí tính, là
trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận
thức. Đặc điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn
dụ. Trên cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và quan
niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật. Dạng tư
duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng biết cảm nhận một cách
nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và
tài năng sáng tạo nghệ thuật” [24, tr.382]. Tư duy nghệ thuật vì vậy gắn liền
với quá trình sáng tác, bị chi phối bởi tư tưởng, quan niệm của từng nhà văn,
từng thời đại, đồng thời nó cũng thể hiện cách nhìn, cách khái quát hiện thực

Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại. Về
mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động
của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của
một cộng đồng người.
So với tư duy logic thì tư duy hình tượng có được một phạm vi rộng rãi
hơn cho sự liên tưởng và quyền tưởng tượng của người sáng tạo. Tư duy thơ
chấp nhận một khả năng tưởng tượng dường như vô tận của nhà thơ. Khả
năng tưởng tượng của tư duy khoa học là ở chỗ trừu tượng hóa, vô hình hóa
các sự vật và hiện tượng. Còn nhà thơ thì cụ thể hóa, hình tượng hóa hiện
thực khách quan theo một đường dây liên tưởng.
Đối với sáng tác thơ, trí tưởng tượng tạo nên tứ thơ, ý thơ và cả lời thơ.
Khi mục đích biểu hiện thay đổi thì liên tưởng thay đổi theo. Liên tưởng trong
thơ càng đa dạng thì biểu tượng càng sinh động, nhận thức càng sâu sắc.
Trong quá trình sáng tạo, tư duy nghệ thuật chứa đựng nhiều yêu tố ngẫu

17
nhiên. Logic thi ca gắn liền với các yếu tố ngẫu nhiên, phi lý tính. Cái tất yếu
trong mục đích biểu hiện, trong nội dung tư tưởng và ý đồ sáng tác đã không
gạt bỏ cái ngẫu nhiên mà là sự tập hợp cái ngẫu nhiên theo logic chủ quan.
Logic chủ quan bao hàm cả cái hợp lý và cái phi lý, cả lý trí và tình cảm, cái
ngẫu nhiên và cái tất yếu.
Tư duy thơ là sự khôi phục và sáng tạo nên các biểu tượng trực quan để
biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do nhận thức cảm tính
quyết định, mà nó theo logic chủ quan của tác giả. Logic chủ quan vừa phản
ánh cái logic khách quan vừa bao hàm một ý nghĩa tự do của hoạt động tinh
thần, hoạt động tình cảm. Nghĩa là nó không phản ánh cái logic khách quan
một cách máy móc và trực tiếp mà phản ánh cái yếu tố tâm lý. Tư duy thơ tạo
cho ta thêm một biểu tượng mới về sự vật, hiện tượng. Hành trình của trí
tưởng tượng mang tính chất ngẫu nhiên bao nhiêu về mặt hình ảnh trực quan,
thì mang tính chất tất yếu bấy nhiêu về mục đích biểu hiện.

2. Trong thơ ca, luôn tồn tại cái tôi trữ tình dù trực tiếp hay gián tiếp.
Các lĩnh vực khác (nhiếp ảnh, họa sĩ, điêu khắc…), người sáng tạo chỉ để lại
dấu ấn có tính chất phong cách, phương pháp. Có chăng, khi họ lấy bản thân
làm đối tượng thì mục đích chính là tự thuật chứ không phải là nghệ thuật.
Tư duy thơ là kiểu tư duy nghệ thuật ngôn từ, nhưng nó khác với văn
xuôi và văn bản kịch ở chỗ: tự sự đòi hỏi tư duy tuân theo “lẽ phải thông
thường”, nghĩa là về mặt liên kết văn bản nhận thức phải đảm bảo tính tuần
tự. Sự vận động của ngôn ngữ phải đảm bảo tính liên tục, tính tiếp nối của
logic nội dung. Còn trong thơ, sự vận động của ngôn ngữ không nhất thiết
phải tuần tự mà có thể nhảy vọt do liên tưởng của nhà thơ. Đồng thời, sự vận

19
động của ngôn ngữ thơ phải tuân theo truyền thống thể loại với những yêu
cầu về nhịp, về nhạc, về hình thức văn bản…
Tư duy thơ thường được biểu hiện thành từng dòng phát ngôn trên văn
bản và từng quãng ngắt hơi trong khi đọc. Như vậy, sự tồn tại của dòng thơ đã
làm ảnh hưởng đến tư duy thơ, tính nhạc điệu của ngôn ngữ cũng chi phối tư
duy thơ. Sự ngắt dòng tạo ra cảm giác đứt đoạn, không liên tục của mạch tư
duy theo từng ý nghĩ riêng lẻ. Thơ tự do về liên tưởng, tưởng tượng nhưng
phải theo một hình thức ngôn ngữ loại hình nhất định của thể thơ. Tư duy thơ
bị chi phối bởi một số tiêu chí có tính hình thức: yêu cầu về liên kết vần và
liên kết ý.
Tư duy thơ trước thời phong kiến: thơ ca hết sức tự do, chưa có vần
luật, thơ không đạt được trình độ nghệ thuật cao. Trải qua một thời gian dài,
thơ ca bác học đã dần hình thành. Thơ từ chỗ rất tự do, phóng túng đã định
hình dần về loại thể. Tư duy thơ thời kỳ hưng thịnh của xã hội phong kiến là
sự sáng tạo có tính chất bắt chước, sáng tạo theo khuôn mẫu của cổ nhân. Tư
duy thơ từ chỗ tự do vận động và phát triển theo dẫn dắt của trí tưởng tượng
đã đi đến chỗ vận động theo những lối mòn định sẵn. Hành trình của trí tưởng
tượng từ chỗ là chọn lọc hình ảnh một cách hồn nhiên, ngẫu nhiên nay lại

Lê Cự Phách làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học
Hàng Vôi tại Hà Nội. Như có lần ông đã tâm sự khi trả lời phỏng vấn của Đài
Tiếng nói Việt Nam hải ngoại: “… tôi tìm đến với thơ rất sớm, khi mới 10
tuổi, có dễ chỉ vì đời sống ấu thơ của tôi nó quá lẻ loi, nó quá cô quạnh”. Sau
khi di cư vào Sài Gòn, Lê Cự Phách bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới
nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu
tiên vào năm 1958 cho bài Bến tâm hồn, đăng trên tạp chí Mai.

21
Du Tử Lê từng là sĩ quan của Quân lực Việt Nam cộng hòa, cựu phóng
viên chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một
tạp chí của Quân lực Việt Nam cộng hòa), và là giáo sư dạy giờ cho một số
trường trung học Sài Gòn.
Năm 1973 tại Sài Gòn, ông được trao Giải thưởng Văn chương toàn
quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972. Với giải
thưởng này, Du Tử Lê chịu không ít những đánh giá, khen chê từ phía độc giả
và giới phê bình văn học nghệ thuật. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh - tác
giả cuốn Thi nhân Việt Nam đã viết một bài rất dài cho đọc trên đài phát thanh
Hà Nội trong đêm giao thừa năm đó, để lên án thi phẩm Thơ Du Tử Lê. Hoài
Thanh đã không ngần ngại gọi Du Tử Lê là nhà thơ tư bản, và kết án Du Tử
Lê là “nhận tiền của Mỹ ngụy dùng thơ văn lãng mạn để làm giảm sút tinh
thần chiến đấu của thanh thiếu niên miền Nam Việt Nam”.
Đầu năm 1973, nhà văn Lê Huy Oanh, có viết một bài phê bình khá dài
về cuốn thơ ấy, đăng tải trên tạp chí Văn Học, Sài Gòn, thời đó. Trong đó có
một số điểm đáng chú ý là chủ tâm đổi mới thể lục bát và chủ tâm gia tăng
nhạc tính cho thể thơ tự do. Tuy nhiên, có một điểm rất quan trọng (theo quan
điểm Lê Huy Oanh) là nỗ lực thi ca hóa, hay quần chúng hóa những danh từ,
những hình tượng thuộc về đạo Thiên Chúa, mặc dù Du Tử Lê không phải là
một Ky Tô hữu.
Tờ Thái Bình số đề tháng 12 năm 1975, xuất bản tại California, một lần

nhau. Ở miền Bắc hệ tư tưởng có phần ổn định hơn. Trong khi đó, miền Nam
chịu ảnh hưởng ồ ạt của các trào lưu tư tưởng Tây phương. Sự lựa chọn của
con người khốc liệt hơn. Con người bị đặt trong những tình huống buộc phải
lựa chọn “bên này” hoặc “bên kia”. Có những người đã đi theo cộng sản,

23
chống Mỹ cứu nước. Cũng có người lựa chọn (hoặc buộc “bị lựa chọn”) làm
những người lính Ngụy. Suy cho cùng, sự lựa chọn ấy tùy thuộc vào nhận
thức, tầm suy nghĩ của mỗi người. Với Du Tử Lê, đi theo chế độ cộng hòa
cũng là một sự chọn lựa bắt buộc thuộc về nhận thức và lịch sử.
Thứ hai, ở đây chúng tôi chỉ xem xét Du Tử Lê ở khía cạnh “con người
thơ ca”. Về mặt chính trị, Du Tử Lê là người thuộc “phía bên kia”. Và “con
người thơ ca” dù muốn hay không, dù ít dù nhiều cũng đều chịu ảnh hưởng
của “con người chính trị”. Mặc dù vậy, (tuy không loại trừ) nhưng chúng tôi
cố gắng hạn chế tối đa những phần thuộc về phát ngôn chính trị trong tác
phẩm thơ Du Tử Lê. Chúng tôi cố gắng bám sát văn bản thơ để có thể hiểu
phần nào cách cảm, cách nghĩ của Du Tử Lê. Chính vì Du Tử Lê là một người
lính Ngụy, chính vì Du Tử Lê là người đã cầm súng chống lại đồng bào mình
mà người viết càng muốn tìm hiểu thơ ca của ông, để xem dưới nhãn quan
của một con người như thế thì cuộc sống, cuộc chiến, tình yêu hiện lên như
thế nào; để có cái nhìn sinh động hơn, đa chiều hơn, nhân bản hơn về cuộc
sống, chiến đấu của dân tộc ta trong những năm tháng quyết liệt của lịch sử.
1.3. Quan niệm nghệ thuật của Du Tử Lê
Quan niệm nghệ thuật là một khái niệm đã được sử dụng khá phổ biến
trong phê bình nghiên cứu văn học. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa:
“Quan niệm nghệ thuật chính là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người
vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống
với một chiều sâu nào đó. Là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là cuộc
đời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con người và
cảnh vật phải được nhìn ở giác độ nào đó. Để tái hiện cuộc sống con người,

biến cố của thời đại, của hoàn cảnh lịch sử, của chia cắt và chiến tranh khiến
con người đau hơn nỗi đau của thân phận. Tiếng nói của thơ ca nói riêng và

25
văn học nghệ thuật nói chung không thể giải quyết được những đòi hỏi của số
phận đang đè nặng lên tâm tư của mỗi người dân. Việc tất yếu là phải thay đổi
tư duy và quan niệm nghệ thuật. Ở miền Bắc, trong bài Một vài ý nghĩ về thơ
(1957), Văn Cao đã tự hỏi, nhẹ nhàng và dè dặt: “Chúng ta đã đi qua một thời
kỳ dài thiên về cảm xúc và một thời kỳ cảm giác. Cái thời kỳ thiên về tư
tưởng có phải đang bắt đầu không?” [6]. Trong khi đó ở miền Nam, làn sóng
cách tân nghệ thuật, đặc biệt là yêu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật trào lên
một cách mạnh mẽ và sôi nổi. Du Tử Lê cũng là một nhân vật nằm trong
guồng quay cách tân ấy. Những suy nghĩ độc đáo, sâu sắc, giàu tính lý luận
với chất chồng những suy tư của ông về việc làm thơ, viết văn đã được bày tỏ
trực tiếp qua những lần ông được phỏng vấn, hoặc gián tiếp qua tác phẩm của
mình.
Giai đoạn sau những năm 1955, ở miền Bắc, phong trào Nhân Văn Giai
Phẩm ra đời với ý thức cải tạo toàn diện đời sống con người, dân chủ hóa đất
nước và tự do sáng tác. Riêng trong địa hạt thi ca, những nhà thơ như Hoàng
Cầm, Trần Dần và Lê Đạt còn muốn đoạn tuyệt với thơ mới để bước vào thơ
hiện đại. Nhưng họ thất bại và Nhân Văn Giai Phẩm nhanh chóng bị dập tắt,
nhường chỗ cho những vấn đề chính trị còn cấp bách lúc bấy giờ đang diễn ra
ở miền Bắc. Trong khi đó, văn nghệ miền Nam phát triển trong không khí tự
do, cởi mở hơn nhiều. 20 năm văn học này có sự đóng góp của nhiều nhóm
văn nghệ, nhiều trào lưu tư tưởng tập trung ở các tạp chí như Sáng tạo, Quan
điểm, Văn hóa ngày nay, Nhân loại, Văn đàn, Bách khoa, Văn học, với
những gương mặt tiêu biểu như: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa,
Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Văn Trung, Trần Dạ
Từ… Vào giai đoạn đầu 1954 - 1963, một nền văn nghệ tự do sinh hoạt trong
một không khí văn hóa, tin tưởng, thì đến giai đoạn sau 1964 - 1975, văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status