1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HUYỀN
THƠ ĐINH HÙNG
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TƢ DUY NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Văn học Việt Nam Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Bá Thành
Hà Nội - 2013
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
5
6
12
13
13
CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ TƢ DUY THƠ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG
71
2.2. 73
Tiểu kết : 77
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG THƠ ĐINH HÙNG 79
3.1. Ngôn ngữ và thể thơ 79
79
3.1.1.1. Ngôn ngữ quái dị, yêu ma 79
3.1.1.2. Ngôn ngữ của tình yêu chân thành, say đắm 82
3.1.1.3. Ngôn ngữ giàu tính nhạc 85
3.1.1.4. Ngôn ngữ đậm tính cổ trang 87
89
3.2. Một số biểu tƣợng đặc sắc 93
94
96
3.2.3. B 97
3.2.4. N 99
3.3. Thời gian và không gian nghệ thuật 100
101
104
Tiểu kết 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
7
-
Nam 1945 - " Ám ảnh vì cái chết từ lúc bé,
Đinh Hùng hướng về nguồn thơ tượng trưng. Vì tượng trưng là âm bản của thực tại
như chết là âm bản của sự sống (…. ) Nỗi chết đã ám ảnh đeo đuổi Đinh Hùng như
hình với bóng, đốt thắp tâm tư chàng. Đinh Hùng không chạy trốn, chàng hàm
dưỡng ngọn lửa ấy cho nguồn thơ Tượng trưng " [theo 58].
"
Đinh Hùng là người mở cánh cửa cuối cùng của Thơ Mới, giai đoạn
phát triển sau và phần nào chuẩn bị không khí cho chủ nghĩa siêu thực bắt đầu.
[55]. Từ bỏ thế giới
thực tại, đi sâu vào thế giới siêu nhiên, siêu cảm, có thể nói thơ Đinh Hùng đã vượt
qua từ trường của thơ lãng mạn và men tới lãnh địa của siêu thực” [17, tr.178].
“Chúng tôi cho rằng bản chất của thơ mới lãng
mạn là tiêu cực, thoát li và đã có những màu sắc suy đồi. Khách quan mà nói thơ ca
lãng mạn ít nhiều đã làm cho thanh niên trở nên bi luỵ và do đó làm quẩn bước
chân của họ trên con đường đi đến cách mạng. Tuy nhiên ở nước ta thời kì trước
cách mạng tháng Tám, từ những người phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật vị nghệ
10
nghìn yêu ma chung bước cõi luân hồi”
vong tình” mở hội oan hồn”
lòe loẹt ghê ghê mùi son phấn6].
Đinh Hùng là thi sĩ muốn
khai phá một nẻo đường đưa tới thế giới hồng hoang, nơi đây con người trút bỏ hết
hình hài, thể phách, tinh anh cũ; mà đắm mình trong một bầu không khí ảo huyền,
trác tuyệt, đầy những sương lá phong thần. Thi sĩ quên mối lo eo sèo thế sự. Cuộc
sống tủi buồn của nhân thế đã xa biết bao! Tiếng cười, tiếng khóc ở đây có những
âm vang kỳ ảo” [theo 82].
“Ai cũng phải công nhận rằng Đinh Hùng là một thi
nhân độc đáo, không nhà thơ nào có giọng điệu Liêu Trai như ông, không có một
nhà thơ nào có giọng điệu phong toả lên hồn thơ mình những khói hương nghi ngút
như ông. Đinh Hùng như thể một hoang đường và ảo mộng. Thơ Đinh Hùng còn là
bản trường ca tình ái, thơ Đinh Hùng quả chất chứa một bản sắc rất bén nhạy và
kết đọng ba yếu tố: Ái tình, thiên nhiên và mộng ảo. Ba yếu tố ấy sinh thành trong
không khí hồ ly và nỗi chết không rời. Đinh Hùng như một bông hoa kỳ lạ, một thứ
kim cương kết tụ từ huyệt sâu, từ non sầu của mộng ảo” [theo33].
“Thơ Đinh
Hùng hàm súc, lối thao tác “tụ” và “tán” nhanh chóng, những “từ” và “tứ” đột
xuất, khiến thơ ông có khả năng gây được cộng cảm, dễ lưu vào tâm trí người đọc”
[72, tr.424].
chất thế giới, các hiện tượng của tâm linh con người, của thế giới cảm giác và vô
thức" [88, tr.68].
Khung trời mà Đinh
Hùng dùng để viết thơ của mình lên là một khung trời chứa chấp toàn huyền ảo
giữa người và sự vật, giữa suy tưởng và thiên nhiên, giữa mơ mộng và thực tế” [80, tr.126].
12
thi phẩm Đinh Hùng
không có khớp xương” có thể lấy đoạn đầu bỏ xuống dưới hay xen vào giữa, bài
thơ vẫn thế; hoặc lấy một đoạn trong bài này đem sang bài khác cũng không sao” [13].
Tài năng ngôn ngữ của Đinh Hùng
làm cho các thế giới gần lại với nhau, người ở cùng ma, quỷ ở với người, nhưng ma
quỷ của ông hiền lành, có cảm xúc và suy nghĩ, đầy rẫy một sự sống khác” [55].
“Dấu vết lý trí trong cách lựa chọn từ ngữ đồng dạng
của tác giả dường như không đạt tới chỗ hoàn hảo, một bài bình dị xen kẽ vài câu
thơ mê hồn, biểu lộ sự không nhất trí trong diễn trình sáng tác” [95].
“Thương nhớ Đinh Hùng”
Giỗ đầu Đinh Hùng
14
CHƢƠNG 1
KHÁI NIỆM VỀ TƢ DUY THƠ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC
CỦA NHÀ THƠ ĐINH HÙNG.
1.1. Khái niệm về tƣ duy thơ
1.1.1. Tƣ duy nghệ thuật
Tư duy là một hoạt động nhận
thức lí tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ
thống tinh vi của gần 16 tỉ tế bào thần kinh” [47, tr.676].
“Trạng thái làm thơ
là trạng thái cảm hứng cao độ” [49, tr.68].
16
từ góc độ tiếp nhận, đọc thơ, thưởng thức thơ chính
là tái hiện hình tượng thơ theo sự vận động của ngôn ngữ thơ, theo hành trình tưởng
tượng của nhà thơ, hay là quá trình tư duy lại tư duy của nhà thơ” [49, tr.79].
“sự thay đổi của cơ chế xã
hội đã kéo theo sự thay đổi của toàn bộ thượng tầng kiến trúc, thay đổi quan niệm
về cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ. Đó là nguyên nhân làm thay đổi hướng vận động
của tư duy thơ” [49, tr.61)
1.1.2. Tƣ duy thơ
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó
mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ ngôn ngữ thơ” [49, tr.59].
18
mandolin
“thần Ái tình đã
hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn”
Bộ lạc ta xưa mất hải tần,
Buồn nghiêng nội địa, cháy tà huân.
Đêm thiêng thổn thức hồn du mục,
Ta vọng lên non tiếng ác thần.
20
:
Tôi cảm thương vì hai chúng ta
Tuổi đang xuân mà bóng sang già
Đêm nào tôi mộng buồn riêng gối
Anh đã nằm yên dưới mộ hoa
Thi nhạc giao duyên
[15].
.
H
“Đã có lần bố tôi bị bệnh
nặng, bác sĩ Tụng - là bác sĩ của gia đình - điều trị đến khi hết bệnh, đã khuyên
ông nên đổi nghề: làm công chức hay đi dạy học, vì nếu cứ tiếp tục “vắt tim gan
ra” thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nhưng bố tôi nói: nếu để được sống lâu mà
phải ngừng không được sáng tác nữa thì có khác gì đã chết! Nếu như vậy thì sống
lâu làm gì, sáng tác tức là đã sống rồi và sự sống đó mới là bất tử” [14].
22
v
"Chúng tôi sẽ nối lại nghiệp dĩ của
Baudelaire, tâm sự của Nguyễn Du – sự nổi loạn và ra đi của Rimbaud – nỗi cô đơn
của những nhà thơ lãng mạn. Chúng tôi sẽ vén cao bức màn nhân ảnh, viết lên quỹ
đạo của trăng sao – đường về trên cõi chết Thi sĩ tượng trưng chúng tôi sẽ nói lên
và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của thế giới yêu ma,
của những thế giới thần nhân mà cũng là thế giới âu sầu đây nữa" [75].
Dạ Đài
-
-
Phải chống lại sự dạy đời,
sự huênh hoang lớn tiếng. Chống lại thương cảm giả dối, sự miêu tả khách quan.
Thơ tượng trưng gắng gói gém ý tưởng bằng một hình thức dễ nhìn hơn. Tuy nhiên
nó không phải là mục đích thơ. Nhưng dùng nó để phơi bày ý tưởng mà vẫn giữ
được nội dung cơ bản” [theo 59].
Tượng trưng
Baudelaire,
25
thơ ca nông hẹp chỉ miêu tả phong cảnh và những tâm tình thế tục”.
Làm sao người ta cứ khóc mãi trong mối thất tình eo hẹp? Làm
sao người ta cứ khóc mãi, than mãi, rung động mãi theo những con đường rung
động cũ; Làm sao người ta cứ nhìn mãi vũ trụ ở ba chiều, và thu hẹp tâm tư ở bảy
dây tình cảm?” [75]
muôn trùng biển lạ”,
Chúng ta đã mang nặng: những thế hệ
tàn vong ở những triều đình đổ nát - trăm nghìn lớp phế hưng, những sự vật điêu
tàn, biết bao chuyện tang điền đã xáo động hình hài nhân thế; Biết bao thế kỷ đã
trầm tư, núi lở non tàn… Hãy đưa chúng ta đi ngược vào dĩ vãng. Đi cho hết những
trời xa đất lạ. Để chúng ta sống muôn ngàn cõi sống. Để chúng ta có hàng triệu
năm dài và vô vàn kí ức của những dân tộc đã tàn vong, kí ức của cõi đời xa thẳm,
ký ức của những thế kỷ đã lùi xa” [75].
“đôi người cô độc buổi
sơ khai” Tình Thái Cổ”.
vô biên, của muôn nghìn cõi đất”.
im lìm đang nằm ngủ trong
lòng nhân loại: cái tôi thầm kín, phần linh hồn bí hiểm của thi nhân” “trả
lại con người cái trinh bạch đầu tiên, trả lại con người cỏ cây huyền mặc, sông núi
hoang sơ” [75].