Thơ chơi của Tản Đà từ góc nhìn tư duy nghệ thuật Luận văn ThS. Văn học - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

TRẦN THỊ THU HƢƠNG

“THƠ CHƠI” CỦA TẢN ĐÀ TỪ GÓC NHÌN
TƢ DUY NGHỆ THUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
TRẦN THỊ THU HƢƠNG

1.1.2. Tư duy thơ 11
1.1.3. Sự chi phối của quan niệm thơ đối với tư duy thơ 13
1.2. Thơ chơi như một “tiểu thể loại” 15
1.2.1. Thơ chơi là sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố trào lộng 15
1.2.2. Thơ chơi trong văn học dân gian và trong văn học bác học truyền
thống 18
1.2.3. Thơ chơi và chơi thơ 27
1.3. Thơ chơi của Tản Đà 30
1.3.1. Tản Đà – một nhà thơ lớn 30
1.3.2. Quan niệm thơ chơi của Tản Đà 34
1.3.3. Vị trí của thơ chơi trong sáng tác Tản Đà 37

Tiểu kết chương I 39
Chƣơng 2. Cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình trong 40
thơ chơi của Tản Đà 40
2.1. Cảm hứng chủ đạo 40
2.1.1.Cảm hứng về quê hương đất nước và con người thời đại trong thơ
chơi Tản Đà 40
2.1.2. Chữ tài, chữ tình và nhân tình thế thái trong thơ chơi 47 2.2. Cái tôi trữ tình giang hồ, phiêu bạt và ngông nghênh 53
2.2.1. Mẫu nhà Nho tài tử cuối cùng: đi nhiều, thất vọng và chán đời 53
2.2.2. Chơi là một cách giải sầu, giải thoát, tận hưởng 57
2.2.3. Tự hạ mình, giễu mình, yếu tố thị dân con buôn 59
2.3. Những nhân vật trữ tình đặc biệt 65
2.3.1. Nhân vật ông Trời 65
2.3.2. Nhân vật mĩ nhân tưởng tượng 69

Tiểu kết chương II 74

xưa đến nay và mãi đến muôn đời sau vẫn là bạn đồng hành với những hỉ, nộ, ái, ố
của cuộc đời. Dẫu trong xã hội hiện đại ngày nay khi mà con người ta bị “cơ khí
hóa” đến cả tâm hồn – nói theo cách của Nguyễn Tuân thì nàng thơ vẫn khẳng
định một chỗ đứng cho riêng mình. Thơ - nay không chỉ dành cho các văn nhân,
tao nhân mặc khách mà thơ đã là “của chung” mọi người. Thơ không phải để
“ngôn chí” mà thơ để nói đời, nói những cái “ối a ba phèng”, người ta hay gọi là
thơ chơi. Có thể khẳng định thơ chơi là một hiện tượng trong văn học Việt Nam,
góp nên một tiếng thơ mới cho nền văn học đương đại. Nói như nhà thơ Phùng
Quán:
… Một ngày tôi hết nửa ngày say
Nằm dài chiếu vầu ngắm trời mây
Hứng lên múa bút, thơ lên cót
Thơ rượu, thơ tình, thơ cỏ cây !
(Thơ chơi, Phùng Quán)
Thơ rượu, thơ tình, thơ cỏ cây… ngày càng trở nên phổ biến trong cuộc
sống. Do đó chúng ta cần xem xét thơ chơi như một hiện tượng, một thể loại văn
học không thể thiếu để từ đó thấy được đặc điểm cũng như vai trò của nó trong đời
sống và trong văn học.
Không ai có thể phủ nhận được vị trí “bản lề” của nhà thơ Tản Đà trong văn
học giao thời. Chính vì thế Hoài Thanh đã thành kính thắp nén hương chiêu hồn
anh Tản Đà trong hội tao đàn của Thơ mới và trịnh trọng gọi thi nhân là “người
của hai thế kỉ”. Không chỉ khép lại cánh cửa thơ ca của cửa Khổng sân Trình
thống trị hàng nghìn năm và đưa văn học bén duyên với cái Tây, cái mới; Mà

2

trong nn vn hc dõn tc, Tn cũn c xem nh l mt trong nhng ngi
cú cụng phỏt trin loi th chi.
L ngi ti hoa, cú cỏ tớnh c ỏo, cú mt v trớ quan trng trong i sng
vn chng thi ú, Tn ó m ra mt li sng mi, mt cỏch th hin mi

hiện đại, tác giả Nguyễn Bá Thành đưa ra quan niệm, mà theo ông, loại thơ chơi
ông đề cập đến là những bài thơ “mang tính trào lộng, tự trào, đôi khi có ý bông
đùa, giễu nhại”. Nhà nghiên cứu khẳng định: thơ chơi không chỉ xuất hiện như
một loại sáng tác, một “tiểu thể loại”, một chủng loại mà nó như là một thứ gia vị,
một hoạt chất mới có rất nhiều trong các sáng tác thơ hiện nay. Đây là những gợi
mở vô cùng quý báu và là định hướng để chúng tôi thực hiện luận văn này.
Một tài liệu khác bàn về chữ “chơi” trong văn học mà chúng tôi được dịp
tiếp cận đó là bài viết của tác giả Trần Ngọc Hiếu (in lần đầu trên Tạp chí Nghiên
cứu văn học 11-2011, trang 16-27). Trong bài viết của mình, tác giả Trần Ngọc
Hiếu đã cắt nghĩa “sự chơi”, theo quan niệm của Johan Huizinga, được hiểu là
“…một hoạt động tự do, tách ra một cách tương đối khỏi cuộc đời „thường nhật‟
như là một sự „không nghiêm trọng‟ song đồng thời lại có khả năng cuốn hút
người chơi mãnh liệt và tuyệt đối. Nó là một hoạt động không gắn với một quan
tâm vật chất nào và vụ lợi nào. Nó triển diễn bên trong những giới hạn không gian
và thời gian của riêng mình, tuân theo những luật lệ cố định và theo một cách thức
mang tính mệnh lệnh”. Từ diễn giải về sự chơi như thế, có thể thấy chơi được định
nghĩa như là sự đối lập với thực tại, với cái nghiêm trọng, nghiêm túc. Sự chơi tạm
thời đưa con người bước ra khỏi quỹ đạo của cuộc đời thường nhật với những giới
hạn không-thời gian, những quy luật, tất yếu của nó, để thâm nhập vào một thế
giới khác vừa ở trong mà cũng vừa ở ngoài thực tại, mang tính tự trị tương đối (có
không gian-thời gian riêng, có những luật lệ riêng). Con người chơi để được là
mình, để không bị quy giản thành một thực thể duy lý vì “chơi là phi duy lý”. Con
người chơi như một cách để tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, như một
cách để tạo nghĩa cho chính thế giới mà y tồn tại trong đó. Con người chơi để khai
phá sự tự do khi vượt qua những tất yếu của thực tại, để phát hiện những khả thể
của bản thân và của chính thế giới. Với tài liệu này, ý nghĩa của sự chơi trong thơ
ngày càng hiển hiện sắc nét hơn, định hướng cho vấn đề chúng tôi nghiên cứu.

4



theo xu hớng này- kể từ khi thơ Tản Đà xuất hiện cho đến nay nh: Trơng Tửu,
Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Xuân Diệu.
Su v mng l mt c im d thy trong vn chng Tn mt nh
vn mang m du n cỏ nhõn. Trong bi vit Su - Mng v s hin din ca cỏi
Tụi cỏ nhõn [60] Trn Vn Ton khng nh: Du vt ca loi hỡnh vn chng
chc nng vn tn ti Tn mt cỏch khỏ rừ nột (ch yu nhng tỏc phm
thuc loi vn v i) nhng nhng sỏng tỏc cú ý ngha vn hc s quan trng nht
ca ụng li thuc v loi hỡnh vn chng ngh thut. Chớnh nh nhng tỏc phm
thuc loi ny m cỏi Tụi cỏ nhõn bt u hin din nh mt tiờu im thm m
trong nhng sỏng tỏc ca Tn qua hai phm trự thm m chớnh: Su - Mng.
Vn chng ngh thut m nh nghiờn cu núi n õy chớnh l vn chi theo
quan nim ca lun vn, nú i lp vi vn v i. Chớnh mng vn chi, sỏng
tỏc ca ụng ó t n nh cao ngh thut v cú ý ngha quan trng to nờn bn
sc riờng ca thi s.
Khi tỡm hiu s nghip ca Tn , ngoi yu t su v mng, s lóng mn
cng c nhc n nh mt c trng phong cỏch ca thi nhõn. Xuõn Diu qua
bi vit ca mỡnh trong cun Bỡnh lun cỏc nh th c in Vit Nam [9] ó khng
nh cht lóng mn trong ngũi bỳt Tn : Cht lóng mn thỡ vn i vn cú
trong giú mõy sm chp ca tri t, vn cú trong th Nguyn Khuyn, th
Nguyn Trói, Nguyn Du nhng ch ngha lóng mn vi cỏi tụi, cỏi bnh ca
th k vi cỏi bun m mng, cỏi xỳc cm chi vi ca cỏi tụi thỡ phi thi hin
i ca th gii mi cú, Vit Nam, phi nhng chc nm u ca th k 20 vi
Tn , mi cú [9; 631]. Xuõn Diu phỏt hin ra cỏi nhỡn hin thc tinh quỏi v
khụng thiu cỏi hi tỏn gho v nhng cuc chi kỡ thỳ trong th Tn . Nhng
vn th y mang dỏng dp ca th chi t ni dung n hỡnh thc. Nhiu bỡnh
lun sõu sc v tinh t ca Xuõn Diu ó giỳp chỳng tụi trong quỏ trỡnh tỡm hiu
th chi ca Tn .
Nhiu cun sỏch tng hp cỏc bi nghiờn cu v Tn v th vn ca
ụng, tiờu biu l cun Tn , khi mõu thun ln [11]. Cỏc tỏc gi ó ch rừ

chuyển đổi của thời buổi giao thời ảnh hưởng rất lớn đến sáng tác cũng như quan
niệm của Tản Đà. Mảng thơ chơi từ văn học trung đại đến Tản Đà vì thế trở nên rõ

7

nét hơn, đậm đặc hơn và định hình như một thể loại. Trong cuốn sách này, chúng
tôi được tiếp cận cụ thể hơn về cuộc đời, văn nghiệp của một “nhà nho đem văn
chương bán phố phường”. Cuốn sách tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu của các
học giả nổi tiếng như: Nguyễn Khắc Xương, Trần Ngọc Vương, Trần Đình
Hượu… Từ đó tạo cơ sở khoa học chắc chắn để chúng tôi giải quyết những vấn đề
đặt ra trong luận văn.
Tìm hiểu sáng tác của Tản Đà, nhiều tác giả đã chỉ ra sự hiện diện của yếu
tố “chơi”. Trong cuốn Tản Đà trong lòng thời đại, tác giả Huỳnh Phan Anh nhiều
lần nhắc đến thú chơi trong thơ Tản Đà: “Dường như trong văn chương của ông
hàm chứa những cuộc chơi kì thú”, những thú chơi của ông cũng mang nhiều nét
thi vị. Cho nên rất có thể người đọc sẽ dễ dàng rơi vào chỗ lúng túng lo âu khi
nghe Tản Đà nói về ông:
“Văn chương thời nôm na
Thú chơi có sơn hà”
Người đọc lúng túng lo âu vì không biết bằng từng ấy chữ ông muốn ám chỉ về cái
gì, ông muốn giới thiệu với người đọc khía cạnh nào của tâm hồn ông, sự nghiệp
nào của đời ông. Và Huỳnh Phan Anh nhận định: “Có phải là văn chương và thú
chơi nhập làm một ở Tản Đà? Hơn thế nữa, đó chính là văn chương như một thú
chơi, và thú chơi như một thể văn chương. Ở đây không còn ranh giới nào cách
ngăn giữa người thơ và cuộc đời, giữa sống và viết, giữa việc làm thơ và làm
người” [80, 354]. Như vậy, đọc thơ Tản Đà, người ta không thể không nhớ tới, kể
tới cuộc đời của ông trên những bước thăng trầm trải qua khắp các miền đất nước.
Cuộc đời đó, với những biến động và xê dịch nối tiếp nhau không ngưng nghỉ, đã
để lại trên văn chương ông những dấu vết đậm đà. Cuộc đời đó dường như lúc nào
cũng hiển hiện trong thơ ông như một cái bóng trung thành. Tản Đà không ngần

trong suốt cuộc đời ngắn ngủi, gói trọn trong nửa phần thế kỉ của mình, phải chăng
thi sĩ chỉ muốn khẳng định một điều: văn chương và thú chơi chỉ là một. Người
thơ của núi Tản sông Đà đã mang túi đi rong chơi trên khắp ba miền đất nước,
không mệt mỏi, không bỏ cuộc. Tản Đà đã đánh cuộc với đời, với thơ, ông đã sống
và thách thức chính đời sống. Ông đã làm thơ và thách thức chính thơ. Thơ chỉ là
một cuộc chơi hay không là gì cả. Cuộc chơi, đó chính là bộ mặt thật, hiện hữu

9

thật, sự thật của đời sống và của thơ. Cuộc chơi, đó chính là nền tảng của cuộc đời
và tác phẩm.
Qua quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thơ Tản Đà, chúng tôi nhận thấy
đa số ca
́
c nhà nghiên cư
́
u , phê bình chu
̉
yếu tiếp cận thơ ông từ góc độ tiểu sử -
cuộc đời, phong ca
́
ch, thể loại, để đi vào thế giới nghệ thuật , chư
́
chưa có công
trình nào nghiên cư
́
u riêng mảng thơ chơi của Tản Đà từ góc độ tư duy nghệ thuật.
Chính vì vậy, nghiên cư
́
u thơ chơi của Tản Đà từ góc độ tư duy thơ , chúng tôi hy

Chƣơng 1. Khái niệm về tƣ duy thơ và thơ chơi Tản Đà
1.1. Khái niệm về tư duy thơ
1.1.1. Tư duy nghệ thuật
“Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại” hoặc: “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (tiếng
Latin: Cogito, ergo sum) là một phát biểu được René Descartes sử dụng đã trở
thành yếu tố nền tảng cho triết học Tây phương. Câu nói bất hủ và cũng là nguyên
lý chính trong học thuyết của ông - triết học duy lý với tinh thần hoài nghi – một
nguyên lý triết học đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt
là trong lối tư duy lý tính của người phương Tây, thậm chí trở thành một phong
cách sống của con người hiện đại. Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những
hoạt động của tinh thần. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB
Từ điển bách khoa. Hà Nội. 2005): “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất
được tổ chức một cách đặc biệt -Bộ não người Tư duy phản ánh tích cực hiện
thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận.v.v ” Theo triết
học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là
bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất. Theo triết học duy
vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình
độ tổ chức cao.
Trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Bá
Thành dẫn theo Từ điển triết học: “Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con
người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần
16 tỉ tế bào thần kinh”. Tư duy không chỉ là một sản phẩm của xã hội hay chỉ là
sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân
loại. [57; 38]
Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cư
́
u cu
̉
a khoa học tâm ly
́

thuật là sự khôi phục và sáng tạo những biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá
hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối
mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo” [57; 36]. Tư
duy nghệ thuật một mặt là hoạt động nhận thức của nhà văn, là quá trình đấu tranh,
tìm tòi để nhận thức hiện thực và khái quát hiện thực một cách nghệ thuật theo
logic chủ quan, mặt khác tư duy nghệ thuật chính là quá trình nhận thức của độc
giả về tác phẩm nghệ thuật, có thể nói tư duy nghệ thuật là “dạng hoạt động trí tuệ
của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật”[57; 381] Tư
duy nghệ thuật kha
́
c với tư duy khoa họ c là: “Tư tưởng tình cảm không chỉ là năng
lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy…” [57; 54].
Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với ngôn ngữ và được thực hiện
thông qua ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tư duy. Ở thời kỳ sơ
khai, tư duy đuợc hình thành thông qua hoạt động vật chất của con người và từng
bước được ghi lại bằng các ký hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập
hợp, từ cụ thể đến trừu tượng. Hệ thống các ký hiệu đó thông qua quá trình xã hội
hóa và trở thành ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bước phát triển nhảy
vọt của tư duy và tư duy cũng phụ thuộc và ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tư cách là hệ
thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con
người, phát triển cùng với như cầu của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa
lao động.
1.1.2. Tư duy thơ
Tư duy thơ là phương thư
́
c biểu hiện cu
̉
a tư duy nghệ thuật . “Tư duy thơ là
phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn
ngữ”. Đặc điểm quan trọng nhất cu

mà vị trí cu
̉
a ca
́
i tôi trữ tình có sự thay đổi nhất định. Thơ trữ tình coi trọng sư
̣
biểu
hiện cu
̉
a ca
́
i chu
̉
thể đến mư
́
c như là nhân vật số một trong mọi bài thơ. Tư duy thơ
phản a
́
nh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại . Tìm hiểu tư duy thơ là tìm
hiểu sư
̣
vận động cu
̉
a hình tượng thơ. Tư duy thơ là “sự khôi phục và sáng tạo nên
các biểu tượng trực quan để biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do
nhận thức cảm tính quyết định” [57; 61].
Tư duy thơ cơ bản cũng dựa trên ba yếu tố của hoạt động tư duy. Con
người/ nhà thơ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, là chủ thể của hoạt động tư
duy. Khi xem xét nhà thơ trong tư cách là con người xã hội thì yếu tố căn bản chi
phối mạnh mẽ đến tư duy nghệ thuật thơ chính là quan niệm nghệ thuật của nhà

cổ nhân, coi thường hiện tại, coi trọng thiên nhiên, xem thường xã hội. Chính quan
niệm thơ ca đã chi phối tư duy thơ của các thi nhân. Đúng như nhà nghiên cứu
Nguyễn Bá Thành đã nhận xét: Hầu hết các nhà văn, nhà thơ của ta thời kỳ phong
kiến đều là những bậc trí thức, quan công khanh và sĩ đại phu, những người thông
thạo chữ Hán, họ làm văn như một sự thể hiện phẩm chất cao quý, sang trọng của
mình. “Bởi thế văn chương thường có tính cách cao quý, phong cảnh hùng vĩ,
thanh tao (núi sông, hoa cỏ, danh lam thắng cảnh) chứ ít khi tả đến cuộc sống, sinh
hoạt của kẻ bình dân, người lao động và những cảnh vật thông thường trông thấy
hàng ngày quanh mình (cảnh đồng áng, chợ búa, cày bừa, cấy gặt)”… [57; 137].
Tất cả những gì tác giả miêu tả đều chỉ để tượng trưng cho những điều lớn lao. Tư
duy thơ ca trung đại là tư duy hướng nội, các nhà thơ lấy cái tôi làm trung tâm
biểu biện, khoác lên sự vật hiện tượng những màu sắc chủ quan.
Quan niệm thơ sẽ chi phối cách nhìn, cách nghĩ của nhà thơ về cuộc đời.
Bên cạnh đó, cũng phải kể đến sự ảnh hưởng của yếu tố thời đại. Tác giả Nguyễn
Khuyến và Tú Xương có nhiều điểm tương đồng về tư duy thơ. Cả hai ông đều
khai thác cái hài, đều thiên về phê phán đạo đức, sự xuống cấp, lố lăng của cuộc
sống buổi giao thời. Nhưng Tú Xương, sinh ra và lớn lên ở đất Vị Hoàng nên thơ
của ông thiên về phản ánh cuộc sống thị dân, còn Nguyễn Khuyến gắn bó với

14

mảnh đất Yên Đổ, Bình Lục nên thơ ông nhắc nhiều đến tầng lớp quan lại và nông
dân. Tư duy thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương hướng tới chuyện đạo, nhưng đó là
cái đạo của thời nay, cái lỗi đạo của con người, của xã hội vào thời buổi đất nước
suy vi chứ không phải là cái “đạo” mà văn chương xưa nay phải “chở”. Với quan
niệm dùng văn chương để truyền bá tư tưởng độc lập và dân chủ, tư duy thơ của
Phan Bội Châu giai đoạn đầu chịu ảnh hưởng lớn của tư duy chính trị. Ở giai đoạn
cuối đời, tư duy nghệ thuật thiên về tư duy Nho giáo.
Tản Đà xếp thơ vào loại “văn chơi”, để đối lập với “văn vị đời”. Ảnh hưởng
của quan niệm văn học cũ ở Tản Đà biểu hiện rõ nhất trong cách phân biệt sáng

đa dạng như bây giờ. Theo tác giả Nguyễn Bá Thành, thơ chơi là loại thơ “mang
tính chất dân gian, tính chất trào lộng, tính khôi hài” [57; 584]. Thơ chơi, thơ vui
mà chúng tôi muốn nói tới đây là những bài thơ mang tính trào lộng, tự trào, đôi
khi có ý bông đùa, giễu nhại. Trong điều kiện hội nhập, tự do thì thơ chơi là biểu
hiện của tinh thần dân chủ, mặt khác nó thể hiện một xu hướng vui chơi, giải trí,
một trò tiêu khiển khá tiêu biểu của người Việt Nam. Đối tượng hướng tới của thơ
chơi rất phong phú đa dạng, đó có thể là toàn bộ thế giới tự nhiên hay thế giới con
người, có thể là xã hội hoặc thế giới tâm hồn sâu thẳm của chính con người. Nhiều
bài thơ chơi hiện đại viết về những đề tài mang màu sắc dân gian, về cuộc sống vợ
chồng hay tình yêu lứa đôi nhưng không thô tục mà thanh nhã, trong sáng. Tuy
nhiên thơ chơi ở đây không dừng ở thứ thơ thuần giải trí, thơ mua vui, mà tính
chất “chơi” thể hiện ở thái độ đứng cao hơn đời, nhìn cuộc sống bằng con mắt của
một người nắm rõ quy luật, sự biến thiên của cuộc sống, chứ không phải là thứ thơ
của một kẻ tập tành văn chương. Chính vì thế chúng tôi xác định, Thơ chơi ở ranh
giới giữa trào phúng và trữ tình. Thơ chơi mang tính chất uy-mua (humour) có
mức độ phê phán nhẹ nhàng, chủ yếu gây cười, mua vui. Nó khác cái nghịch dị ở
tính chất kín đáo, thâm trầm, không lộ liễu, khác cái châm biếm ở mức độ nhẹ
nhàng, đùa vui, thiện ý. Thơ chơi đối lập với thơ vị đời, thơ chơi giải phóng con
người khỏi những ràng buộc, những khuôn khổ, đạo đức, lễ giáo, để con người
được là chính mình. “Chơi” hay thơ chơi là sản phẩm của trí tuệ con người, là dấu
hiệu của tài năng và biểu hiện của tinh thần lạc quan. Người viết khéo léo, nhẹ

16

nhàng vạch ra các mâu thuẫn, tạo ra cái cười bất ngờ, giúp người đọc nhận ra sự
trớ trêu của tình huống, mỉm cười nhận ra sự đúng sai của tình huống. Chơi thơ là
một cách để người nghệ sĩ tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, qua đó thể
hiện tài năng người nghệ sĩ.
Thơ chơi ở cấp độ thấp nhất là những bài chế nhạo, những lời bông đùa hóm
hỉnh, mượn lời của những bài thơ nổi tiếng nhằm mang đến sự hài hước, giải trí.

không chỉ dừng lại ở sự giải trí, mà nó thể hiện một cách sống, một kiểu hoạt động
trí tuệ của tác giả. Thơ chơi không chỉ xuất hiện như một loại sáng tác, một “tiểu
thể loại”, một “chủng loại”, mà nó như là một thứ gia vị, một hoạt chất mới có rất
nhiều trong các sáng tác thơ hiện nay. Từ các nhà thơ nổi tiếng đến các nhà thơ
mới xuất hiện, “thơ chơi và chơi thơ như là một nét hào hoa của thi nhân, thi sĩ
thời nay” [57; 593]. Thơ chơi đã phá vỡ cái không khí diễn ngôn, đại ngôn, đại tự
sự của những chính khách mà đi vào trạng thái hồn nhiên đời thường để thực sự
giao lưu, trao đổi một cách thân thiên và hiệu quả, bỏ qua mọi cản trở có tính
ngoại giao, xã giao để hòa nhập, thậm chí hòa tan cái tôi vào trong một cái ta có
tính chất phường hội. Và ở đó thơ chơi mang màu sắc của lễ hội carnaval rất rõ.
Con người, cả tác giả và độc giả đều bị cuốn vào một không gian thân mật, thậm
chí suồng sã. Và nhờ đó, thơ được kéo lại gần hơn với cuộc đời. Không chỉ có thi
nhân mới làm được thơ, người có học mới đọc được thơ mà thơ chơi “mở cửa tự
do” cho mọi đối tượng. Chính vì thế, một chức năng quan trọng của thơ chơi chính
là giải trí, sự giải trí vừa là đối với tác giả, vừa là đối với độc giả. Nhưng ngay
trong sự “dường như không nghiêm túc” ấy ẩn chứa những thái độ nghiêm túc,
đáng suy nghĩ về cuộc đời, nhân sinh, về các mối quan hệ. Do đó, thơ chơi là một
bài học có ý nghĩa sâu sắc, nhưng mang màu sắc châm biếm nhẹ nhàng về các giá
trị trong cuộc sống để từ đó, độc giả có thể tự “soi gương” chính mình.
Thơ chơi không đả kích hay châm biếm sâu cay đối tượng, mà thơ chơi chỉ
như một tiếng cười hóm nhẹ, thể hiện thái độ vô tư, hài hước của tác giả trước
cuộc đời. Vì thế, thơ chơi nằm trên ranh giới của thơ trào phúng và thơ trữ tình.
Trào lộng và trữ tình là một nét tiêu biểu của tính cách Việt Nam đã được biểu
hiện trong văn học dân tộc. “Trữ tình là tình cảm chứa chất, con người trữ tình là
con người sống giàu tình cảm” [56, 246]. Trong khi đó, trào phúng là tiếng cười

18

bông đùa, khôi hài, giải trí. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, “về phương
diện mĩ học, cái cười được coi là khoái cảm của thắng lợi, khoái cảm của trí tuệ”

ông hèn yếu, mà lời thơ nhẹ nhàng chỉ như lời nhắc nhở khéo léo. Với những hình
ảnh so sánh tương phản độc đáo giữa “chồng em – chồng người” và thủ pháp nói
quá “rang ngô cháy quần, sờ đuôi con mèo”, dân gian đã khắc họa hết sức ấn
tượng bức chân dung những anh chồng yếu đuối, lười nhác. Những bài ca dao đã
thể hiện cái nhìn phóng khoáng, hài hước của tác giả dân gian về đủ loại đối tượng
trong cuộc sống, từ người vợ, người chồng đến bà già, ông lão, thậm chí là cậu học
trò:
“Học hành ba chữ lem nhem
Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua”
Dân gian không cay nghiệt, không đả phá, lời thơ như chơi, như bông đùa ấy đã
tạo nên tiếng cười sảng khoái nơi người thưởng thức. Bên cạnh đó, văn học dân
gian còn mang nội dung hài hước, cười những người phụ nữ thiếu đoan chính:
“Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều”
Các cặp hình ảnh tương phản đối lập “Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai”
hay “Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều” đã làm bật lên tiếng cười. Những vần ca
dao này đã thể hiện xu hướng vui chơi giải trí, một trò tiêu khiển khá tiêu biểu đối
với người dân Việt Nam. Nó tạo nên tiếng cười giải trí, mua vui. Những tiếng cười
như thế rất cần trong cuộc sống lao động vốn đã nhọc nhằn cực khổ của họ. Những
lời ca cất lên trong môi trường lao động nhọc nhằn, trong hoàn cảnh sống khó
khăn giống như một dòng nước tươi mát, tưới đẫm tâm hồn của người dân cùng
khổ. Chính những vần ca ấy đã giúp họ tạm quên đi nỗi cực khổ để hòa mình vào
bầu không khí tươi vui, lạc quan. Và phải chăng đây là môi trường đầu tiên hình
thành nên những vần thơ chơi, thơ vui. “Những lời nói bông đùa như vậy, Kho
tàng ca dao người Việt đã thống kê được 54 bài”. [56, 256]

20



nhân chưa được chơi và chơi hết mình bởi họ bị ràng buộc bởi thứ luật lệ khắt khe
của quan niệm phong kiến.
Làm thơ ở thời cổ điển, về cơ bản, là chinh phục luật lệ của thể loại; luật
ngặt nghèo, nhiều sức ép là phép thử sự tinh vi, thiện nghệ của nhà thơ như “một
người thợ trong xưởng thợ của mình” (Trần Đình Sử) (Dẫn theo 29). Do đó, trong
văn học trung đại, chơi thơ là gắn với thú “trà dư tửu hậu”. Thi nhân chơi thơ và
làm thơ nhưng vẫn bị gò bó trong những khuôn khổ, luật lệ nhất định chứ chưa
được giải phóng cái tôi ra ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Khi ý thức cá nhân
phát triển, các nhà thơ có xu hướng chơi ngông với đời và từ đó, thơ chơi mới xuất
hiện. Chữ “chơi” xuất hiện với tần số cao trong sáng tác của những gương mặt tải
tử tiêu biểu như Nguyễn Công Trứ, Tản Đà… Nói đến thú chơi, thơ chơi, không
thể không nhắc đến một trong những người khởi đầu, có công tiên phong, đó chính
là Nguyễn Công Trứ. Đặt sáng tác của Nguyễn Công Trứ trong một bối cảnh văn
học văn hoá rộng hơn, ta sẽ thấy thái độ đề cao thú chơi của ông có một ý nghĩa
tích cực, vượt lên cái khuôn khổ đạo lí “khắc kỉ, phục lễ” khô cứng và hẹp hòi.
Nếu như sách thánh hiền xưa đề cao, ca ngợi người quân tử ở sự chăm lo đạo đức
cao thượng mà hạ thấp kẻ tiểu nhân ở chỗ chỉ lo ăn sung mặc sướng thì Nguyễn
Công Trứ lại xem trọng cả hai. Nếu người xưa chủ trương sống khổ hạnh theo kiểu
an bần lạc đạo, khắc kỉ phục lễ, trên kính dưới nhường thì Nguyễn Công Trứ lại
xem cuộc đời này là một cuộc chơi. Chính ở điểm này, Tản Đà đã gặp tiền bối
Nguyễn Công Trứ. Có thể nói rằng đằng sau ngôn ngữ mang hình thức nhà Nho
kia, Nguyễn Công Trứ đã gửi gắm vào đấy cái ý thức cá nhân mới mang quan
niệm nhân sinh tích cực. Bởi thế Nguyễn Công Trứ đã từng phát biểu một cách
thẳng thắn rằng: Thuỳ năng thế thượng vong danh lợi
Tiện thị nhân gian nhất hóa công
(Trên đời ai quên được danh lợi, hẳn chỉ có mình ông trời)
Coi cuộc đời này như một túi tiền hữu hạn mà mãi đến năm 42 tuổi vẫn chưa
thành đạt gì, “Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi/ Vạn sáu tiêu nhăng hết cả rồi”,
còn quá nhiều việc phải làm, nên ông :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status