1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HƯỜNG VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG
NGHIỆP,
NÔNG THÔN Ở BẮC GIANG HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 03 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thanh Tuấn
Hà Nội, 2013 109
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 11
Chương 1. KHÁI LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN, CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ TÌNH HÌNH NÔNG DÂN
BẮC GIANG HIỆN NAY 11
1.1. Khái luận về vai trò của nông dân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang hiện nay 11
1.2. Tình hình nông dân Bắc Giang và tính tất yếu phát huy vai trò của
nông dân trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn hiện nay 34
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ
CỦA NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CÔNG
THT
: Tổ hợp tác
KT – XH
: Kinh tế - xã hội
GD – ĐT
: Giáo dục – đào tạo
KH&CN
: Khoa học và công nghệ
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn
là chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và là nội dung cơ bản của quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong nông nghiệp và nông thôn, vấn đề nông dân luôn có vị trí đặc
biệt quan trọng và được Đảng ta xác định là vấn đề chiến lược của cách
mạng Việt Nam.Trải qua các giai đoạn cách mạng, nông dân đã có những
đóng góp to lớn, góp phần cùng toàn dân làm nên thắng lợi vẻ vang trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày nay, nông dân vẫn là lực
lượng đông đảo, nòng cốt và chủ yếu tham gia trực tiếp vào quá trình đẩy
mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Những thành tựu đạt được trong
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vừa qua là thành quả của
toàn Đảng, toàn dân, nhưng đặc biệt trong đó có một phần đóng góp đáng
tự hào của nông dân.
Bắc Giang là một tỉnh nông nghiệp nằm trong khu vực trung du và
miền núi phía Bắc. Cùng với xu thế chung của cả nước, Bắc Giang cũng đã
những năm đầu của thế kỷ XXI, Bắc Giang phải nỗ lực xây dựng, hoàn
thiện hệ thống chủ trương, chính sách, phương hướng, giải pháp đồng bộ
nhằm phát triển, để nhờ đó có thể phát huy vai trò của nông dân trong quá
trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Với tư
cách là chủ thể, là lực lượng nòng cốt và chủ yếu trực tiếp tham gia vào sự
nghiệp này, điều quan trọng hơn hết là phải khơi dậy cho được sự cố gắng,
lòng nhiệt tình, tính năng động, tích cực sáng tạo của nông dân Bắc Giang.
Bởi mỗi bước phát triển của nông nghiệp và nông thôn suy cho cùng cũng
là nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân. Nông dân là
mục tiêu, là động lực phát triển của nông nghiệp, nông thôn. Phát triển
nông nghiệp và nông thôn là do nông dân và vì nông dân.
Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn dưới tác
động của cơ chế kinh tế thị trường đã và đang buộc nông dân phải đối mặt 5
với những thách thức không dễ tránh khỏi. Trong đó trước hết phải kể đến
tình trạng một bộ phận nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất; hiện
tượng phân hóa giàu nghèo, mất đoàn kết trong nội bộ nông dân; tình trạng
ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, Đây là những vấn đề lớn đang ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống của người nông dân. Vì vậy, sức mạnh của
nông dân chỉ có thể phát huy mạnh mẽ khi có sự quan tâm sâu sát, sự hỗ
trợ kịp thời và thường xuyên của các cấp, các ngành địa phương, của cả hệ
thống chính trị. Đây chính là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn
cấp thiết đang được đặt ra đối với Bắc Giang. Vì thế tôi chọn vấn đề "Vai
trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang hiện nay " làm chủ đề nghiên cứu của
luận văn thạc sĩ, chuyên ngành CNXH khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
nông thôn. Tuy nhiên, các công trình khoa học này mặc dù nghiên cứu về
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhưng chưa đi sâu vào vấn đề nông dân.
Thứ hai, các luận án, luận văn
Cho đến nay đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã nghiên
cứu tìm hiểu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và
việc phát huy vai trò của nông dân như:
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Hướng (1991): Sự chuyển
hướng của giai cấp nông dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Luận án tiến sĩ triết học của Bùi Thị Thanh Hương (2000): "Đặc điểm
và xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện
nay". Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả cho chúng ta thấy được
đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam, xu hướng biến đổi giai cấp nông
dân trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng
xã hội chủ nghĩa đồng thời đề ra một số gải pháp chủ yếu nhằm giải quyết
những mâu thuẫn trong quá trình đưa nông dân phát triển theo định hướng
XHCN Nhưng luận án cũng còn một số hạn chế như mới chỉ quan tâm đến 7
nhân tố quy định đặc điểm, xu hướng biến đổi mà chưa thấy được vai trò và
tầm quan trọng của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn thời kỳ mới.
Luận văn thạc sĩ Triết học của Đặng Thị Phương Duyên (2001): Phát
huy vai trò của nông dân Thái Bình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Luận văn đã đề cập đến vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân Thái Bình trên con đường CNH, HĐH; thực
trạng và giải pháp phát huy vai trò của nông dân trong quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn Thái Bình. Tuy nhiên, vai trò của nông dân
trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là như thế nào; những điều kiện
để phát huy vai trò của nông dân trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phưong Bắc Giang.
Thứ ba, các văn kiện của Bắc Giang
- "Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ VIII ", 2012
- "Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ X VII", 2010
- Nghị quyết số số 47-Ctr/TU ngày 03/10/2008 của Tỉnh uỷ Bắc
Giang, 2008
- Ngày 14-7-2011, BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Giang có Nghị quyết số
145/NQ/TU về xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang đến năm 2020. Nghị
quyết xác định xây dựng nông thôn mới theo phương châm: “Kinh tế phát triển
- Đời sống ấm no - Thôn bản văn minh - An ninh ổn định - Quản lý dân chủ".
Các văn kiện, Nghị quyết này đều đề cập đến vấn đề CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn và vấn đề nông dân. Nhưng cho đến nay chưa có công trình
nghiên cứu khoa học nào ở cấp tỉnh làm rõ vai trò của nông dân Bắc Giang và
việc phát huy vai trò của nông dân Bắc Giang trong quá trình phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò
của nông dân trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
ở Bắc Giang hiện nay rất cần được quan tâm nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích
Làm rõ vai trò của nông dân Bắc Giang trong sự nghiệp đẩy mạnh
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực 9
trạng thực hiện vai trò và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của
đội ngũ này trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở
Bắc Giang thời gian tới.
- Nhiệm vụ
Thứ nhất, làm rõ quan niệm về vai trò của nông dân, tình hình nông dân
Bắc Giang, tính tất yếu phải phát huy vai trò của đội ngũ này; và về sự nghiệp
- Làm rõ vai trò của nông dân Bắc Giang trong sự nghiệp đẩy mạnh
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của nông dân
Bắc Giang trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc hình thành được nhận thức đúng đắn về
vai trò của nông dân Bắc Giang. Từ đó giúp lãnh đạo địa phương đưa ra
những chủ trương, giải pháp tiếp tục phát huy vai trò của nông dân trong sự
nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang hiện nay.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác
giảng dạy ở trường chính trị tỉnh; và có thể dùng làm tài liệu tham khảo
nghiên cứu ở các cấp uỷ đảng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội
Nông dân Việt Nam tỉnh Bắc Giang.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương với 4 tiết. 11
NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN,
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ TÌNH HÌNH
NÔNG DÂN BẮC GIANG HIỆN NAY
1.1. Khái luận về vai trò của nông dân, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn Bắc Giang hiện nay
1.1.1. Khái luận về vai trò nông dân
1.1.1.1. Về giai cấp nông dân
Giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã của chế độ chiếm
ý nhiều đến vấn đề các bạn đồng minh của giai cấp công nhân, đặc biệt là giai
cấp nông dân. C.Mác cho rằng, “Nông dân là giai cấp những người tiểu
nông”. “Tiểu nông là một khối quần chúng đông đảo mà tất cả các thành viên
đều sống trong một hoàn cảnh như nhau, nhưng lại không nằm trong những
mối quan hệ nhiều mặt đối với nhau. Phương thức sản xuất của họ không làm
cho họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập với nhau” [30, tr.264]. “Tiểu
nông mà chúng ta nói ở đây là chỉ những người chủ ruộng đất hoặc người tá
điền - và nhất là người chủ - một mảnh ruộng không lớn hơn mảnh ruộng mà
họ thường có thể cày cấy với gia đình họ, và cũng không bé hơn mảnh ruộng
cần thiết để nuôi gia đình họ: Như vậy, cũng như người tiểu thủ công, người
tiểu nông này là một người lao động, anh ta khác với người vô sản hiện đại ở
chỗ anh ta còn có tư liệu lao động; như vậy anh ta là tàn dư của một phương
thức sản xuất đã lỗi thời”.
Trong tác phẩm Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (1894) Ph.Ăngghen
(1820-1895) cho rằng, đây là một giai cấp không thuần nhất, và chia nông
dân thành 3 nhóm xã hội lớn: tiểu nông, trung nông và đại nông. Ông chỉ rõ
“tính hai mặt của tiểu nông”: Với tư cách là người lao động họ có nguy cơ bị
phá sản, bị rơi vào hàng ngũ vô sản; với tư cách người tư hữu nhỏ, họ lo sợ
sự chuyển giao ruộng đất vào tay toàn thể xã hội. Về kinh tế, mỗi gia đình
nông dân là một đơn vị kinh tế gần như tự túc hoàn toàn, tự mình sản xuất ra 13
đại bộ phận những cái mình tiêu dùng, tự cung cấp cho mình tư liệu sinh
hoạt, bằng cách trao đổi với tự nhiên nhiều hơn là trao đổi với xã hội. Về xã
hội, do điều kiện kinh tế như vậy nên nông dân vừa là một giai cấp vừa
không phải là một giai cấp. Họ là một giai cấp nếu ta tính sinh hoạt kinh tế
của họ giống nhau, khác với giai cấp khác và những gia đình họp thành làng,
xã, quận, tỉnh. Nhưng họ không họp thành giai cấp khi xét họ chỉ có những
mối liên hệ địa phương, chứ không có mối liên hệ toàn quốc và rộng hơn
Nhà nước XHCN sẽ giúp họ chuyển qua phương thức sản xuất mới. Nếu họ
không đi theo CNXH thì cũng không được dùng bạo lực, mà kêu gọi những
người làm công của họ hưởng ứng cuộc cải biến XHCN, và với sự phát triển
kinh tế họ sẽ mở mang đầu óc thủ cựu của họ. Đối với tư sản nông nghiệp: có
thể tước đoạt tài sản; việc bồi thường hay không bồi thường tùy thuộc vào
điều kiện khi thiết lập chính quyền mới và tùy thuộc vào thái độ của chính
người chiếm hữu nhiều ruộng đất [32, tr.713-746]. V.I.Lênin, trong tác phẩm
Bàn về chế độ hợp tác xã cho rằng, trong thời kỳ CNTB nhà nước, HTX cũng
là một hình thức của CNTB nhà nước nhưng đơn giản hơn. Theo V.I.Lênin,
điều kiện để chế độ HTX của nông dân thành công và phát huy được vai trò
của nông dân ở một nước tiểu nông là: 1/ giai cấp công nhân nắm chính
quyền; 2/ Nhà nước nắm các tư liệu sản xuất chủ yếu; 3/ giai cấp công nhân
phải liên minh và lãnh đạo giai cấp nông dân; 4/ Nhà nước phải có chính sách
phù hợp cho các HTX được hưởng những “ưu đãi thuần túy vật chất”; 5/ Nhà
nước kiểm soát được sự kết hợp lợi ích tư nhân và lợi ích chung của nông
dân; 6/ sự tham gia tự nguyện của nông dân vào HTX [29, tr.421-429].
Hồ Chí Minh (1890 - 1969) và Đảng cộng sản Việt Nam, trên cơ sở vận
dụng, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng,
trong điều kiện Việt Nam, nông dân có tinh thần yêu nước sâu sắc, và là lực
lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và
tiến lên CNXH. Với địa vị xã hội như vậy, nông dân có điều kiện thực hiện và
phát huy vai trò của minh, trước hết trong phát triển nông nghiệp và nông
thôn. Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam tập trung làm rõ các quan
điểm đưa nông dân vào con đường làm ăn hợp tác nhằm khắc phục tình trạng 15
tự cung tự cấp, phân tán biệt lập của kinh tế tiểu nông; đồng thời thúc đẩy xã
hội hóa sản xuất nông nghiệp và sản xuất ở nông thôn nói chung. Thông qua
đó nâng cao địa vị xã hội của nông dân; và nhờ đó phát huy vai trò của nông
xã hội tư sản nhìn nhận nông dân chỉ là tầng lớp xã hội đại diện cho một
phương thức sản xuất lỗi thời và sớm hay muộn bị phá sản hay vô sản hóa.
Quyền lợi, trách nhiệm, và do đó, vị trí xã hội của nông dân được xác định
theo cách nhìn nhận như vậy.
Vị trí xã hội gắn với những quyền lợi và trách nhiệm kèm theo thì tạo
thành địa vị xã hội. Nói cách khác, địa vị xã hội là một khái niệm tổng hợp
dùng để chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và trách nhiệm tương ứng
với vị trí đó.
Vai trò chính là phương diện vận động của địa vị xã hội. Và vai trò
luôn luôn biến đổi phù hợp với sự thay đổi của địa vị xã hội. Chẳng hạn cũng
là nông dân, nhưng vai trò của nó trong điều kiện địa vị xã hội là xã viên
HTX khác với vai trò trong điều kiện địa vị xã hội là nông dân nhận ruộng
khoán; hay cũng là nông dân nhận ruộng khoán, nhưng vai trò trong điều kiện
đất nước chưa thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu, kém phát triển và vai trò trong
điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH là không tương đồng nhau.
Để thực hiện và thể hiện địa vị xã hội của mình phù hợp với các quyền
và trách nhiệm cũng như vị trí xã hội của mình, nông dân cần phải thực hiện
những hoạt động nhất định. Tức là tương ứng với địa vị xã hội, sẽ có một hệ
thống (hay mô hình) các hoạt động xã hội được xã hội mong đợi đối với nông
dân. Hệ thống các hoạt động xã hội được xã hội mong đợi đối với nông dân
chính là vai trò của nông dân tương ứng với địa vị xã hội của nó.
Vậy có thể quan niệm vai trò xã hội của nông dân là: hệ thống các hoạt
động xã hội được xác lập một cách khách quan, căn cứ vào đòi hỏi và cách
nhìn nhận của xã hội đối với vị trí xã hội của nông dân, để thực hiện các
quyền và trách nhiệm tương ứng với vị trí xã hội đó.
Cơ sở khách quan đề xác lập các hoạt động xã hội của nông dân là: tư
liệu sản xuất chủ yếu là đất đai; vừa là người lao động vừa là người sở hữu
nhỏ đối với ruộng đất; lao động và đời sống gắn trực tiếp với nông nghiệp và 18
nông thôn việc đưa máy móc vào sản xuất để tăng năng suất, hiệu quả và thời
gian lao động nhưng máy móc không thể thay thế con người. Nông dân chính
là người sử dụng máy móc làm công cụ lao động. Không có nông dân thì máy
móc hiện đại cũng không được sử dụng. Nông dân đã cải tiến công cụ lao
động của mình cho phù hợp với hoạt động sản xuất. Do vậy, họ chính là chủ
thể đóng vai trò tham gia tích cực và sáng tạo vào quá trình xây dựng quy
hoạch và trực tiếp thực hiện quy hoạch phát triển nông nghiệp theo hướng
CNH, HĐH.
- Nông dân là chủ thể tham gia tích cực và sáng tạo vào quá trình xây
dựng quy hoạch và đóng vai trò chủ yếu, trực tiếp thực hiện quy hoạch xây
dựng mô hình nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH.
Quá trình xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải có sự đóng góp của
đông đảo bộ phận nông dân, bởi không ai khác chính nông dân là người sinh
sống trên mảnh đất của họ, người nông dân tham gia đóng góp sức lực và trí
tuệ để biến những chủ trương chính sách về xây dựng nông thôn mới trở
thành hiện thực. Việc thực hiện quy hoạch xây dựng mô hình nông thôn mới
theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi người nông dân đóng góp công sức, của cải,
nông dân tự nguyện hiến đất để xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, quy
hoạch cơ sở hạ tầng để tiên hành đô thị hóa nông thôn…Nếu nông dân không
tham gia đóng góp công sức, không tự nguyện bỏ ra mảnh đất, thửa ruộng
mình đang sống, chắc chắn việc quy hoạch sẽ gặp nhiều khó khăn. Như vậy,
nông dân có vai trò to lớn là chủ thể tham gia tích cực và sáng tạo vào quá
trình xây dựng quy hoạch, đóng vai trò chủ yếu, trực tiếp thực hiện quy hoạch
xây dựng mô hình nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH.
- Nông dân là chủ thể tham gia tích cực, sáng tạo vào việc xây dựng
đời sống văn hóa - xã hội và môi trường lành mạnh ở nông thôn trên cơ sở
bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa ở địa phương.
về nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Để nông dân có thể yên tâm thực hiện vai trò của mình, Đảng và Nhà
nước cần có đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật về nông nghiệp,
nông thôn và nông dân. Cụ thể: 20
Đảng và Nhà nước lãnh đạo xây dựng quy hoạch tổng thể đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với chiến lược phát
triển của đất nước. Ra các nghị quyết về phát triển các ngành, các lĩnh vực, các
vùng, các vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc trong nông nghiệp, nông thôn; xác
định những vấn đề trọng điểm cần tập trung thực hiện trong mỗi giai đoạn.
Đảng và Nhà nước lãnh đạo thực hiện chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội ở vùng nông thôn, lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng cân đối giữa công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ gắn với xóa đói, giảm
nghèo, tạo cơ sở kết cấu hạ tầng hiện đại, phát triển y tế, giáo dục, xây dựng
môi trường thuận lợi tạo tiền đề thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài để
phát triển nông thôn. Xác định vùng trọng tâm, trọng điểm.
Lãnh đạo khai thác nguồn lực ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, phát
huy nội lực của địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm
nghèo, Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Nhà nước cụ thể hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng thành
chiến lược, chương trình, kế hoạch của Nhà nước về đẩy nhanh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong từng giai đoạn và hằng năm
để xác định rõ mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp tổ Tổ chức
thực hiện nhằm đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn
Lãnh đạo các ban, ngành đẩy nhanh các hoạt động thực hiện nghị quyết
của Trung ương về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giúp đỡ các địa phương thực hiện
thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, văn
nông thôn
CNH, HĐH là hai quá trình nối tiếp, đan xen nhau. Để có được lực
lượng sản xuất phát triển như hiện nay, các nước Tây Âu và Mỹ đã trải qua
thời kỳ CNH khá lâu rồi sau đó tiến hành HĐH. Có thể hiểu HĐH là quá trình
chống lại sự tụt hậu về kinh tế. Như vậy, xét về mặt lịch sử quá trình CNH
diễn ra trước quá trình HĐH. Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính chất
tương đối; trên thực tế luôn có sự đan xen, tác động qua lại giữa hai quá trình
CNH và HĐH. 22
CNH là quá trình mang tính lịch sử. Nhân loại đã trải qua hai cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật: Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất gắn
với quá trình chuyển từ lao động thủ công lên lao động cơ khí, từ đó xuất hiện
khái niệm công nghiệp hóa. Đã có một thời CNH được hiểu theo nghĩa là quá
trình phát triển công nghiệp, tạo ra cơ sở vật chất – kĩ thuật cho nền kinh tế
của một nước.
Quan niệm đơn giản nhất về CNH cho rằng: “CNH là đưa đặc tính
công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà
máy, các loại công nghiệp” [9, tr.19]. Quan niệm này được hình thành trên cơ
sở khái quát lịch sử công nghiệp hóa ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Trong
quá trình thực hiện CNH, các nước này chủ yếu tập trung và phát triển các
ngành công nghiệp. Sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác
chỉ là hệ quả của quá trình công nghiệp chứ không phải đối tượng trực tiếp
của công nghiệp hóa.
Trong sách báo về “Kinh tế Liên Xô” (đầu những năm 50 của thế kỉ
XX) có viết: “Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ
khí có khả năng cải tạo cả công nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng
với ngành trung tâm là chế tạo máy, từ sự tập trung vào phát triển công
nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, tỉ trọng công nghiệp trong tổng sản
cách phổ biến sức lao động dựa trên sự phát triển của công nghiệp cơ khí và
điện tử - tin học.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai gắn với quá trình chuyển
từ lao động cơ khí lên lao động dựa trên công cụ tự động hóa, sử dụng rộng
rãi người máy và những công nghệ hiện đại khác, từ đó xuất hiện khái niệm
hiện đại hóa. HĐH là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa
học và công nghệ tiên tiến hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, HĐH và CNH là hai khái niệm khác nhau. HĐH là khái
niệm dùng để chỉ việc đưa một lĩnh vực hoạt động, một nền kinh tế, một xã
hội đạt đến trình độ phát triển hiện đại. Ở một ý nghĩa nhất định, HĐH là khái