ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ HIỀN THU
THƠ CHỬ VĂN LONG
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TƢ DUY NGHỆ THUẬT Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Bá Thành HÀ NỘI – 2014
Lê Thị Hiền Thu MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp khoa học của đề tài 6
6. Bố cục luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT 8
VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC THƠ CỦA CHỬ VĂN LONG 8
1.1. Một số vấn đề lý luận về tƣ duy nghệ thuật 8
1.1.1. Khái niệm tƣ duy 8
1.1.2. Quan niệm về tƣ duy nghệ thuật, tƣ duy thơ 10
1.1.2.1. Tƣ duy nghệ thuật 10
1.1.2.2. Tƣ duy thơ 13
1.2. Quá trình sáng tác và quan niệm thơ của Chử Văn Long 18
1.2.1. Vài nét về tiểu sử Chử Văn Long 18
1.2.2. Quá trình sáng tác của Chử Văn Long 20
1.2.3. Quan niệm thơ của Chử Văn Long 27
Tiểu kết chƣơng 1: 32
Chƣơng 2: 33
CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ CHỬ VĂN LONG 33
2.1. Khái niệm cái tôi trữ tình trong thơ 33
2.2. Cái tôi trữ tình trong thơ Chử Văn Long 36
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đặc trƣng của tƣ duy là phản ánh các mối quan hệ của con ngƣời đối với thế
giới khách quan, quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và quan hệ giữa các sự vật,
hiện tƣợng, truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phƣơng
tiện ngôn ngữ. Điều đó đã cho chúng ta thấy rằng việc tiếp cận văn học nghệ thuật
nói chung, thơ ca nói riêng từ góc độ tƣ duy nghệ thuật là một hƣớng tiếp cận mang
tính hệ thống, có chiều sâu và toàn diện.
Tƣ duy nghệ thuật là tƣ duy hình tƣợng, hay nói cách khác tƣ duy nghệ thuật
nhằm phản ánh hiện tƣợng có thẩm mỹ. PGS.TS Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tƣ
duy thơ hiện đại Việt Nam đã làm rõ vấn đề này: “Tƣ duy nghệ thuật là sự khôi
phục và sáng tạo các biểu tƣợng trực quan, là sự hình tƣợng hóa hiện thực khách
quan theo nhận thức chủ quan” [53, tr.57]
Tƣ duy thơ là một hình thức biểu hiện của tƣ duy nghệ thuật , một vấn đề ly
́
luận còn rất mới nhƣng đầy hấp dẫn. Việc tìm hiểu khám phá tƣ duy thơ cũng chính
là quá trình khám phá gốc tích, cội nguồn của tâm lý học sáng tạo. Trong tƣ duy thơ
không chỉ tồn tại yếu tố cá nhân mà còn bao hàm cả yếu tố dân tộc, yếu tố thời đại
và yếu tố nhân loại. Nó là vấn đề nằm trên cả bình diện nội dung và hình thức, trong
mối quan hệ tƣơng tác giữa chủ thể và khách thể.
Xuất phát từ những cơ sở trên chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu thơ ca từ
góc độ tƣ duy là một yêu cầu nghiên cứu toàn diện đối với hiện tƣợng thi ca. Nó có
khả năng mơ
̉
ra những ca
́
nh c ửa đi vào thế giới nghệ thuật phong phú và bí ẩn .
Nghiên cứu thơ từ góc độ tƣ duy tạo những khả năng tiếp cận mới, khám phá phong
cách nghệ thuật của nhà thơ từ nhiều góc độ khác nhau.
huyết và góp phần mở ra những khám phá mới về thơ đƣơng đại Việt Nam trên
hành trình hƣớng đến một nền thơ rực rỡ trong tƣơng lai.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chử Văn Long là nhà thơ có số lƣợng sáng tác lớn, ông có 8 tập thơ đã xuất
bản từ năm 1976 đến nay, trong đó có không ít những bài thơ hay, những câu thơ
đẹp. Tuy nhiên, Chử Văn Long và sự nghiệp của ông chƣa đƣợc giới nghiên cứu 3
quan tâm giới thiệu và nghiên cứu đầy đủ mà chỉ có một số bài phê bình nhỏ lẻ chƣa
làm nên tiếng vang trên thi đàn Việt Nam.
Trong cuốn Cảm nhận thi ca (Nxb Văn học, 1999), tác giả Trần Văn Lý xếp
Chử Văn Long vào một trong năm ngôi sao thơ ca thế kỷ XX (Hàn Mặc Tử, Xuân
Diệu, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Chử Văn Long) và cho rằng tập thơ Ru những trăm
năm của Chử Văn Long là tập thơ hay nhất từ năm 1975 đến 2000. Tác giả đánh giá
ông là ngƣời đầu tiên bắc đƣợc chiếc cầu giữa thơ phƣơng Đông uyển chuyển
sƣơng khói và thơ phƣơng Tây dồn nén, ấn tƣợng. Vẫn biết, việc sắp xếp ngôi vị
trong làng văn hoàn toàn là quyền riêng của mỗi ngƣời, song cách sắp xếp nói trên
của Trần Văn Lý xếp Chử Văn Long "chung hàng" với các đấng bậc nhƣ Hàn Mặc
Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tố Hữu là chƣa thuyết phục bởi Chử Văn Long, một
nhà thơ có sức ảnh hƣởng xã hội còn "khiêm tốn" hơn rất nhiều, và về tuổi tác lại
chỉ thuộc hàng con cháu của họ. Điều đó không chỉ gây bất lợi cho Trần Văn Lý mà
còn gây cho nhà thơ Chử Văn Long những mối bận tâm không đáng có. Thực tế,
ngay khi cuốn sách ra đời đã làm dấy lên cuộc tranh luận gay gắt trên thi đàn. Bên
cạnh số ít đồng tình, tán thƣởng cuốn phê bình, có nhiều nhà thơ phản ứng giận dữ,
đòi thu hồi sách và bày tỏ ý kiến cá nhân trên nhiều tờ báo. Trong cuộc trò chuyện
với nhà thơ Chử Văn Long về thời điểm cuốn sách của Trần Văn Lý ra đời, tôi nhận
thấy trong giọng nói của ông, vết thƣơng lòng ngày nào lại đang mƣng mủ: “Quyển
sách ra đời vào đúng lúc nhà tôi qua đời, tôi không còn tâm trí để cảm ơn tác giả đã
để tên tôi trong sách đó. Khi tôi đọc tên mình trên báo với nhiều lời lẽ khó nghe nhƣ
thâu lƣợc đƣợc chặng đƣờng thơ Chử Văn Long gắn với những bƣớc ngoặt số phận
của nhà thơ. Nguyễn Thiết nhận xét: “Nhìn lại đời thơ Chử Văn Long thấy nhƣ anh
sinh ra để hát về những buồn vui thắc thỏm đời thƣờng, những nổi chìm phận số, để
vƣơn lên khát vọng làm ngƣời.” Tác giả bài viết ca ngợi về tài sử dụng ngôn từ
trong thơ của Chử Văn Long: “Anh đã tạo ra đƣợc nét đẹp riêng về tài sử dụng ngôn
từ chính xác mà uyển chuyển… Ở bất cứ thể thơ nào, lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn
hay tự do… khi đọc, ta bị cuốn hút bởi vần điệu trong hồn, không còn để ý đến vần
điệu thật câu thơ ấy nữa, bởi trong đó chứa đựng cái hơi thở phập phồng cuộc sống
quanh ta. Thấy đƣợc điều này mới cảm nhận đƣợc hết chất thi sĩ trong thơ và cả
những trang văn của anh chênh vênh giữa mộng và đời.” Bài viết của tác giả đã nắm 5
bắt đƣợc cái hồn cốt chung nhất về thơ Chử Văn Long; tuy nhiên, bài viết mới chỉ ở
phạm vi nhỏ chƣa phải là một công trình nghiên cứu đầy đủ về thơ Chử Văn Long.
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu thơ Chử Văn Long dƣới góc độ tƣ
duy nghệ thuật, chúng tôi hy vọng sẽ mở ra nhiều hƣớng tiếp cận và nghiên cứu thơ
Chử Văn Long.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn khảo sát 8 tập thơ đã xuất bản của Chử Văn
Long: Nguồn yêu thƣơng (1976); Tán bàng xanh góc phố (1985); Lời ca từ đất
(1987); Bông hồng bỏ quên (1991); Ru những trăm năm (1997); Ngôi sao đã khóc
(2000); Ngƣời gánh rơm vào thành phố (2001); Đẹp và Buồn(2008). Ngoài ra
chúng tôi liên hệ khảo sát thêm những tiểu luận, phê bình, tản văn của tác giả để
góp phần khám phá sâu sắc hơn thế giới nghệ thuật thơ trong ngòi bút của ông.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về thơ Chử Văn Long từ phƣơng diện
tƣ duy nghệ thuật, trên cơ sở khảo sát hình tƣợng thông qua nội dung và hình thức
biểu hiện nhƣ: hình tƣợng cái tôi trữ tình, thế giới biểu tƣợng, ngôn ngữ, giọng điệu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng một cách thích hợp những
Đồng thời, luận văn vận dụng những thành tựu khoa học của các ngành: lí
luận văn học, lí thuyết tiếp nhận, thi pháp học, phƣơng pháp luận nghiên cứu văn
học… trong quá trình nghiên cứu và triển khai.
5. Đóng góp khoa học của đề tài
Chử Văn Long là nhà thơ có số lƣợng thơ xuất bản tƣơng đối lớn. Việc
nghiên cứu tƣ duy thơ qua sự vận động và phát triển của cái tôi trữ tình, qua hệ
thống biểu tƣợng, qua ngôn ngữ sẽ góp phần tìm ra những đối sánh giữa số lƣợng
và chất lƣợng thơ Chử Văn Long.
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu thơ Chử Văn Long từ góc nhìn tƣ
duy nghệ thuật. Đề tài có ý nghĩa đóng góp đối với việc nghiên cứu một cách toàn
diện sự nghiệp thơ ca của Chử Văn Long và mong muốn có thể rút ra những kết
luận chân xác, thuyết phục về thơ Chử Văn Long trên cả hai mặt nội dung và nghệ 7
thuật. Qua đó khẳng định hƣớng nghiên cứu từ góc độ thơ nghệ thuật đối với các
hiện tƣợng văn học thực sự là một hƣớng nghiên cứu tích cực, cần đƣợc tiếp tục và
phát triển.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn
đƣợc triển khai trong ba chƣơng :
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về tƣ duy nghệ thuật và quá trình sáng tác thơ của
Chử Văn Long
Chƣơng 2: Cái tôi trữ tình và cảm hứng chủ đạo trong thơ Chử Văn Long
Chƣơng 3: Biểu tƣợng và ngôn ngữ trong thơ Chử Văn Long 9
Tƣ duy và lí trí (raison) không phải là một. Nói đến lí trí là nói đến cái lôgic có tính
nguyên tắc của nhận thức. Nói đến tƣ duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể
của các yếu tố tƣ tƣởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức.
Tƣ tƣởng (Idée) hay còn gọi là quan niệm tƣ tƣởng, vừa là kết quả vừa là xuất phát
điểm của tƣ duy. Quan hệ con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với xã hội, con
ngƣời với hoàn cảnh sống… là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tƣ
tƣởng ở mỗi con ngƣời. Tƣ tƣởng, do đó, mang một nội dung quyền lợi, một nội
dung tình cảm nào đó. Tƣ tƣởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia, tính
giai cấp… nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tƣ duy. Tƣ tƣởng nằm ở phạm
trù nội dung, tƣ duy nằm ở phạm trù phƣơng pháp.
“Đặc trƣng của tƣ duy là phản ánh các mối quan hệ của con ngƣời đối với
thế giới khách quan, quan hệ con ngƣời với con ngƣời và quan hệ giữa các sự vật,
hiện tƣợng. Truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phƣơng
tiện ngôn ngữ. Đó là toàn bộ các chức năng nhận thức của tƣ duy”[53,tr.40]. Theo
V.I.Lê nin: “Cái quan trọng đối với tƣ duy là cái mà con ngƣời chƣa biết đến”. Nói
đến tƣ duy là nói đến những hoạt động của bộ óc ngƣời ở trạng thái sống động của
nó. Tƣ duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não. Đó là
một quá trình xử lý lƣợng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận đƣợc.
Nói đến “sự sống” trong vận động tƣ duy chính là nói đến cơ sở sinh lý của
tƣ duy. Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tƣ duy một thuộc tính quan trọng, đó là sự trao
đổi tinh thần có tính chất giao tiếp, tính chất “cảm ứng” “giao cảm” giữa ngƣời với
ngƣời. Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có tính bề ngoài, còn trao đổi
tinh thần, giao lƣu tƣ tƣởng và tình cảm là bản chất của hoạt động tƣ duy. Tƣ duy là
một “trạng thái bên trong của vật chất” (Plêkhanôp) nhƣng chỉ có ở vật chất đặc
biệt, phát triển ở trình độ cao, tức là ở đầu óc con ngƣời. Mọi quan niệm cho rằng tƣ
duy, tinh thần hay ý niệm tồn tại độc lập, bên ngoài đầu óc con ngƣời, đều là quan
niệm tƣ duy phi chủ thể, hoặc là tạo ra một chủ thể siêu nhiên đối lập với con ngƣời.
trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục 2006 và ý kiến của
tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tƣ duy thơ hiện đại Việt Nam, Nhà xuất bản 11
Đại học Quốc gia Hà Nội 2012. Trong Từ điển thuật ngữ Văn học có nhận định: Tƣ
duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con ngƣời hƣớng tới sáng tạo và tiếp
nhận tác phẩm nghệ thuật. Bản chất của nó do phƣơng thức thực tiễn tinh thần của
hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tƣợng quy định. Sự chuyên môn hóa lối tƣ
duy này tạo thành đặc trƣng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó. Tƣ duy nghệ
thuật là một phƣơng thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và
giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ. Phƣơng tiện của nó là các biểu tƣợng, tƣợng trƣng có
thể trực quan đƣợc. Cơ sở của nó là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tƣ duy nghệ
thuật là: ngoài tính giả định, ƣớc lệ, nó hƣớng tới việc nắm bắt những sự thật đời
sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên - cái có thể có, có thể cảm nhận,
theo xác suất khả năng và tất yếu. Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát
của nghệ thuật thƣờng mang tính phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt.
Bằng trí tƣởng tƣợng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tƣ duy nghệ thuật,
nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các bộ phận còn bị che khuất của thực
tại, lấp đầy các “lỗ hổng chƣa biết”. Tính cấu trúc của tƣ duy nghệ thuật gắn với
năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua các dấu hiệu phát
sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chƣa đƣợc nhận ra…
Trên cơ sở nghiên cứu và khái quát những vấn đề về tƣ duy nghệ thuật,
PGS.TS Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tƣ duy thơ hiện đại Việt Nam đã bàn về vấn
đề tƣ duy nghệ thuật nói chung và tƣ duy thơ nói riêng, tác giả đã đƣa đến kết luận:
“Tƣ duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tƣợng trực quan, là sự
hình tƣợng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Đó là điểm phân
biệt đầu tiên của tƣ duy nghệ thuật với tƣ duy khoa học.” [53, tr.57]
Tƣ duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh
quan của ngƣời sáng tạo. Theo V.I. Lênin: “Chúng tôi không hề coi nhiệm vụ của tƣ
duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động ấy nhằm khái quát hóa hiện thực và
giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ. Tƣ duy nghệ thuật vì thế lấy phƣơng tiện tƣ duy là
các biểu tƣợng, tƣợng trƣng có thể trực quan đƣợc với cơ sở là tình cảm, cảm xúc
của ngƣời nghệ sĩ, thông qua trí tƣởng tƣợng phong phú và sự liên tƣởng tinh tế mà
ngƣời nghệ sĩ sáng tạo nên những hình tƣợng, biểu tƣợng mới. Qua trình sáng tạo
đó luôn đƣợc bắt nguồn từ lý tính và trí tuệ có kinh nghiệm của nhà văn, trên cơ sở 13
tƣ duy nghệ thuật nhà văn tạo ra những tƣ tƣởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn
và sử dụng những phƣơng tiện và biện pháp phù hợp. Tƣ duy nghệ thuật luôn thăng
hoa cùng những tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, biết
nắm bắt tinh thần thời đại, biết dự báo tƣơng lai và một tài năng sáng tạo nghệ
thuật. Tƣ duy nghệ thuật vì vậy gắn liền với quá trình sáng tác, bị chi phối bởi tƣ
tƣởng, quan niệm của từng nhà văn, từng thời đại, đồng thời nó cũng thể hiện cách
nhìn, cách khái quát hiện thực của riêng nhà văn, thể hiện riêng bản sắc, cá tính
sáng tạo của nhà văn, ở một góc độ nào đó thì tƣ duy nghệ thuật có sự giao cắt và
làm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn.
1.1.2.2. Tƣ duy thơ
Thơ ca là một loại hình nghệ thuật nằm trong phƣơng thức biểu hiện trữ tình,
là một thể loại văn học quen thuộc và gần gũi với con ngƣời ở mọi thời đại. Khác
với thể loại truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con ngƣời, nó xác lập nhờ
mối rung cảm thầm kín của con ngƣời đối với cuộc sống. Thơ gắn liền với chiều sâu
tâm hồn, với thế giới nội tâm con ngƣời. Trong sự vận động của cảm xúc, hình thái
vận động thơ là từ cảm xúc đến suy nghĩ, từ những rung động trực tiếp đến chiều
sâu nhận thức. Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó
các nhân vật có đƣờng đi và số phận của chúng. Bằng những đối thoại và độc thoại,
tác gải kịch thể hiện tính cách và hành động con ngƣời qua những mâu thuẫn xung
đột. Ở tác phẩm trữ tình thế giới quan của con ngƣời, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ
đƣợc trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu.
nghĩa là mục đích nhận thức và phản ánh của thơ không phải là cái khách thể, cái
hoàn cảnh tự nhiên và xã hội có tính lịch sử cụ thể mà nhà thơ đang sống. Tuy vậy,
về mặt ý nghĩa khách quan của nó, thơ bao giờ cũng phản ánh đƣợc một khía cạnh
nhất định của tƣ tƣởng và tình cảm một thời đại, qua thơ, chúng ta có thể nắm bắt
đƣợc sự phát triển và bối cảnh lịch sử của từng thời đại.
Tƣ duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tƣ duy thời đại. Về mặt
nội dung nhận thức, có thể coi tƣ duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của
những tƣ tƣởng triết học, chính trị, đạo đức dƣới dạng phổ biến nhất của một cộng 15
đồng ngƣời. Tập hợp các sáng tác thơ theo nội dung tƣ tƣởng và đối tƣợng phản
ánh, ta tháy rằng thơ ca là sự phản ánh tinh vi của ý thức hệ có tính giai cấp, có tính
lịch sử. Thơ ca phong kiến phản ánh những tâm trạng tiêu biểu, những con ngƣời
điển hình của giai cấp quý tộc phong kiến, phản ánh những quan niệm tình cảm đạo
đức theo mô hình giá trị mà xã hội phong kiến đã thiết lập. Thơ ca thời kỳ tƣ bản
chủ nghĩa cũng phản ánh tâm tƣ tình cảm của những con ngƣời trong xã hội đó. Thơ
ca cách mạng lấy hiện thực cách mạng làm đối tƣợng nhận thức và phản ánh. Sự
thay đổi của cơ chế xã hội đã kéo theo sự thay đổi của toàn bộ thƣợng tầng kiến
trúc, thay đổi các quan niệm về cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ. Đó là nguyên nhân làm
thay đổi hƣớng vận động của tƣ duy thơ.
So với tƣ duy logic thì tƣ duy hình tƣợng có đƣợc một phạm vi rộng rãi hơn
cho sự liên tƣởng và quyền tƣởng tƣợng của ngƣời sáng tạo. Tƣ duy thơ chấp nhận
một khả năng tƣởng tƣợng dƣờng nhƣ vô tận của nhà thơ. Trí tƣởng tƣợng là biểu
hiện trực tiếp của năng lực tƣ duy hình tƣợng. Nhà thơ Sóng Hồng đã nói: “Thơ là
nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tƣởng tƣởng”. Trí tƣởng tƣợng của nhà khoa học
khác với nhà thơ ở chỗ, nhà khoa học thì mã hóa các tài liệu cảm tính, quy chúng về
các đại lƣợng, các ký hiệu và con số, quan sát và biểu diễn sự vận động của hiện
thực thành sự vận động của khái niệm, của ký hiệu. Khả năng tƣởng tƣợng của tƣ
duy khoa học là ở chỗ trừu tƣợng hóa, vô hình hóa các sự vật và hiện tƣợng. Còn
bình thƣờng, lao động giản đơn của ngƣời thợ thủ công, mà bao hàm một ý nghĩa
sáng tạo: Nghĩa là nhà thơ vừa là ngƣời thiết kế, vừa là ngƣời thi công cho chính
ngôi nhà nghệ thuật của mình. Nhà nghệ sĩ là ngƣời phóng đại một mặt nào đấy,
một khía cạnh nào đấy của sự vật hiện tƣợng nhằm biểu hiện tình cảm và tƣ tƣởng
của mình. Căn cứ vào mức độ phóng đại mà ta đánh giá tác phẩm chân thực hay
không chân thực, hiện thực hay lãng mạn. Do tính chất lý tính của loại chất liệu
ngôn ngữ, tƣ duy thơ đòi hỏi các biểu tƣợng phải gợi cảm, khắc phục tính chất ký
hiệu của ngôn ngữ để tạo nên chất thơ trực tiếp. Đề cao tính tạo hình trong ngôn
ngữ thơ là để tăng thêm tính chất trực quan của hình tƣợng thơ. Nhạc điệu của một
dòng thơ, một bài thơ chính là sự hình tƣợng hóa âm thanh đời sống thực tại bằng
cách khuếch đại âm thanh của từ ngữ. 17
Nói về hƣớng tƣ duy thơ, chúng ta có thể thấy có các khả năng: hƣớng nội,
hƣớng ngoại, và sự kết hợp hƣớng nội và hƣớng ngoại. Hƣớng ngoại là nhằm vào
đối tƣợng miêu tả, trình bày nó dƣới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ. Hƣớng
nội là tác giả tự nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội cảm của mình. Sự
kết hợp giữa hƣớng nội và hƣớng ngoại, hay nói đúng hơn là không theo một hƣớng
định duy nhất, mà có sự đi về vô hƣớng, sự phối hợp hài hòa. Có thể tác giả nhân
danh một nhân vật trữ tình nào đó, nhân danh một cái ta rộng lớn, nhƣng không dấu
mình hoàn toàn mà hiện ra khi thì trực tiếp khi thì gián tiếp. Hƣớng nội một phần
hay hƣớng nội hoàn toàn, tƣ duy thơ vẫn sử dụng những hình ảnh, những biểu
tƣợng có tính trực quan nhƣ các hình thức tƣ duy nghệ thuật khác.
Tƣ duy thơ thƣờng đƣợc biểu hiện thành từng dòng phát ngôn trên văn bản
và từng quãng ngắt hơi trong khi đọc. Nhƣ vậy, sự tồn tại của dòng thơ đã làm ảnh
hƣởng đến tƣ duy thơ, tính nhạc điệu của ngôn ngữ cũng chi phối tƣ duy thơ. Tƣ
duy thơ bị chi phối bởi một số tiêu chí có tính hình thức. Những tiêu chí đó nhằm
làm cho những câu thơ gắn bó với nhau thành một chuỗi thống nhất, cô kết các ý
nghĩ riêng lẻ thành một trật tự hình thức. Đó chính là các yêu cầu về liên kết vần và
tƣợng. Từ góc độ sáng tạo, tƣ duy thơ là làm thơ, là những thao tác lựa chọn hình
ảnh, biểu tƣợng, ngôn từ để bộc lộ tƣ tƣởng và tình cảm. Từ góc độ tiếp nhận, đọc
thơ, thƣởng thức thơ chính là tái hiện hình tƣợng thơ theo sự vận động của ngôn
ngữ thơ, theo hành trình tƣởng tƣợng của nhà thơ, hay là quá trình tƣ duy lại tƣ duy
của nhà thơ. Tƣ duy nghệ thuật thƣờng xuyên bị chi phối bởi đặc trƣng của các thể
loại nghệ thuật. Tƣ duy thơ là một phƣơng thức biểu hiện của tƣ duy nghệ thuật.
Công việc nghiên cứu tƣ duy nghệ thuật nói chung và tƣ duy thơ nói riêng là một
quá trình khám phá, tìm hiểu thú vị, cần thiết, hiệu quả để khám phá thế giới nghệ
thuật trong tác phẩm của nhà thơ.
1.2. Quá trình sáng tác và quan niệm thơ của Chử Văn Long
1.2.1. Vài nét về tiểu sử Chử Văn Long
Chử Văn Long sinh ngày 12 tháng 10 năm 1942 ở làng Vạn Phúc, Thanh Trì
ngoại thành Hà Nội, một làng quê vùng bờ bãi sông Hồng. Khi còn nhỏ, cha mất
sớm, đƣợc mẹ và ba chị em gái chăm lo cho ăn học ở trƣờng quê rồi vào học trƣờng 19
Trung cấp cơ điện ngành Xe hơi máy nổ. Tốt nghiệp năm 1963, Chử Văn Long
xung phong đi xây dựng kinh tế lâm nghiệp Quảng Ninh. Cũng từ đây ông bắt đầu
làm thơ. Gần chục năm ở vùng than, cuộc sống thiếu thốn khó khăn đã trau dồi cho
nhà thơ nhiều suy ngẫm và trải nghiệm. Suốt những năm tháng xa nhà, ông không
yên tâm về ngƣời vợ một vai gồng gánh mƣu sinh cho mẹ già và các con, ông làm
đơn trình bày khó khăn xin về làm ở Hà Nội. Những ngày ấy, ông sống trong sự
giúp đỡ của bạn bè, mất nửa năm sau mới có hộ khẩu chính thức để đi làm.
Năm 1973, ông về Hà Nội làm quản đốc cơ khí ở xí nghiệp gạch ngói Văn
Điển. Suốt ba năm liền ông thầm hứa với mình “cắt đứt với thơ”, không đọc sách
báo, không cầm bút viết một câu. Trớ trêu thay, nơi làm việc của ông lại kề sát
nghĩa trang thành phố. Một lần không ngăn đƣợc cảm xúc ông đã viết bài thơ Xí
nghiệp bên nghĩa trang. Bài thơ không đƣợc ông giám đốc đồng tình nhƣng lại
đƣợc nhà thơ Ngô Quân Miện phụ trách báo Chính nghĩa chọn in bài thơ, đó cũng là
1.2.2. Quá trình sáng tác của Chử Văn Long
Làm thơ chủ yếu trong thời bình, những tác phẩm trữ tình của ông không bị
ảnh hƣởng trực tiếp tƣ duy chính trị của thời kỳ bom đạn ác liệt mà mang đậm tính
đời tƣ thế sự. Mỗi một tập thơ của tác giả ra đời gắn liền với những suy nghĩ tình
cảm riêng tƣ của tác giả. Những tập thơ nối tiếp nhau ra đời trong hơn ba mƣơi năm
trải nghiệm, trăn trở với cuộc đời là hành trình đến với tha nhân đầy mất mát,
thƣơng đau của tác giả Chử Văn Long.
Chử Văn Long là nhà thơ xuất phát từ lao động quần chúng, ông bƣớc vào sự
nghiệp thơ ca không đƣợc thuận lợi và dễ dàng nhƣ bao ngƣời khác do không đƣợc
học hành đầy đủ về nghề văn trên ghế nhà trƣờng. Nhƣng với niềm khát khao giao
cảm với đời và một trái tim nhạy cảm, Chử Văn Long vẫn gặt hái đƣợc nhiều niềm
vui trong đời thơ của mình. Năm 1964, tác giả đạt giải nhì cuộc thi thơ đề tài Lâm
nghiệp lần thứ nhất với bài thơ Ngôi nhà ngƣời quy hoạch rừng, cùng cuộc thi tổ
chức vào năm sau, ông đạt giải ba với bài Vét suối Ngựa lồng. Năm 1979, nhà thơ
đƣợc tặng thƣởng thơ hay báo Văn nghệ với bài Tiếng chày và tặng thƣởng thơ Hà
Nội. Năm 1982, Chử Văn Long đạt giải nhì cuộc thi Thơ báo Văn nghệ với bài
Ngƣời gánh rơm vào thành phố; cùng năm này tác giả đạt giải nhì cuộc thi viết cho