TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
ĐOÀN TH HỒNG HẠNH
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
TRUYỆN
NGẮN NGUY N MINH CH U
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
SAU 1975 TỪ GÓC NHÌN
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
PHÊ BÌNH SINH THÁI
33333333333333333333333333333333333333333333333333333333333333
333333333333333333333333333333333333333333333
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH
MỤC LỤC
Đ U ........................................................................................................... 1
1.
do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2.
ch s v n đề ............................................................................................... 2
3.
c đ ch nghiên c u ..................................................................................... 4
4. Nhiệm v nghiên c u .................................................................................... 4
5. Đối tư ng và phạm vi nghiên c u ................................................................. 4
6. Phương pháp nghiên c u.............................................................................. 5
7. Đóng góp c a khóa luận ................................................................................ 5
8. ố c c ngoài khóa luận ................................................................................. 5
N
UN ....................................................................................................... 7
Chương 1. NH N V N ĐỀ CHUN ........................................................... 7
1.1 iới thuyết chung về phê bình sinh thái ..................................................... 7
1.1.1. Khái niệm sinh thái và phê bình sinh thái ............................................... 7
1.2. Tác gi Nguyễn
inh Châu .................................................................... 12
ôi trường biển đang b ô nhiễm .......................................................... 26
2.2 C m quan sinh thái tinh thần..................................................................... 29
2.2.1 Th c t nh th c giữ gìn vẻ đẹp bình d , thân thuộc nơi thôn quê ......... 30
2.2.2Th c t nh
th c b o vệ thiên nhiên trong quá trình đô th hóa.............. 32
2.2.3 Th c t nh th c b o vệ sự toàn m c a sinh thái biển ......................... 34
Chương 3. N HỆ THU T THỂ H ỆN T NH TH NPH
T
N T UYỆN N
N N UYỄN
NH S NH TH
NH CHÂU S U 1975 ................. 39
3.1 Nhan đề mang ngh a sinh thái ................................................................ 39
3.2 Tình huống truyện mang tinh thần sinh thái ............................................. 40
3.3. Cốt truyện hay th c tổ ch c luận đề sinh thái....................................... 44
KẾT U N ..................................................................................................... 48
TƯ
ỆU TH
KH
thời sự này đã đư c các tác gi như Nguyễn
Nguyễn
inh Châu, Nguyễn Huy Thiệp,
uang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư, Sương Nguyệt
Với Nguyễn
inh Châu,
inh… đề cập đến.
th c sinh thái đư c đ t ra theo một cách riêng và
vô cùng b c thiết. Tinh thần sinh thái khiến “người mở đường tinh anh và tài
năng nh t” y nhanh chóng thâu nhận và k p thời ph n ánh những v n đề
nóng hổi c a đời sống. Điều này như ch nh ông quan niệm: “Văn học bao giờ
cũng ph i tr lời những câu hỏi c a ngày hôm nay, bao giờ cũng ph i đối m t
với những người đương thời về những câu hỏi c p bách c a đời sống” [11 ,
4 1 . C m nhận đư c một trong những v n đề c a “
Nguyễn
mà
inh Châu g i qua những trang viết, đ c biệt là ở truyện ng n c a
1
sáng tác nghệ thuật c a ông. Về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn
inh Châu
còn tiềm ẩn nhiều g i , kh năng h a hẹn cho việc tìm hiểu, nghiên c u ở
những bình diện và phương pháp tiếp cận mới. Từ trước tới nay đã có nhiều
bài khác nhau về Nguyễn
inh Châu và các tác phẩm c thể c a ông. Tiêu
biểu:
Trần Đình S nhận x t r ng: “
N ười đ
Nguyễn
t đầu từ truyện ng n Bức tr
b trê tu ế t u tốc
, r i tập
và nay là Bế quê, truyện ng n c a
inh Châu xu t hiện như một hiện tư ng văn học mới, một phong
cách trần thuật mới... Đ c s c c a tập Bế quê là sự thể nghiệm một hướng
trần thuật có chiều sâu..., phát hiện các hiện tư ng đời sống như chiều sâu
triết học và l ch s , thể hiện nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại với ch nh
mình và với
tâm l xã hội...” [12;325 . Ngoài ra, còn có nhiều bài viết khác đi vào bình giá,
phân t ch giá tr c a từng truyện ng n c thể, trong đó có sự ghi nhận những
tìm tòi đổi mới c a nhà văn ở c hai phương diện tư tưởng và bút pháp thể
hiện.
góc độ thi pháp thể loại, ùi Việt Th ng đi vào tìm hiểu c u trúc và
tình huống trong truyện ng n Nguyễn minh Châu, phân chia ra các dạng cơ
b n là tình huống – tương ph n, tình huống – th t nút, tình huống – luận đề
[12; 313 . Cũng nhìn dưới góc độ thể loại, Phạm V nh Cư phát hiện ra “những
yếu tố tiểu thuyết trong truyện ng n c a Nguyễn
Nhìn chung, truyện ng n c a Nguyễn
inh Châu” [12;346].
inh Châu cũng đư c r t nhiều
nhà nghiên c u tìm hiểu tiếp cận ở nhiều góc độ và đưa ra những nhận x t,
đánh giá, ch yếu là khái quát ho c đi sâu vào phương diện nội dung hay hình
th c nghệ thuật. Tìm hiểu truyện ng n c a Nguyễn
3
inh Châu từ góc độ phê
bình sinh thái đã đư c đề cập. Tác gi Thanh Hà trong bài i
viết “truyện ng n c a Nguyễn
t iđ t
inh Châu là những “dự c m” đầu tiên về mối
so sánh với v n đề sinh thái đư c đề cập trong truyện ng n Nguyễn
Châu “... ám nh đô th c a Nguyễn
inh
inh Châu là một biểu tư ng k p – vừa
như một mối đe dọa tha hóa, m t gốc, vừa như một nỗi khát khao vươn tới”
TS. Phạm Ngọc an 2 16 Tìm về với mẹ thiên nhiên “Cánh đ ng b t tận”
c a Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái”, ĐH Sư phạm Ttp.
H Ch
inh .
ua các
Nguyễn
kiến trên, có thể th y, v n đề sinh thái trong truyện ng n c a
inh Châu đ c biệt là những truyện ng n sau 1975 đề cập đến khá
nhiều về v n đề sinh thái mang
th c giáo d c cao. Đây cũng ch nh là
kho ng trống để chúng tôi đi sâu vào nghiên c u đề tài này.
3. Mục
ch nghiên c u
inh
Châu sau 1975. Đ c biệt là những truyện ng n mang tinh thần sinh thái. Với
khuôn khổ c a một khóa luận tốt nghiệp Đại học với kh năng làm ch tư liệu
có hạn khóa luận s d ng ngu n tài liệu ch nh là: Nguyễn
inh Châu tuyển
tập truyện ng n Nxb Văn học, 2 6].
6. Phư ng ph p nghiên c u
Cùng với việc s d ng các phương pháp thường dùng trong văn học ở
bài khóa luận này chúng tôi ch yếu s d ng các phương pháp sau :
Phương pháp nghiên c u tác gi , tác phẩm
Phương pháp phân t ch - tổng h p
Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp nghiên c u liên ngành
7. Đ ng g p c a kh a luận
Khóa luận là công trình khoa học tìm hiểu về truyện ng n c a Nguyễn
inh Châu sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái.
Từ đó góp phần kh ng đ nh những đóng góp và v tr c a Nguyễn
inh
Châu trong văn học Việt Nam hiện đại.
. Bố cục ngoài kh a luận
Ngoài phần
ở đầu, Kết luận và Tài liệu tham kh o, Nội dung ch nh c a khóa
luận đư c triển khai làm ba chương:
t i trong tiếng Hi Lạp là “oikos” có ngh a là nhà ở, nơi cư trú, nơi
sinh sống c a mọi sinh vật, trong đó có con người. Sinh thái học, vì thế, là
học thuyết nghiên c u về nơi sinh sống c a sinh vật, và đối tư ng nghiên c u
c a bộ môn khoa học này là t t c các mối tương tác giữa cơ thể sống và môi
trường. Từ chỗ là một bộ môn g n liến với sinh học, sinh thái học dần mở
rộng, nh hưởng đến nhiều bộ môn khoa học khác, trong đó có khoa học xã
hội và nhân văn.
Khái niệm p ê b
êb
si
si
t i
t i ecocritsim còn đư c gọi bởi những cái tên khác như
“phê bình văn hóa xanh” green cultural studies , “thi pháp sinh thái”
ecopetics hay “phê bình văn học môi trường” environmental literary
criticism)...
Tên gọi p ê b
si
t i do Wiliam ueckert s d ng vào năm 1978
trong kh o luận Văn học và sinh thái học: một th nghiệm mới trong phê bình
lotfelty cũng đã đưa ra một đ nh ngh a gi n d và r
ràng về phê bình sinh thái “ Nói một cách đơn gi n, phê bình sinh thái là việc
nghiên c u mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” “mang đến một
cách tiếp cận l y trái đ t làm trung tâm trong nghiên c u văn học”[10]. Phê
bình sinh thái là một l thuyết liên ngành, kết h p giữa văn học và các ngành
khoa học khác, giữa phân t ch văn chương và rút ra những c nh báo về môi
trường. “Nó có thể không đưa ra đư c những gi i pháp trực tiếp cho những
v n đề môi trường nghiêm trọng hiện nay nhưng b ng cách phân t ch các diễn
ngôn về thiên nhiên và môi trường, nó có thể tác động đến tâm th c con
người, điều ch nh nhận th c, kh c ph c những ngộ nhận về môi trường, để từ
đó, có những hành động đúng đ n hơn, hướng đến sự phát triển bền vững.
Đ ng thời, xa hơn và quan trọng hơn c , phê bình sinh thái hình thành một
ch ngh a nhân văn mới, ở đó, con người biết nghe tiếng nói c a thiên nhiên
để đối thoại với nó”. Thông qua nghiên c u văn học để nhìn nhận lại toàn bộ
văn hóa con người. Ch nh thái độ ngạo mạn c a con người làm đối với tự
nhiên đã làm nh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Phê bình sinh
thái đã thay đổi cơ b n cách nhìn nhận, tiếp cận đối tư ng, t t c các phong
trào nghiên c u từ trước đến nay đều l y con người làm trung tâm, còn phê
bình sinh thái l y sinh thái làm trung tâm.
Trong cái nhìn c a
lotfelty, có vẻ như giới học thuật ch nh thống thời
điểm y vẫn đang quá say sưa trong việc kiến gi i các tác phẩm văn chương
thông qua những xung đột xã hội trước m t mà vô tình phớt lờ một v n đề
8
vào k nguyên c a những giới hạn về môi trường, một thời đại mà hậu qu từ
những hành động c a con người đã làm tổn hại nghiêm trọng sự sống căn b n
c a ch nh mình”, ho c là nó buộc ph i “ đối m t với th m họa toàn cầu r i s
phá h y t t c những gì đẹp đ và tiêu diệt vô số giống loài” mà nguy cơ diệt
vong c a loài người như là một t t yếu.
9
a đời trong nỗi lo âu, sự tự v n và m c c m tội lỗi c a con người trước
hành động c a ch nh mình, Phê bình sinh thái nh n mạnh vào kh a cạnh đạo
đ c. Ứng x ngỗ ngư c c a con người với bà mẹ Trái đ t đã gây ra nhiều tai
họa. Hành động và ng x c a con người đang khiến tự nhiên nổi giận. Vậy
làm thế nào để th c t nh con người và ngăn ch n những nguy cơ s x y ra?
Trong nhiều nỗ lực mang t nh toàn cầu, văn học - một hình thái
th c xã hội
đã tham gia t ch cực vào b o vệ sinh thái.
1.1.2. Tinh th n phê
nh sinh th i trong văn học
“Sự nóng lên c a trái đ t”, “thay đổi kh hậu” , thiên nhiên b tàn phá
n ng nề ngoài thu hút đư c sự chú
học còn thu hút sự chú
giới. Có
c a các nhà khoa học, nhà môi trường
th c trách nhiệm c a mỗi con
người trong sự nghiệp b o vệ môi trường sinh thái c a hành tinh Xanh, nơi
duy nh t sự sống t n tại và phát triển.
So với các nước Âu -
và các nước trong khu vực như Nhật
n,
Trung uốc thì các nhà văn Việt Nam vẫn “ph n ng chậm” hơn.
Việt Nam là quốc gia ch u nh hưởng trực tiếp c a biến đổi kh hậu,
nguy cơ sinh thái, ô nhiễm môi trường, tàn phá môi trường. Những v n nạn y
đang đư c các phương tiện truyền thông đề cập mỗi ngày.
t trái c a văn
minh đô th là sự phát triển với bao bộn bề, ngổn ngang, m t mát và tổn hại
như hiệu ng nhà k nh, ch t th i công nghiệp, lạm d ng khai thác th y điện,
đánh b t h y diệt, lâm t c, thiếc t c, vàng t c… cùng với đó là hệ qu c a
sinh thái hậu thuộc đ a, môi trường hậu chiến tranh… đang đẩy xã hội vào
qu đạo c a sự phát triển không bền vững. Con người đang ph i tr giá r t đ t
cho việc chúng ta trở nên tự ph đến m c quên c c m thông với thiên nhiên.
V n đề thời sự này đã đư c nhiều tác gi đề cập Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn
uang Thiều, Sương Nguyệt
inh, Nguyễn Ngọc Tư... Nhưng với Nguyễn
Minh Châu, với sự c m nhận tinh tế đã
u nh ưu, t nh Nghệ
n.
Ông là nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng và có v tr đ c biệt trong nền
văn xuôi hiện đại Việt Nam. à một cây bút xu t s c c a nền văn học s thi
thời kì kháng chiến chống
, sau năm 1975 Nguyễn
inh Châu lại thuộc
trong số những nhà văn tiên phong mở đường cho công cuộc đổi mới văn học
nước ta.
Năm 1945, ông tốt nghiệp trường K nghệ Huế với b ng Thành chung.
Tháng 1 năm 195 , ông học chuyên khoa trường Hu nh Thúc Kháng tại Nghệ
T nh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường s quan l c quân Trần
uốc
Tu n. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại an tham mưu các tiểu đoàn
722, 7 6 thuộc sư đoàn 32 . Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn
inh Châu là
tr l văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 32 . Năm 1981, ông theo học tại
trường Văn hóa ạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn
inh Châu về công tác tại
12
năng ch n mu i nh t. Sau hơn một năm trời vật lộn với căn bệnh ung thư máu
hiểm ngh o ông đã v nh viễn ra đi vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại viện
uân y 1 8 Hà Nội.
Với những đóng góp c a mình vào nền văn học Việt Nam, Nguyễn
Châu đã nhận đư c nhiều gi i thưởng, trong đó có
về Văn học và nghệ thuật năm 2
i i thưởng H Ch
inh
inh
.
1.2.2. Sự nghiệp văn học c a Nguy n Minh Châu
Nguyễn
inh Châu là một trong số t nhà văn mà sự nghiệp sáng tác
ph n ánh tương đối trung thành quá trình vận động, phát triển c a văn xuôi
Việt Nam đương đại. Các sáng tác c a Nguyễn
inh Châu mang giá tr nội
dung và giá tr nghệ thuật sâu s c:
1.2.2.1. Gi tr n i dung
Các sáng tác c a Nguyễn
c
c
c d
t c chuyển sang cu c c iế đ u c
qu
số
ười”[7, tr284]. Nền văn học dân tộc đ ng trước nhu cầu ph i
mở rộng hơn nữa biên độ ph n ánh để có thể bao quát và truyền t i những v n
đề b c xúc thời hậu chiến. à một nhà văn có tâm huyết và có trách nhiệm
với nghệ thuật, Nguyễn
inh Châu đã âm thầm tự đổi mình trên các trang
viết. Và các sáng tác c a ông l y bối c nh là đời thường l u nay văn học chưa
có điều kiện để ph n ánh, l gi i những v n đề mới mẻ, độc đáo c a cuộc
13
sống...
ng “sự dũng c m điềm đạm” 10;tr34], Nguyễn
t [7,
ười t
ng sự tinh tế trong c m nhận những đổi thay c a xã hội, Nguyễn
inh Châu đã tự làm mới các trang viết c a mình b ng cách đổi mới nghệ thuật
và sự đổi mới táo bạo y mang lại thành công trong sự nghiệp sáng tác c a ông.
Các sáng tác c a ông mang giá tr nghệ thuật độc đáo, có khi hướng vào thế giới
nội tâm, là sự tự nhận th c, tự phê phán con người dưới ánh sáng c a lương
tâm,đạo đ c... lại cũng có khi hướng cái nhìn nghệ thuật ra bên ngoài, ra cuộc
sống đời thường, là sự nhận th c và phê phán cái x u xa, cái ác trong đời sống
thường ngày. T t c các tác phẩm sau 1975 đều đư c viết dưới quan điểm nghệ
thuật:ch ra m t x u, m t tối để góp phần hoàn thiện nhân cách con người, làm
cuộc sống tốt đẹp hơn đúng như nhà văn Nguyễn
đ nh: N
p
v
đ uđ đ
c qu
ib
c tc
s t t
ười v
14
tài nguyên thiên nhiên dẫn đến h y hoại môi trường. Nếu c tiếp t c theo đuổi
quan niệm này, nhân loại s đi đến th m c nh là tự đào huyệt chôn mình vì
con người quên đi một điều r ng: “con người trừng tr thiên nhiên b ng cách
hạ nh c, h y hoại nó, còn thiên tr thù b ng cách: Nó biến m t”. à một nhà
văn có nhãn quan tinh tế Nguyễn
inh Châu nhận th c đư c những v n đề
c p bách s p diễn ra nên các tác phẩm c a Nguyễn
inh Châu sau 1975 tiêu
biểu b ng các tác phẩm như
ố
Bế quê
c
iếc t u
i
iv ic
quê r ,... đều là biểu hiện c a không gian tự nhiên. Đó là
những tác phẩm thể hiện sự yêu thương, tôn trọng c a con người với tự nhiên,
chống lại sự l i d ng, chinh ph c, khống chế, c i tạo, tước đoạt và tàn phá tự
nơi quê nhà thời thơ u đáng để ta nhớ và kh c ghi trong lòng. Trong sâu
th m hững hoài niệm y, hình nh “bến quê” lại hiện lên cùng nỗi nhớ, nỗi
day d t khôn nguôi. Nhớ nỗi đau thương h n sâu từ muôn thuở, nhớ bến nước
nơi làng nhỏ thâm tình”. Ch nh vì vậy mà bến quê cũng là nơi bao người xa
quê nhớ và mong ngày trở về. Cũng như nhiều truyện ng n khác c a mình,
trong Bế quê Nguyễn
inh Châu cũng xây dựng đư c những tình tiết đ c
biệt để từ đó nhân vật bộc lộ tâm sự c a mình. Nhân vật ch nh trong truyện Nh một người đã từng đi kh p xó x nh nhưng cuối đời lại cột ch t mình bên
giường bệnh vì căn bệnh hiểm ngh o, muốn di chuyển cũng ph i nhờ đến v
con. Và một buổi sáng trong những ngày cuối đời mình, anh đã nhận ra đư c
vẻ đẹp c a bãi b i bên kia sông H ng, nơi bến quê quen thuộc một vẻ đẹp
bình d mà hết s c quyến rũ:
“ ên kia những hàng cây b ng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con
sông H ng một màu đỏ nhạt, m t sông như rộng thêm ra. Vòm trời như cao
hơn. Những tia n ng sớm đang từ từ di chuyển từ m t nước lên những kho ng
bãi bờ bên kia sông và c một vùng phù sa lâu đời c a bãi b i bên kia sông
16
H ng lúc này đang phô ra trước khuôn c a sổ c a gian gác nhà Nh một th
màu vàng thau xen với màu xanh non - những màu s c thân thuộc quá như da
th t, hơi thở c a đ t màu mỡ ”[4;321].
Những hình nh bãi b i bên sông và toàn bộ khung c nh thiên nhiên
đư c dựng lại trong truyện thực ra mang
ngh a khái quát, biểu tư ng sâu
kì lạ, bởi vì đó là lần đầu tiên anh say sưa chiêm nghiễm nó, say sưa khám
phá cái ẩn mình bên trong lớp vỏ gần gũi, hiền lành đã quen thuộc b y lâu. Có
l anh đã yêu, yêu tha thiết sự giàu có, đơn sơ, gần gũi mà vô cùng mới mẻ
c a thiên nhiên. Nhưng khi tình yêu y chớm nở, cũng là lúc Nh nhận ra nó
đã nhen lên trong vô vọng, lúc này cái bến quê y thật xa vời với Nh , dù ch
cách đôi bờ ngầu đỏ c a con sông quen thuộc nhưng mãi mãi là miền đ t xa
l c, Nh không thể đến với nó đư c mà ch đư c nhìn từ xa qua ô c a sổ gần
chiếc giường nơi anh n m. nh khao khát một lần đư c đ t chân lên m nh đ t
gần gũi mà xa lạ y.
Cái bờ bên kia không dừng lại ở
ngh a hiện thực nữa, nó hàm ch a
những giá tr biểu tư ng vô cùng thiêng liêng. ến bờ y cũng có thể là cuộc
đời chưa đi tới, phần cuộc đời mà mỗi người đều muốn khám phá dù biết r ng
nó là không giới hạn. Bến bờ y cũng có thể là bến đậu quê hương, bến đậu
cuộc đời, bến đậu c a những giá tr tinh thần gần gũi mà
ngh a. ãi b i, bến
sông, con đò như một phần v c a cuộc sống, đơn sơ, gi n d g n bó như
ch nh gia đình, như ch nh quê hương. Khao khát tìm đến những giá tr gần gũi
nhưng đ ch thực trong cuộc sống, nơi quê hương mà con người b ng bột với
nhiều ham muốn thời trai trẻ đã bỏ qua. Nó là một sự thực t nh có xen niềm
ân hận và nỗi xót xa. Niềm ân hận và xót xa khi con người đã nhận th c đư c
quy luật kh c nghiệt c a cuộc đời. Trong Nh đã có phần nào sự th c t nh và
hối hận bởi có sự lãng quên những giá tr bình d c a thiên nhiên mà theo đuổi
cái gì đó xa xôi để đến khi nhận ra đư c giá tr thật c a thiên nhiên thì đã trở
nên quá muộn. Thiên nhiên luôn đ ng đó nhưng chúng ta liệu còn cơ hội mà
gần gũi với nó nữa không. Đó là một câu hỏi lớn đư c đ t ra cho ch nh cái xã
những m nh sinh thái nhỏ b b triệt hạ để ph c tùng cho tham vọng về một
th đô hiện đại hơn. Ngay ch nh Huân trong tác phẩm, chàng trai trẻ Sài
òn
giàu nhiệt huyết đại diện cho l tưởng thay đổi, cũng không thể lường trước
đư c r ng: Sự dung hòa giữa không gian đô th với môi trường sinh thái, thực
ch t, là v n đề nan gi i đến m c nào. Trong thực tế, không thể ph nhận s c
h p dẫn quá lớn c a đời sống đô th mà b t c cái nhìn “lãng mạn hóa” nào về
các hình thái không gian khác cũng không thể xóa bỏ đư c. So sánh với
những h p lực đô th , vẻ cách biệt hoang vu hẻo lánh, hay sự gi n đơn c a đời
sống nông thôn trở nên thật quá nhàm tẻ, chán chường, thiếu cuốn hút. Đó là
l do khiến cho những người sinh ra và lớn lên ở các không gian đô th khó
lòng từ bỏ nơi chốn ban đầu c a họ. Việc quay lưng hoàn toàn với đô th để
tìm đến một hình thái không gian khác “k m phát triển” hơn, đến bây giờ, vẫn
là một điều t x y ra và thường đi k m với những huyền thoại về sự hi sinh vì
l tưởng. Phổ biến hơn c vẫn là c m th c về nỗi nhớ đô th , hoài niệm đô th
c a những kẻ buộc ph i rời xa, hay trốn tránh nó vì chán chường b t mãn.
Tác phẩm trước hết k o tr tưởng tư ng c a người đọc vào l ch s , nh c
lại với chúng ta r ng, sự xu t hiện c a không gian đô th , không gì khác, là hệ
qu lâu dài c a một quá trình chinh ph c tự nhiên: “Đúng, đời sống loài người
là một chuỗi dài quá trình chinh ph c thiên nhiên . Thế nhưng, “thật là thiếu
19
thỏa đáng, và thậm ch nguy hiểm nếu không ngh đến công việc hòa h p với
thiên nhiên: Từ giữa phố phường chật hẹp đông đúc có bao giờ các bạn đi ra
sông H ng nghe tiếng hát c a phù sa và bờ bãi Đã bao giờ các bạn dừng
bước trên h phố nâng một cành cây b gẫy Có ph i tình yêu c a các bạn
sống, vừa cho th y sự vô tình tàn nhẫn c a con người. Trước những món l i
20