ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGA
THƠ VIỄN PHƯƠNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
TƯ DUY NGHỆ THUẬT LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Bá Thành
Hà Nội - 2012
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3. Lịch sử vấn đề 5
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Những đóng góp mới của luận văn 8
6. Kết cấu của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY THƠ 10
VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC THƠ CỦA VIỄN PHƯƠNG 10
1.1. Một số vấn đề lý thuyết tư duy thơ 10
1.1.1.Tư duy nghệ thuật 10
1.1.2.Tư duy thơ 14
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nghiên cứu thơ ca từ góc độ tư duy nghệ thuật là một yêu cầu toàn
diện và khá phức tạp đối với các hiện tượng thi ca. Nghiên cứu thơ từ góc độ
tư duy tạo những khả năng tiếp cận mới, khám phá phong cách nghệ thuật của
nhà thơ từ nhiều góc độ khác nhau.
Tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, một dạng hoạt động trí tuệ của
con người nhằm hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật. Tư duy
nghệ thuật cũng là một hoạt động nhận thức có tính nghệ thuật nhằm phản
ánh hiện thực theo một lý tưởng thẩm mỹ. Tư duy thơ là một hình thức biểu
hiện của tuy duy nghệ thuật. Lý luận tư duy thơ là một lý luận khá hấp dẫn và
thú vị. Nó có khả năng mở ra những cánh cửa đi vào thế giới nghệ thuật
phong phú và bí ẩn. Nghiên cứu tư duy thơ là nghiên cứu cội nguồn của tâm
lý học sáng tạo. Từ xưa tới nay, nghiên cứu một tác phẩm thơ ca người ta
thường chú ý nhiều đến thi pháp như: vấn đề phong cách, vấn đề thể loại, thời
gian, không gian nghệ thuật…Nghiên cứu thơ ca từ góc độ tư duy nghệ thuật
vẫn là một vùng đất mới cần được khám phá và phát triển. Có lẽ vì thế, trong
luận văn này chúng tôi muốn tiếp cận vấn đề lý luận tư duy thơ, trên cơ sở
nghiên cứu thơ của một tác giả cụ thể.
1.2. Viễn Phương là nhà thơ áo lính, trưởng thành từ bom đạn chiến
tranh, ông là cây bút tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ của phong trào thơ trẻ
chống Mỹ. Ở Viễn Phương, người đọc cảm nhận được một con người trong
sáng về nhân cách, cao cả trong tâm hồn. Thơ ông là sự vang vọng của một
người con giàu lòng yêu thương đối với những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh,
5
của Viễn Phương nhằm khám phá thêm thế giới nghệ thuật trong ngòi bút của
ông.
Các tập thơ chính được khảo sát:
- Chiến thắng Hòa Bình (trường ca, 1952)
- Mắt sáng học trò (thơ, 1970)
- Như mây mùa xuân (thơ, 1978)
- Phù sa quê mẹ (thơ, 1991).
- Gió lay hương quỳnh (thơ, 2005).
3. Lịch sử vấn đề
Đến nay, chưa có một công trình khoa học nào, bài viết nào đề cập đến
tư duy nghệ thuật thơ Viễn Phương mà chỉ có một số bài viết ngắn về thơ
ông.
Thơ Viễn Phương được coi như một sợi dây “vắt ngang” qua hai cuộc
kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Ngay từ những ngày đầu cầm bút, thơ
Viễn Phương đã được đông đảo bạn đọc biết tới. Những vần thơ được làm
trong nhà lao, được truyền miệng ra ngoài và đã gây chú ý lớn.
Những tập thơ của ông lần lượt ra đời và tạo được sự quan tâm của
đông đảo độc giả. Đã có một vài ý kiến, bài viết đánh giá về Viễn Phương,
trong đó có những bài viết tiêu biểu của các tác giả như: Chế Lan Viên, Ngô
Vĩnh Bình, Triệu Xuân , Mai Văn Tạo, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Nam…
Trong những số ấy, có nhiều bài phê bình giới thiệu, những ý kiến đánh
giá về từng tác phẩm của Viễn Phương, đặc biệt là những tác phẩm xuất hiện
tiêu biểu như Phù sa quê mẹ. Trong tập thơ này, Chế Lan Viên đã nhận định
ca ngợi: “Một đời thơ mấy chục năm trời đang ở trước mặt tôi! Là một người
làm thơ ở giai đoạn cuối của đời mình, từ khó khăn đó tôi rất thông cảm với
tình hình của nhà thơ khi lớn tuổi. Ta gặp lại. Ta dậm chân tại chỗ. Ta yếu
sức đi, lực bất tòng tâm. Ta muốn bỏ nghề. Ta muốn chống lão hóa bằng
tạo thêm” [40].
Trong những năm gần đây, những bài viết, những nghiên cứu về thơ
Viễn Phương thưa dần, nhưng không phải vì thế mà thơ ông mất đi chỗ đứng
trong nền thơ ca dân tộc. Thơ Viễn Phương vẫn tồn tại, vẫn được mọi người
nhớ đến như một quy luật tự nhiên vốn dĩ nó có.
Tiếp nối những bài viết nghiên cứu về thơ Viễn Phương, luận văn sẽ đi
tìm hiểu nghiên cứu một vấn đề mới: Thơ Viễn Phương nhìn từ góc độ tư
duy nghệ thuật nhằm phát hiện ra những tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo nghệ
thuật của Viễn Phương, khẳng định phong cách thơ Viễn Phương, những
đóng góp của ông đối với nền thơ ca Việt Nam đương đại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi vận dụng một cách tổng
hợp những kiến thức về lý luận văn học, văn học sử và một số phương pháp
chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tôi dùng phương pháp này để
thiết lập hệ thống luận điểm. Từ sự phân tích cụ thể tác phẩm, người viết tổng
hợp khái quát để có những kết luận, nhận định, tránh lối áp đặt chủ quan
không cần thiết.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê các thể loại thơ trong các
sáng tác của Viễn Phương.
- Phương pháp so sánh: Chúng tôi so sánh sự vận động tư duy thơ qua
các tập thơ của Viễn Phương, mặt khác so sánh tư duy thơ Viễn Phương với
một số tác giả cùng thời để tìm ra những đặc trưng riêng của thơ ông.
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: Phương pháp này nhằm chỉ rõ
những đặc điểm quan trọng, những quy luật cấu trúc nội tại cả về nội dung và
8
hình thức nghệ thuật. Nhằm có cái nhìn tổng quát tư duy nghệ thuật thơ Viễn
Phương trong nguồn mạch chung của tư duy thơ thời đại.
- Phương pháp phân tích lịch sử: Với phương pháp này, chúng tôi đặt
thơ của Viễn Phương
Chương 2: Nhân vật trữ tình và cảm hứng chủ đạo trong thơ Viễn
Phương
Chương 3: Hệ thống biểu tượng và ngôn ngữ trong thơ Viễn Phương 10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY THƠ
VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC THƠ CỦA VIỄN PHƯƠNG
1.1. Một số vấn đề lý thuyết tư duy thơ
1.1.1. Tư duy nghệ thuật
quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt. Bằng trí tưởng tượng sáng tạo
vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả
thiết, làm sáng rõ các phần còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng
chưa biết” tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế
giới một cách trọn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiệu phát sinh, đồng thời
phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra…
Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực
tiếp” cho nó. Ngôn ngữ đó là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, các hình tượng,
các phương tiện tạo hình và biểu hiện. Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống
năng động gồm các quy tắc sử dụng ký hiệu để gìn giữ tổ chức và truyền đạt
thông tin. Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lý tính, là trí tuệ có
kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận thức. Đặc
điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ. Trên
cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và quan niệm nghệ
thuật lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật. Dạng tư duy này chỉ
phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng, biết cảm một cách nhạy bén về viễn
cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và tài năng sáng tạo
nghệ thuật” [9].
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về tư duy
nghệ thuật, PGS.TS Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ
hiện đại Việt Nam đã bàn về vấn đề tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ
12
nói riêng và đã đi đến kết luận: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng
tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thức khách quan theo
nhận thức chủ quan. Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới
quan và nhân sinh quan của người sáng tạo” [31, tr. 36]. Tư duy nghệ thuật
khác với tư duy khoa học ở chỗ: tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng
của tư duy mà còn là đối tượng của cảm xúc, nghĩa là “năng lượng” tình cảm
còn đọng lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp
hiểu đặc trưng tư duy của chủ thể trong thời đại cụ thể và quan niệm nghệ
thuật của nhà văn và của thời đại đó, khi đã chỉ ra được kiểu tư duy của tác
giả thì bước tiếp theo là chứng minh nó qua các biểu hiện cụ thể như sự sáng
tạo biểu tượng, cách sử dụng ngôn ngữ và những lối biểu hiện khác từ đó
bước đầu có thể chỉ ra được phong cách tác giả.
Tư duy nghệ thuật chứa đựng nhiều yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình
sáng tạo. Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và
nhân sinh qua của người sáng tạo. V.I.Lenin cho biết họ không hề coi nhiệm
vụ của tư duy là làm biến hóa tồn tại mà nhiệm vụ của nó chỉ là sắp xếp tồn
tại về mặt hình thức. Như vậy, tồn tại là nội dung của tư duy nhưng “hình
thức” của nó thuộc về chủ thể sáng tạo. Đối với tư duy khoa học thì “hình
thức” ấy đã được khách quan hóa theo quy luật vận động của khái niệm và
quan hệ logic giữa các khái niệm. Đối với tư duy nghệ thuật “hình thức” ấy là
sự biểu hiện trực tiếp của quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và trình độ văn hóa
của người sáng tạo.
14
1.1.2. Tư duy thơ
Tư duy thơ đã được đề cập đến khá nhiều lần trong các công trình mỹ
học, tâm lý học sáng tác, ngôn ngữ học và lý luận văn học…nhưng chưa thực
sự trở thành một đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học xã hội nào.
Thuật ngữ “tư duy thơ” thậm chí chưa có được một vị trí xác lập trong hệ
thống các thuật ngữ mỹ học hay lý luận văn học. Tuy vậy, tần số xuất hiện
của nó ngày càng nhiều hơn trong các tác phẩm lý luận văn học và thi pháp
học hiện đại.
Thơ ca là một loại hình nghệ thuật nằm trong phương thức biểu hiện trữ
tình, nó được xác lập nhờ mối rung cảm thầm kín của con người đối với cuộc
tôi nội cảm của mình. Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của hình
tượng thơ. Ngôn ngữ đối với nhà thơ vừa có ý nghĩa phương tiện vừa có ý
nghĩa mục đích, nó là một thứ “công cụ” trực tiếp của tư duy. Khả năng tự do
của tư duy thơ phụ thuộc vào yếu tố ngôn ngữ, phụ thuộc vào cấu trúc thể
loại…
Tìm hiểu tư duy thơ chính là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ.
Sự vận động của hình tượng thơ không phải là tùy tiện và vô hướng, tuy rằng
tính chất ngẫu nhiên và tự do của trí tưởng tượng thơ ca là rất cao. Khả năng
tự do của tư duy thơ còn phụ thuộc vào yếu tố ngôn ngữ, phụ thuộc vào cấu
trúc thể loại. “Khả năng tự do của tư duy thơ thể hiện trong khả năng co dãn
của dòng thơ, khả năng kéo dài của lời thơ, ý thơ, câu thơ. Những cấu trúc thể
loại truyền thống giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hành trình vận
động của hình tượng thơ. Thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, thơ lục bát…là những thể
thơ ổn định, lâu đời đã làm đa dạng hóa nhưng đồng thời cũng đơn điệu hóa
các kiểu tư duy thơ” [31, tr. 12]. Tư duy thơ thường được biểu hiện thành
từng dòng phát ngôn trên văn bản và từng quãng ngắt hơi trong khi đọc. Như
16
vậy, sự tồn tại của dòng thơ đã làm ảnh hưởng đến tư duy thơ, tính nhạc điệu
của ngôn ngữ cũng chi phối đến tư duy thơ. Muốn tìm hiểu thơ và tư duy thơ
của các thời đại, các dân tộc hay các tác giả khác nhau, chúng ta cần tìm hiểu
những đặc trưng tư duy của từng chủ thể ở mỗi dân tộc và thời đại. Mặt khác,
chúng ta cùng tìm hiểu thơ ở mỗi người, mỗi thời kỳ lịch sử. Quan niệm thơ
sẽ chi phối tư duy thơ. Nếu coi thơ là một thứ vũ khí thì tư duy thơ phải mạnh
mẽ, ngôn ngữ thơ phải sắc nhọn. Nếu coi thơ là món ăn tinh thần, thơ phải
ngọt ngào, phải nhuần nhị. Vậy thì quan niệm nghệ thuật có một thứ vai trò
quan trọng trong việc xác định bản chất của thơ và tư duy thơ.
Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại. Về
mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động
của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của
báo ở Sài Gòn như Nhân loại, Hừng sáng, Công lý.
Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, ông ở lại hoạt động nội thành đến
năm 1960 thì bị giặc bắt, giam ở các nơi: đề lao Gia Định, Chí Hòa, Phú
Lợi… Năm 1962, ông ra tù, vào vùng giải phóng Củ Chi, là Tổng thư ký Hội
Văn nghệ giải phóng Sài Gòn.
Sau khi đất nước thống nhất, Viễn Phương lần lượt giữ chức vụ Chủ
tịch Hội Văn nghệ Giải phóng thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ban chấp
hành Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn thành phố Hồ
Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố, Phó bí
thư Đảng đoàn Văn nghệ thành phố, Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố,
Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1996, Viễn Phương được bầu
làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh;
18
Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt
Nam.
Nhà thơ Viễn Phương đã được tặng nhiều Huân chương cao quý và các
giải thưởng văn học: Giải Nhì giải thưởng Cửu Long Nam Bộ (1954): Trường
ca Chiến thắng Hòa Bình; Giải Nhì cuộc thi viết cho thiếu nhi do Mặt trận Tổ
quốc thành phố Hồ Chí Minh tổ chức: Truyện Lòng mẹ; Giải thưởng Hội Nhà
văn thành phố Hồ Chí Minh; Tặng thưởng Ủy Ban toàn quốc Liên hiệp các
Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Giải thưởng Nhà nước đợt 1 năm 2001:
Truyện ký Quê hương địa đạo; Giải Nhì cuộc thi viết về Bà mẹ Việt Nam anh
hùng do Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Liên hiệp Văn học Nghệ thuật
và Hội Phụ nữ thành phố tổ chức: Truyện ký Chuyện đời má Bảy; Giải nhì
(không có giải nhất): Văn bia Đền Tưởng niệm Bến Dược – Củ Chi.
Sinh thời, Viễn Phương tâm sự: “Trước năm 1975, tôi hoạt động khi ở
chiến trường, khi trong lòng giặc. Thời gian này, chủ yếu tôi viết về chiến
tranh hoặc viết về đấu tranh. Tôi luôn quan niệm ngòi bút là vũ khí. Từ sau
nguyên được gắn kết với tâm hồn nhạy cảm lãng mạn, lối quan sát trí tuệ, tinh
đời, cách thể hiện giàu chất hài hước, đầy lạc quan, ngay cả khi viết về những
hoàn cảnh ác liệt nhất trong chiến tranh. Trong thơ, Viễn Phương ít có sự bứt
phá, thơ của ông giản dị, thiên về tự sự, phản ánh hiện thực. Sau chiến tranh,
những năm cuối đời, thơ ông bay bổng hơn, nặng về tình, giàu xúc động
nhưng vẫn quen trong cách thể hiện cũ. Văn của ông thì khác. Viễn Phương
không có tiểu thuyết, có một ít truyện ngắn. Ông chuyên viết ký và những
chuyện người thật việc thật, những sự tích mà ông tận mắt chứng kiến. Cả đời
viết văn xuôi, ông chỉ viết những gì mình thuộc, những gì thôi thúc. Chính
nhờ thế mà Viễn Phương đã tạo nên không ít những trang văn xuôi lấp lánh
văn chương, lấp lánh tình đời. So với những nhà viết văn xuôi quê gốc Nam
20
Bộ, Viễn Phương là một trong những gương mặt nổi bật. Nhà thơ Chế Lan
Viên trong lời tựa cho tập thơ Phù sa quê mẹ (NXB Văn học, 1991), viết ngày
3-7-1988, đã đánh giá cao văn xuôi Viễn Phương: “… Trước khi ra miền Bắc,
thì những năm dữ dội nhất, anh ở vùng dữ dội nhất là đất thép Củ Chi! Nhờ ở
vùng này, Viễn Phương sáng tác được nhiều bài văn xuôi rất xuất sắc. Theo
tôi, anh cũng là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu của miền Nam.
Tiếc rằng, các nhà phê bình nghĩ rằng anh là nhà thơ, nên không chú ý điểm
ấy. Cả một đời sáng tác, trong 17 đầu sách xuất bản, Viễn Phương có tới 10
tập văn xuôi. Rõ ràng đóng góp của Viễn Phương cho văn xuôi là đáng khẳng
định. Tìm hiểu sự nghiệp văn chương của Viễn Phương, tôi đề nghị mọi
người nên gọi ông là Nhà văn!” [40].
Quá trình sáng tác thơ của Viễn Phương được thể hiện bằng hàng loạt
tác phẩm, trong đó có nhiều bài thơ đã đi cùng năm tháng như Viếng lăng
Bác. Thơ Viễn Phương như sợi chỉ vắt ngang từ những năm tháng chiến tranh
đến thời kỳ hòa bình, nó như những bài ca viết về cuộc sống, con người Việt
Nam:
Chiến thắng Hòa Bình (trường ca, 1952)
vẫn tiếp tục làm thơ. Tôi làm thơ không giấy bút chỉ âm thầm làm thơ bằng trí
nhớ và chí căm thù. Thơ từ thuở ấy là đồ quốc cấm, bọn chúa ngục luôn tìm
cách hủy hoại, nhưng thơ tù vẫn tồn tại vì nó được in sâu vào trong tim trong
máu của anh em. Về sau ra tù, tôi được biết thơ tù của tôi có bài được truyền
ở Chí Hòa, có bài đã vào tận chuồng cọp Côn Ðảo. Trong tập Hào khí Ðồng
Nai cụ Ca Văn Thỉnh có chép lại bài thơ tù truyền khẩu mà cụ cho có lẽ tác
giả đã chết rồi. Tôi đọc bài thơ và nhận ra đó là bài thơ của chính mình” [40],
hay “Lúc tôi 25 tuổi, bọn Mỹ Diệm xử án tử hình rồi chúng chuyển thành
chung thân khổ sai và đày ra nhà tù Côn Ðảo. Trong chuồng cọp, tôi bị bắt
22
buộc phải nằm suốt ngày. Trên vách chuồng cọp tôi thấy chi chít những chữ.
Có những dòng được ghi bằng máu, có những chữ viết bằng than Tôi bỗng
đọc ra một bài thơ dài của ai không biết vì không thấy ký tên, ghi rải rác chỗ
này một đoạn, chỗ kia một đoạn. Tôi lẩm nhẩm hoài trong hoàn cảnh sống
như thế nên đã thuộc lòng ” [40].
Thơ Viễn Phương đã đi vào lòng người đọc ngay từ những ngày đầu
trong cuộc đời cầm bút của ông. Thơ Viễn Phương có nhiều đóng góp tiêu
biểu cho sự nghiệp cầm bút của cả cuộc đời ông. Ngay từ khi còn ngồi trên
ghế nhà trường, mỗi chúng ta đã được tiếp cận bài thơ nổi tiếng Viếng lăng
Bác và khi bài thơ đó được phổ nhạc, thì mỗi người Việt Nam lại biết đến nó
nhiều hơn - một bài thơ sống trong lòng người đọc. Viếng lắng Bác nói riêng
và thơ Viễn Phương nói chung sẽ còn sống mãi trong lòng mỗi độc giả Việt
Nam.
1.2.4. Quan niệm thơ của Viễn Phương
Từ xưa đến nay, khi sáng tạo người nghệ sĩ tất yếu phải có một quan
niệm về nghệ thuật. Thơ là gì? Là câu hỏi lớn mà mỗi nhà thơ trong suốt
hành trình sáng tạo luôn nung nấu, trăn trở và tìm tòi để có lời giải, nhiều khi
đã kết tinh thành những tuyên ngôn nghệ thuật bất hủ.
Viễn Phương là một nhà thơ của nền văn học Việt Nam hiện đại, một
Công trình nghiên cứu về thơ của Viễn Phương chưa nhiều, đặc biệt là
chưa có ai tiếp cận thơ ông dưới góc độ tư duy nghệ thuật. Trong luận văn
này, chúng tôi tập trung nghiên cứu thơ Viễn Phương và những vấn đề có ý
nghĩa nhận thức luận của ông dưới góc độ tư duy nghệ thuật, đây là một
hướng tiếp cận mới.
Nghiên cứu tư duy thơ Viễn Phương qua hệ thống quan niệm thơ đến
sự vận động và phát triển của cái tôi trữ tình, hệ thống biểu tượng nhằm tìm ra
những nét khác biệt trong cách cảm, cách nghĩ, những tìm tòi sáng tạo của