ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
NGUYỄN THỊ THÚY
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC NỮ TÁC GIẢ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
- NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
NGUYỄN THỊ THÚY
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC NỮ TÁC GIẢ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
- NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN HẢI YẾN
gian qua.
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 7
4. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 8
6. Đóng góp của đề tài....................................................................................... 8
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 9
NỘI DUNG..................................................................................................... 10
Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG ....................................................... 10
1.1. Thiên nhiên trong quan niệm Việt Nam thời trung đại ..................... 10
1.1.1. Quan niệm của tam giáo về quan hệ thiên – nhân................................ 10
1.1.2. Thiên nhiên trong sáng tác văn học trung đại Việt Nam ...................... 13
1.2. Nhìn lại “nữ lƣu” trong lịch sử văn chƣơng thời trung đại ............... 35
1.3. Những nét phác về phê bình sinh thái và tiềm năng của nó trong
nghiên cứu văn chƣơng ................................................................................. 41
1.3.1. Đôi nét về phê bình sinh thái ................................................................ 41
1.3.2. Phê bình sinh thái với nghiên cứu văn chương..................................... 44
Tiểu kết ........................................................................................................... 45
Chƣơng 2 TOÀN CẢNH THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA
không chỉ ở các bâ ̣c nam nhân của Viê ̣t Nam thời trung đa ̣i . Những tác gia nữ
đầy tài năng nhƣ Hồ Xuân Hƣơng, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm,
Ngô Chi Lan, Trƣơng Thị Trong, Nguyễn Tĩnh Hòa… đều có nhiều đóng góp
cho tiến trình vận động , phát triển của văn học nƣớc nhà nói chung và mảng
sáng tác này nói riêng . Sƣ̣ khác biê ̣t về giới tiń h hiể n nhiên sẽ chi phố i nhiề u
phƣơng diê ̣n của sáng tác mà chủ đề thiên nhiên là mô ̣t . Khảo sát chủ đề này
ở các cây bút nữ vì vậy sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề xung quanh thái độ
của con ngƣời với thế giới tự nhiên , vai trò của tƣ̣ nhiên trong tiǹ h cảm , nhâ ̣n
thƣ́c của con ngƣời ; thêm nƣ̃a , tìm hiểu cách nhìn , cách phản ánh thiên nhiên
ở các tác giả nữ thời trung đại còn góp phần hiểu thêm đặc thù văn hoá giới
của giai đoạn này.
1.3. Những dẫn nhâ ̣p phê biǹ h văn ho ̣c sinh thái ho ̣c gầ n đây vào đời
số ng nghiên cƣ́u văn ho ̣c Viê ̣t Nam đã đem la ̣i nhi ều gợi ý cho việc nhìn lại
thế giới tự nhiên trong văn chƣơng. Đối tƣợng của hình th ức phê biǹ h khá
mới mẻ này là nhƣ̃ng sáng tác thể hiê ̣n thiên nhiên trong tiń h nguy cơ ở cuô ̣c
số ng bin
̀ h thƣờng của con ngƣời . Nói cách khác, phê bình sinh thái tập trung
chú ý vào những tác phẩm văn chƣơng thể hiện cảm quan bất an của con
ngƣời về mô ̣t môi sinh đang bi tổ
̣ n thƣơng , trong đó thiên nhiên là mô ̣t hiǹ h
1
ảnh chủ yếu ; hoă ̣c tim
̀ hiể u chiề u sâu văn hoá , tƣ tƣởng của cách con ngƣời
hình dung thiên nhiên , tác động vào tự nhiên . Ngoài ra , với tính chấ t liên
ngành, phê bình sinh thái luôn có xu hƣớng kế t hơ ̣p với nhƣ̃ng tiế p câ ̣n khác ,
nhƣ: giới, chủng tộc, dân tô ̣c… Đó là mô ̣t kiể u tiế p câ ̣ n hƣ́a he ̣n nh ững nhìn
nhận khả th ủ trong viê ̣c tìm hiể u sáng tác của các tác gi ả nữ Việt Nam thời
trung đại ở mảng thiên nhiên.
Thứ nhất về lịch sử nghiên cứu thơ văn của Hồ Xuân Hƣơng. Hồ Xuân
Hƣơng đƣợc mệnh danh là bà chúa thơ Nôm, tên tuổi của bà cũng đƣợc đặt
cạnh những đại thi hào của dân tộc nhƣ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…Thơ Hồ
Xuân Hƣơng là một hiện tƣợng độc đáo, không dễ bị trộn lẫn. Với số luợng
sáng tác không nhiều nhƣng ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX đã có
nhiều chuyên luận, bài nghiên cứu, bài phân tích, bình giảng, luận văn, luận
án nghiên cứu về thơ bà. Nhiều cuốn sách viết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác
của Hồ Xuân Hƣơng đƣợc tái bản nhiều lần1.
Nói về thiên nhiên trong sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng, ngay từ những
năm 1955 trong cuốn Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và giáo
dục (1955) Văn Tân đã khẳng định Hồ Xuân Hƣơng là nhà thơ tả chân và yêu
thiên nhiên. Trong cuốn Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của Lê Chí Viễn (1987)
nhà nghiên cứu Hoài Nam đánh giá Hồ Xuân Hƣơng là một nhà thơ yêu thiên
nhiên và thiên nhiên trong thơ bà là thiên nhiên luôn dồi dào sức sống2. Bên
cạnh đó, nhiều luận án tiến sĩ đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của thơ
Hồ Xuân Hƣơng nhƣ: Lý giải cái dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương từ góc
độ tín ngưỡng phồn thực (Đỗ Lai Thúy, 1994), Hồ Xuân Hương và nền văn
hóa dân gian (Nguyễn Thị Ngọc, 1996), Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ
Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương (Trƣơng Xuân Tiếu, 2002). Trong đó Luận
1
Nhƣ Hồ Xuân Hương tiểu sử văn bản - Tiến trình huyền thoại dân gian hóa của Đào Thái Tôn năm 1999,
Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của tác giả Nguyễn Lộc năm 2005, hay Hồ Xuân
Hương về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu (2003)…
2
Lê Trí Viễn (chủ biên) - Lê Xuân Lít - Nguyễn Đức Quyền (1987), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, NXB Sở
Giáo dục Nghĩa Bình, tr.162.
3
Quan của Bội Tinh xuất bản năm 1996…
3
Đỗ Lai Thúy (in lầ n thƣ́ hai, 2010), Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, NXB Văn ho ̣c, Hà Nội.
4
Khác đôi chút với Hồ Xuân Hƣơng, thiên nhiên trong thơ Bà Huyện
Thanh Quan đƣợc các học giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Trong cuốn Bà
Huyện Thanh Quan , Đoàn Thị Điểm , Nguyễn Gia Thiều tuyển chọn và trích
dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà nghiên cứu văn học
Việt Nam và thế giới (1991), soạn giả Tiến Quỳnh đã tập hợp những bài phê
bình, bình luận về thơ Huyện Thanh Quan, trong đó những bài thơ viết thiên
nhiên của Huyện Thanh Quan đƣợc nhiều nhà nghiên cứu phân tích. Chẳng
hạn, nhà nghiên cứu Phạm Văn Diêu cho rằng “tâm hồn bà là một không gian
lặng lẽ đìu hiu và thơ bà là tiếng lòng sầu muộn, những hơi thở dài chán nản”
[48, tr.8] và vì thế nên khung cảnh trong thơ văn bà Huyện Thanh Quan
thƣờng là thu cảnh và chiều tà, những cảnh mờ nhạt của cổ họa, cổ thi [48].
Một nữ tác gia nữa cũng làm tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên
cứu, đó là Đoàn Thị Điểm. Bà có biệt hiệu là Hồng Hà Nữ sĩ, một nữ sĩ tài
hoa hội tụ đủ công, dung, ngôn, hạnh, nổi tiếng về tài thơ văn đối đáp. Theo
các nhà văn bản học thì bà sáng tác nhiều nhƣng tản mát phần lớn, ngoài bản
dịch Chinh phụ ngâm bà còn là tác giả của tập truyện Truyền kì tân phả và
một số ít câu văn câu đối chữ Hán và chữ Nôm. Viết về Đoàn Thị Điểm ngoài
Thơ tình nữ sĩ Việt Nam (Kiều Văn tuyển chọn), Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm [12],
Nữ lưu văn học sử [11] còn một số luận án nhƣ Về từ ngữ Hán Việt trong bản
dịch Nôm Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm4, Nhân vật người phụ nữ
trong Truyền kì Tân phả và Lan trì kiến văn học5, Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm
bình sinh thái ở Việt Nam
Đƣợc manh nha vào những năm 70 của thế kỷ XX nhƣng phải đến
những năm 90 của thế kỷ XX phê bình sinh thái mới thực sự trở thành một
khuynh hƣớng nghiên cứu văn học ở Mỹ và tiếp đó lan ra nhiều nƣớc trên thế
giới. Theo Scott Slovic, phê bình sinh thái “khảo sát cặn kẽ những ngụ ý về
môi trƣờng sinh thái và quan hệ giữa con ngƣời - tự nhiên trong bất kỳ văn
bản văn chƣơng nào, kể cả những văn bản (thoạt nhìn) dƣờng nhƣ không để ý
gì đến thế giới con ngƣời” [39]. Nhƣ vâ ̣y, phê bình sinh thái ra đời bổ sung
thêm mô ̣t hƣớng tiế p câ ̣n văn chƣơng, và hứa hẹn đem lại những gợi ý đối với
viê ̣c “đo ̣c” la ̣i các sáng tác thời trung đa ̣i vố n hiǹ h dung mô ̣t quan niê ̣m con
ngƣời hài hoà với thế giới tƣ̣ nhiên.
Ở Việt Nam từ sau đổi mới, giới nghiên cứu khá cởi mở trong việc tiếp
thu các luồng tƣ tƣởng, học thuyết mới nhƣng đối với phê bình sinh thái thì
vẫn còn nhiều dè dặt. Lí giải hiện tƣợng đó, Đỗ Văn Hiểu với bài viết Phê
bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012)
đã chỉ ra những đặc điểm riêng khiến phê bình sinh thái gặp trở ngại cho sự
6
phát triển, mở rộng ở Việt Nam nhƣ: sự cách tân về tƣ tƣởng nòng cốt,
chuyển đổi từ tƣ tƣởng “nhân loại trung tâm luận” sang lấy “sinh thái trung
tâm luận” làm nền tảng, mang sứ mệnh mới là “nhìn nhận lại văn hóa nhân
loại”, đồng thời có nguyên tắc mỹ học riêng và xác lập đối tƣợng, phạm vi
nghiên cứu riêng.
Những dẫn nhập về phê bình sinh thái đƣợc giới thiệu ở Việt Nam chủ
yếu là qua các bài dịch của Đỗ Văn Hiểu và Hải Ngọc nhƣ Những tương lai
của Phê bình sinh thái và văn học [39] [40], Phê bình sinh thái cội nguồn và
sự phát triển [3]… và Trần Đình Sử với bài viết Phê bình sinh thái tinh thần
trong nghiên cứu văn học hiện nay [33] thì tƣ tƣởng sinh thái đã đƣợc vận
các tác phẩm đƣợc tuyển chọn trong cuốn Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam
với các tác giả nữ nhƣ: Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Trƣơng Thị
(Ngọc) Trong, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Tĩnh Hòa…. Ngoài ra, ngƣời viết
cũng tham khảo các tuyể n tâ ̣p thơ văn riêng biê ̣t của những nhà văn nƣ̃ tiêu biể
. u
- Phạm vi vấn đề : Luâ ̣n văn chỉ tâ ̣p trung tìm hiể u các sáng tác của các
nhà văn nữ thời trung đại viết về thiên nhiên với tƣ cách một môi trƣờng sống
chứ không tìm hiểu toàn bộ thế giới văn thơ của họ.
Trong thực tế, đề tài có phầ n liên quan đ ến một hƣớng tiếp cận khác là
giới và đòi hỏi phải đƣợc xử lý cả từ góc nhìn nhƣ vậy mới thấu đáo. Tuy
nhiên, do khuôn khổ hạn hẹp của một tiểu luận Cao học, chúng tôi xin đƣợc
gác lại đòi hỏi này, hy vọng sẽ có dịp trở lại trong một dịp khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Do đố i tƣơ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cƣ́u quy đinh
, phƣơng pháp chủ yếu
̣
của luận văn là vận dụng kết hợp giữa phƣơng pháp văn học sử và phƣơng
pháp liên ngành để giải quyết vấn đề. Đồng thời, luâ ̣n văn sẽ kế t hơ ̣p phân tić h, lý
giải các sáng tác về thiên nhiên của giới nữ cầm bút thời trung đại Việt Nam với
nhƣ̃ng gơ ̣i ý của phê bin
̣c thi thoảng với vấn đề giới).
̀ h sinh thái ho(và
Tấ t cả những tiế p câ ̣n trên sẽ đƣơ ̣c cu ̣ thể hoá thành thao tác nhƣ : phân
tích, thống kê, so sánh, để từ đó có cái nhìn chi tiế t , đầ y đủ và chiń h xác các
nô ̣i dung nghiên cƣ́u.
6. Đóng góp của đề tài
Với đề tài này, Luâ ̣n văn sẽ góp phầ n làm rõ thêm mô ̣t vài phƣơng diê ̣n
của đời sống văn chƣơng Việt Nam thời trung đại , nhƣ: đă ̣c điể m của nhóm
tác giả nữ trong cách cảm nhận và hình dung môi trƣờng thiên nhiên
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Thiên nhiên trong quan niệm Việt Nam thời trung đại
1.1.1. Quan niệm của tam giáo về quan hệ thiên – nhân
Quan niệm của Phật giáo về mối quan hệ thiên - nhân
Phật giáo, đặc biệt là Thiền tông, đã tạo nên sự hòa hợp con ngƣời và
thế giới bên ngoài , trong đó có tự nhiên, xóa bỏ ranh giới ta – vật, nội tâm –
ngoại cảnh, trạng thái hòa hợp đó cùng với quan niệm “đối cảnh vô tâm”
đƣợc coi là chuẩn mực trong cách ứng xử với tự nhiên, xã hội. Bên cạnh đó,
Phật giáo coi thiên nhiên là sự bảo đảm cho trạng thái cân bằng của con ngƣời
vì vậy con ngƣời phải có nghĩa vụ đối với thế giới tự nhiên. Nói cách khác
đây là vấn đề đạo đức sinh thái mà Phật giáo đã đặt ra cho con ngƣời.
Phật giáo coi chúng sinh bình đẳng ở Phật tính. Phật giáo Đại thừa xem
vạn pháp đều có Phật tính. Vạn pháp này không chỉ bao gồm loài vật hữu tình
mà bao gồm cả thực vật, vật vô cơ không có tình cảm ý thức. Đại sƣ Trạm
Nhiên (711–782) của Thiên Thai Tông định nghĩa rõ ràng: “Loài vô tình có
tính giác là chỉ sông núi, đất đai, gạch đá… không có tình cảm ý thức đều có
phật tính” [17, tr.128]. Thiền Tông còn nhấn mạnh hơn “Hoa vàng thơm ngát
không gì chẳng phải là Bát – nhã, trúc biếc xanh tƣơi há lại chẳng phải là
Pháp thân” [17, tr.128] Dựa trên những nguyên lý này ta có thể thấy theo Phật
giáo một cành cây, ngọn cỏ đều có giá trị tồn tại của nó, hành vi của con
ngƣời phải có lợi ích cho sự cộng tồn của vạn vật, yêu quý thiên nhiên cũng
chính là bổn phận của mỗi con ngƣời.
Hơn thế, Phật giáo chủ trƣơng hiếu sinh, luôn răn bảo con ngƣời không
sát sinh. Theo thuyết vũ trụ học của Phật giáo thì có hàng hà sa số các thế giới
và chủng loài, vì vậy mỗi con ngƣời cần phải mở rộng tấm lòng từ bi hỉ xả
10
của mình với tất cả các loài dù là có nhìn thấy hay không nhìn thấy. Tất cả các
ngƣời đứng đầu vạn vật [13, tr.11]. Mặc dù xếp con ngƣời vào vị trí hàng đầu
trong tự nhiên nhƣ vậy nhƣng Nho giáo cũng nhận thấy rằng con ngƣời và tự
nhiên luôn hài hòa với nhau. Nho giáo nhìn vũ trụ thành trời, đất và ngƣời,
nhƣng cho rằng ba bộ phận này hài hòa thể hợp trong một “thiên nhân hợp
nhất”. Theo đó mỗi bộ phận trên cơ thể con ngƣời đều tƣơng ứng với một
thực tiễn tự nhiên, mỗi đặc tính của con ngƣời sẽ là một đặc tính của thiên
nhiên phù hợp, con ngƣời có cái gì thì trời có cái đó và ngƣợc lại "Nhân hữu
tam bách lục thập tiết, ngẫu nhiên chi số dã; hình thể cốt nhục, ngẫu địa chi
hậu dã; thƣợng hữu nhĩ mục thông minh, nhật nguyệt chi tƣợng dã; thể hữu
không khiếu lý mạch, xuyên cốc chi tƣợng dã" (Ngƣời có ba trăm sáu chục
đốt xƣơng, số đó tƣơng phù với số của trời; hình thể xƣơng thịt của ngƣời hợp
với hình thể dày dặn của đất, trên có tai mắt sáng tỏ là hình tƣợng của mặt
trời, mặt trăng, đó là hình tƣợng của sông, hang) [13, tr.15-16].
Nhìn chung, triết lý Nho giáo về con ngƣời cố gắng chứng minh con
ngƣời luôn gắn liền với trời đất, là hạt nhân của trời đất, hòa quyện với trời
đất, là cầu nối giữa trời và đất. Con ngƣời không chỉ đƣợc hình dung là sản
phẩm của giới tự nhiên một cách trừu tƣợng mà còn đƣợc cụ thể hóa là kết
quả của sự giao cảm giữa trời và đất, giữa âm và dƣơng.
Quan điểm của Đạo giáo về mối quan hệ thiên - nhân
Nhƣ đã nói ở trên, Nho giáo là một học thuyết đạo đức, chính trị, chủ
trƣơng cai trị bằng Đức thông qua những quy ƣớc ứng xử gọi là Lễ. Quan
niệm này bị Lão Tử “phản ứng” lại bởi tính chất “nhân vi”. Thay vào đó, Lão
Tử chủ trƣơng phải thuận theo tự nhiên.
Đối với Lão Tử, nguyên thủy của vũ trụ và vạn vật là Đạo. Đạo là thể
vô hình vô tƣớng, không sinh không diệt, hằng hữu đời đời. Ở chƣơng bốn,
sách Đạo đức kinh ông viết: “Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất danh, uyên hề
tự vạn vật chi tôn. Tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần,
12
đậm nhất ở thời kỳ Lý - Trần. Vì vậy, ở đây chúng tôi xin khoanh lại phạm vi
khảo sát trong giai đoạn Lý - Trần nhƣ một trƣờng hợp tiêu biểu về ảnh
hƣởng của quan niệm Phật giáo (Thiền) đối với sáng tác văn chƣơng thời
trung đại.
Vào thời Lý, Phật giáo chiếm vị trí độc tôn trong đời sống tinh thần dân
tộc. Văn học thời kỳ này vì thế mang đậm tinh thần Phật giáo với lực lƣợng
sáng tác chủ yếu là các nhà sƣ. Đáp ứng nhu cầu truyền bá rộng rãi đạo Phật
các nhà sƣ đã tìm cách thể hiện những triết lý Phật giáo vốn trừu tƣợng qua
hình thức các bài kệ ngắn gọn, sinh động. Và họ đã tìm thấy một phƣơng tiện
hữu hiệu là văn thơ, đặc biệt là thơ.
Phật giáo cho rằng vạn vật trong vũ trụ này cùng chung một bản thể.
Cùng một bản thể mà lại biến hóa và biểu hiện dƣới muôn vàn dạng thức khác
nhau. Cũng nhƣ con ngƣời, trời đất và muôn loài chẳng qua chỉ là cùng một
thể chất. Với quan niệm ấy, văn học Thiền Tông đã dễ dàng đem nhập con
ngƣời làm một với thiên nhiên. Đoàn Văn Khâm trong Vãn Quảng Trí thiền
sư đã tỏ lòng thƣơng tiếc nhà sƣ vừa qua đời:
Đạo lữ bất tu thƣơng vĩnh biệt,
Viện tiền sơn thủy thị chân hình
(Các bạn tu hành chớ nên đau thƣơng vì nỗi vĩnh biệt,
Núi sông trƣớc chùa trông xa, ấy là hình ảnh chân thực của
ngƣời)
Nhƣ vậy quan niệm của Phật đồng nhất bản thể của con ngƣời với thiên
nhiên. Cho dù nhà sƣ có mất đi thì đó chỉ là sự hủy diệt về thân xác, còn bản
thể của nhà sƣ vẫn tồn tại mãi trong thiên nhiên, cỏ cây, sông núi.
Hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong thơ văn thời Lý không chỉ giúp
các nhà sƣ giảng dạy lý thuyết nhà Phật của họ mà còn bày tỏ quan niệm về
sự hài hòa giữa vạn vật và con ngƣời. Trong bài Cáo tật thị chúng, Mãn Giác
14
Ngƣời không giác ngộ thƣờng sợ hãi, đau buồn trƣớc cái chết. Còn bậc
tu hành có thể vƣợt lên trên “sự biến động vô thƣờng” mà đến với cái đại ngã
của vũ trụ. Đó là tinh thần “vô úy” chấp nhận sự kết thúc của một dạng thức
tồn tại, hƣớng tới bản thể trƣờng tồn. Đó là sự hài hòa giữa nội tâm và ngoại
cảnh đạt đến cảnh giới cao của Phật giáo . Trạng thái này đƣợc nhánh Phật
giáo Thiền tông của Viê ̣t Nam thể hiê ̣n khá nhiề u ở s ự hài hòa giữa con ngƣời
và thiên nhiên trong thơ văn.
Không chỉ thể hiện những yếu chỉ của Phật giáo mà sáng tác của các
nhà sƣ thời kỳ này còn thể hiện mối lo đối với đất nƣớc:
Quốc tộ nhƣ đằng lạc,
Nam thiên lí thái bình.
Vô vi cƣ điện các,
Xứ xứ tức đao binh.
(Ngôi nƣớc nhƣ dây leo quấn quýt
Ở góc trời nam mở ra cảnh thái bình
Dùng đƣờng lối vô vi ở nơi cung điện
Thì khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh)
(Quốc sƣ Pháp Thuận - Quốc tộ - Vận nƣớc)
Tác giả mƣợn hình ảnh cây đằng lạc – mô ̣t sinh vâ ̣t t ự nhiên để nói về
mối lo đối với đất nƣớc, giang sơn. Đất nƣớc muốn đƣợc thái bình thịnh trị thì
trên dƣới triều đình phải đoàn kết nhƣ cây đằng lạc – sống quấn quýt, bền
chặt thì mới có sức mạnh. Ở đây tác giả cũng đề xuất ý niệm trong trị quốc,
đó là dùng Đức trị - lấy Đức giáo hóa chúng dân. Tâm thế của nhà sƣ là tâm
thế rất đặc biệt của con ngƣời thời đó. Thiên nhiên lúc này không chỉ gắn với
số phận của một cá nhân riêng lẻ mà nó là biểu tƣợng của vận nƣớc – của
cộng đồng ngƣời rộng lớn, tƣơng đồng với vận mệnh đất nƣớc.
16
17
Khẳng bã nhàn sầu đối vũ thanh.
(Hơi thu hòa cùng ánh đèn mờ đi trƣớc ánh ban mai,
Giọt mƣa rơi trên tàu là chuối ngoài song cửa tiễn canh tàn.
Tự biết sai lầm của mình ba mƣơi năm trƣớc,
Nay đành ôm sầu ngồi nghe mƣa rơi.)
(Trần Minh Tông – Dạ vũ – Mƣa đêm)
Còn Trần Nhân Tông lại viết về mùa xuân với những tín hiệu đầy sức sống:
Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quý.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi.
(Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay.
Song song đôi bƣớm trắng,
Phấp phới sấn hoa bay)
(Xuân hiểu – Sớm xuân)
Không gian vũ trụ đƣợc miêu tả bằng những gì tinh khôi, trong sáng
nhất. Con ngƣời trƣớc thiên nhiên đó mang một tâm thế ngƣỡng mộ, tin yêu.
Thiên nhiên lúc này trở thành phƣơng tiện để nhà thơ bộc lộ tình yêu đối với
vẻ đẹp của đất nƣớc, tâm hồn con ngƣời và thiên nhiên nhƣ đƣợc hòa làm một.
Nhƣ vậy dƣới ảnh hƣởng của Phật giáo, thiên nhiên trong thơ Lý – Trần
là phƣơng tiện để các tác giả thể hiện những giáo lý đạo đức, bày tỏ cảm xúc
trƣớc thiên nhiên đất nƣớc; đồng thời qua miêu tả thiên nhiên các tác giả còn
thể hiện quan niệm riêng về sự giao hòa giữa con ngƣời và tự nhiên.
Sáng tác về thiên nhiên chịu ảnh hưởng của Nho giáo
Triết lí của Nho giáo về mối quan hệ con ngƣời – tự nhiên nhƣ trình bày
ở mục 1.1.1 đã chi phối mảng sáng tác về thiên nhiên kéo dài từ thế kỉ XV
(Bạch Đằng hải khẩu – Cửa biển Bạch Đằng)
19