Viện khoa học xã hội Việt Nam
Đại học quốc gia Hà Nội
trường đại học khoa học
xã hội và nhân văn
Viện Triết học
Nguyễn thị tùng lâm
Vấn đề khai thác và sử dụng
một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Luận văn thạc sĩ Triết học
Luận văn thạc sĩ Triết học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Phạm Văn Đức - Viện Triết học
Hà nội - 2005
1
MỤC LỤC
Mở đầu 2
Chương 1Nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước 9
1.1. Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người và vai trò của chúng trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 9
1.1.1.Các khái niệm: nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người 9
1.1.2. Vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong quá 15
Chương 2 Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm khai thác và sử dụng
một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ……………………………….48
2.1. Một số nét cơ bản về thực trạng khai thác và sử dụng nguồn lực tự nhiên và nguồn lực
con ngườ i ở nước ta hiện nay 48
2.1.1. Thực trạng việc khai thác và sử dụng nguồn lực tự nhiên 48
thành nguồn lực cho quá trình sản xuất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất,
dù nguồn lực tự nhiên có phong phú, đa dạng đến đâu, nhưng nếu không có sự
tham gia của con người với tư cách là chủ thể của quá trình sản xuất thì nguồn
lực tự nhiên chỉ luôn ở dạng tiềm năng. Do đó, con người giữ vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình sản xuất và cũng như nguồn lực tự nhiên, con
người trở thành một nguồn lực của quá trình sản xuất.
Cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác trên thế giới, tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu
biết khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người một cách
hợp lí thì không những có thể sớm hoàn thành quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước trong thời gian ngắn, mà còn tạo tiền đề cho sự phát triển 3
bền vững về sau. Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, chúng ta
không chỉ học, hỏi có lựa chọn kinh nghiệm và thành tựu khoa học, - công
nghệ của các nước tiên tiến đi trước, mà còn phải tập trung khai thác và phát
huy triệt để những lợi thế sẵn có của mình, nhất là con người và tự nhiên - hai
nguồn lực trung tâm của sự phát triển.
Xem xét quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay,
phải nói rằng, các nguồn lực trên chưa được chúng ta sử dụng hiệu quả; sự
suy thoái, xuống cấp của môi trường tự nhiên và chất lượng của người lao
động đang là những hạn chế lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ, chất lượng
và hiệu quả của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nguyên nhân chính
vẫn là do sự nhận thức của chúng ta chưa thật đúng và đầy đủ về vai trò của
nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người cũng như chưa khai thác, sử dụng
hợp lí hai nguồn lực này trong quá trình phát triển đất nước.
Có thể khẳng định rằng, nhận thức đúng tầm quan trọng của nguồn lực
tự nhiên và nguồn lực con người, trên cơ sở đó có các giải pháp phù hợp
Mối quan hệ tự nhiên - xã hội - con người cũng được tác giả Phạm Thị
Ngọc Trầm đề cập tới trong nhiều bài viết của mình. Trong Tạp chí Triết học,
số 1, 1992, với bài Những tư tưởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.
Lênin về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, tác giả đã khẳng
định rằng, thế giới cực kì phức tạp và đa dạng, được tạo thành từ nhiều yếu tố,
song suy cho cùng có 3 yếu tố cơ bản: giới tự nhiên, con người và xã hội; ba
yếu tố này thống nhất với nhau trong một hệ thống “tự nhiên - con người - xã
hội” vì chúng đều là những dạng, những trạng thái, những đặc tính và những
quan hệ khác nhau của vật chất đang vận động. Theo tác giả, ba yếu tố trên có
vai trò khác nhau nhưng bao giờ cũng thống nhất bền vững và biện chứng.
Tác giả viết: “Không thể đối lập, càng không thể tách cái sinh học, ra khỏi cái
xã hội trong bản thân con người. Do vậy, cũng không thể tách con người ra 5
khỏi môi trường tự nhiên hay môi trường xã hội. Hai môi trường đó thống
nhất với nhau tạo ra môi trường sống của con người”.
Tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan trong bài Về mối quan hệ giữa sự thích nghi
và việc cải tạo môi trường tự nhiên trong quá trình hoạt động sống của con
người, Tạp chí Triết học, số 1, 1992, có viết: “Trước khi con người cải tạo
được tự nhiên thì con người phải thích nghi với nó. Ngay cả khi khả năng ấy
là vô cùng to lớn, thì con người vẫn buộc phải thích nghi trong một giới hạn
đáng kể với giới tự nhiên, bởi một lẽ đơn giản là con người không thể bất
chấp các quy luật tự nhiên”. Trong Luận án Tiến sĩ Triết học,, 1996 “Mối
quan hệ giữa yếu tố sinh học, và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành và
phát triển con người”, tác giả Vũ Thị Tùng Hoa lại nhấn mạnh đến mối quan
hệ giữa tự nhiên và con người ở phương diện sinh học, để thông qua đó, thấy
được sự khăng khít không thể tách rời giữa tự nhiên và con người trong hoạt
động sống, hoạt động lao động sản xuất của con người.
Trên Tạp chí Triết học, số 6, 1999, tác giả Phạm Văn Đức cho rằng, để
mong muốn góp một phần nhỏ của mình vào việc giải quyết vấn đề trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở luận chứng vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con
người với tư cách là các nguồn lực cơ bản, quyết định sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và tìm hiểu thực trạng của việc khai thác và sử dụng các
nguồn lực đó, luận văn góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, sử
dụng một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích đó, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau: 7
- Làm rõ vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người, sự cần
thiết của việc khai thác, sử dụng chúng một cách hợp lý trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Phân tích thực trạng của việc khai thác và sử dụng nguồn lực tự
nhiên và nguồn lực con người ở nước ta hiện nay và nêu ra một số giải pháp
có tính chất định hướng nhằm khai thác và sử dụng một cách hợp lý các
nguồn lực đó trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lí luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lí luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, những tư tưởng của các nhà Triết học, mác xít về
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, những quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta cũng như những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học,
trong và ngoài nước về vấn đề trên.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích,
gia, dân tộc. Như vậy, dưới dạng tổng quát, nguồn lực bao gồm không
chỉ những yếu tố đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế, mà cả những
yếu tố mới ở dạng sức mạnh tiềm, không chỉ nói lên sức mạnh mà còn
chỉ ra nơi cung cấp sức mạnh đó, phản ánh cả mặt số lượng và chất
lượng đồng thời nói lên sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó
[25,tr.51](*). Tiêu chí để phân loại nguồn lực rất đa dạng dựa vào các
quan hệ xác định. Trong phạm vi khái quát nhất có thể chia nguồn lực
thành: nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần. Trong quan hệ với tư
cách là một sự vật hiện tượng, một quốc gia có nguồn lực bên trong (con
người, cơ sở vật chất - kĩ thuật, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự
nhiên,…) và nguồn lực bên ngoài (sự trợ giúp của các quốc gia khác, các
tổ chức quốc tế về vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lí,…).
Trong mối quan hệ chủ thể - khách thể, có nguồn lực chủ quan (con
người), nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, vốn
trong nước và ngoài nước)…. Như vậy, các nguồn lực hết sức phong phú,
đa dạng, trong đó tự nhiên và con người cũng được coi là một nguồn lực.
* Khái niệm nguồn lực tự nhiên: 10
Cũng giống như khái niệm về “nguồn lực”, cho đến nay, vẫn chưa có
một định nghĩa thống nhất về khái niệm nguồn lkực tự nhiên. Trước đây,
người ta không sử dụng khái niệm “nguồn lực tự nhiên”, thay vào đó là các
khái niệm điều kiện tự nhiên hay tài nguyên thiên nhiên. Để có cách hiểu
tường tận về khái niệm nguồn lực tự nhiên, trước hết cần phải hiểu thế nào
là “tự nhiên” và mối quan hệ giữa nguồn lực tự nhiên với điều kiện tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên.
Mặc dù có nhiều cách luận giải khác nhau, nhưng về cơ bản “tự nhiên”
được hiểu “là tất cả những gì đang tồn tại khách quan”, là toàn bộ thế giới vật
chất với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu muôn vẻ của nó, “là tập hợp
đã, đang và sẽ đưa vào khai thác và sử dụng.
Hiện nay, đang có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm nguồn lực tự
nhiên; tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với quan niệm cho rằng:
Nguồn lực tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ nguồn tài nguyên thiên
nhiên như đất đai, nước, khoáng sản và những điều kiện tự nhiên khác có tác
động trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động của con người.[34, tr.76]
Đây là một khái niệm rộng, nó bao chứa cả nguồn tài nguyên thiên
nhiên lẫn những điều kiện tự nhiên khác. Nghĩa là, xét về mặt nội dung, khái
niệm này rộng hơn so với khái niệm điều kiện tự nhiên hay tài nguyên thiên
nhiên. Nói một cách cụ thể, nguồn lực tự nhiên chính là sự kết hợp của tài
nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên nhưng được xem xét ở dạng
tiềm năng. Để hiểu cụ thể hơn, chúng tôi xin trình bày kết cấu của nguồn lực
tự nhiên.
Nguồn lực tự nhiên được người ta phân loại thành những tài nguyên
có thể sử dụng được lẫn tài nguyên sẽ được sử dụng trong tương lai. Mục
đích cách phân loại này là nhằm xác định phương hướng và kế hoạch sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên đảm bảo nguồn tài nguyên cho phát triển 12
kinh tế hiện tại và cho các thế hệ tiếp theo; đồng thời đảm bảo sự cân đối
giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Theo cách phân loại này, tài nguyên thiên nhiên được chia thành 2 loại:
Tài nguyên không có khả năng tái sinh là những nguồn tài nguyên có
trữ lượng ở một mức độ giới hạn nhất định. Chúng chỉ có thể được khai thác ở
dạng nguyên khai một lần, bao gồm những tài nguyên có quy mô không thay
đổi như đất và những tài nguyên khi sử dụng thì cạn dần, không có cách gì
hoàn trả lại, không có quy trình nào làm đầy lại được nguyên trạng của nó
như các loại khoáng sản, dầu khí, khí đốt tự nhiên, các mạch nước ngầm có
tốc độ làm đầy thấp đến mức được coi như là không phục hồi được…
nguồn năng lượng như mặt trời, thuỷ triều, sức gió, thuỷ năng sông ngòi và
các nguồn nước, không khí. Vì đây là những nguồn tài nguyên khi sử dụng có
khả năng tự tái tạo, đặc biệt chúng chính là các nguồn năng lượng mà con
người cần hướng vào tận dụng. Trong tương lai, đây sẽ là nguồn năng lượng
chủ yếu của con người, do đó cần có phương án nghiên cứu tích cực để có thể
sớm đưa vào sử dụng một cách phổ biến.
Có thể thấy rằng, thiên nhiên đã tạo ra cho con người những nguồn tài
nguyên đa dạng và phong phú. Những nguồn tài nguyên này có ý nghĩa quan
trọng trong phát triển kinh tế và đời sống con người.
* Khái niệm nguồn lực con người:
Rất nhiều công trình nghiên cứu và báo cáo trong nước và của các tổ
chức quốc tế đã cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực con người,
là nguồn lực có ý nghĩa quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
trong thời đại ngày nay. Các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu
nguồn lực con người, tuy nhiên việc đưa ra quan niệm về nguồn lực con
người lại không hoàn toàn giống nhau. ở Việt Nam, chưa có khái niệm chính
thức về nguồn lực con người, mặc dù các bài viết, các công trình nghiên cứu 14
về nguồn lực con người, về nguồn nhân lực, về tài nguyên con người cũng
không phải là ít, chẳng hạn như trong chương trình Khoa học, - Công nghệ
cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển
kinh tế-xã hội” mang mã số KX-07 do GS, TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ
nhiệm, nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao
gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất.
Trong Luận án tiến sĩ Triết học, của mình, tác giả Đoàn Văn Khái đưa ra quan
niệm về khái niệm nguồn lực con người như sau: Nguồn lực con người là khái
niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc
điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội.[25, tr.56] Như vậy, qua
tiêu về số lượng, chất lượng, trình độ học, vấn, nghề nghiệp chuyên môn,
nhân cách, sức khoẻ, tuổi thọ tức là nói lên khả năng của con người, của
một cộng đồng người như là một tiềm năng cần bồi dưỡng, khai thác và phát
huy. Vì thế, khi xem xét nguồn lực con người đòi hỏi phải có quan điểm toàn
diện, phải nhìn nhận con người với tất cả hiện trạng, tiềm năng, đặc điểm và
sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội.
1.1.2. Vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Một vài nét về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển tất yếu mang tính
quy luật trong tiến trình vận động và phát triển của các quốc gia. Thực chất,
công nghiệp hoá là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một
nước công nghiệp, hiểu theo nghĩa khái quát đây là quá trình chuyển đổi căn
bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế-
xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện
đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học,-công nghệ, tạo
ra năng suất lao động xã hội cao.[13, tr.42]. 16
ở nước ta, công nghiệp hoá là quá trình chuyển từ một nước sản xuất
nhỏ, công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp và năng suất lao động thấp thành một
nước có cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ hiện đại, khoa học, và
công nghệ tiên tiến, năng suất lao động trong các ngành kinh tế quốc dân tăng.
Công nghiệp hoá không thể không gắn liền với hiện đại hoá. Đây là hai
quá trình nối tiếp, đan xen nhau. Hiện nay trên thế giới, quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đi theo hai hướng: công nghiệp hoá, hiện đại hoá tư bản chủ
nghĩa và công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa. Hai loại
công nghiệp hoá, hiện đại hoá này, ngoài những biểu hiện giống nhau còn có
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đặt trong xu hướng
quốc tế hoá, hội nhập kinh tế thế giới và tham gia phân công lao động
quốc tế, chứ không phải khép kín theo kiểu “tự lực cánh sinh” như thời
kì trước đổi mới.
- Khoa học,, công nghệ được xác định là nền tảng và động
lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do đó, luôn đổi mới và tiếp thu
công nghệ tiến tiến là một yếu tố quan trọng để đạt được tốc độ tăng
trưởng tốt.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá được thực hiện trên cơ sở
nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực
con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn với phát triển bền vững.
Để sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công và đạt
hiệu quả cao thì việc nhận thức và thực hiện đúng những vấn đề trên mang ý
nghĩa hết sức quan trọng. Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, chúng ta phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, huy động và sử dụng các nguồn vốn sao cho có hiệu quả.
Nguồn vốn bao gồm hai loại: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước. 18
Con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng
suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất
một cách hợp lí. Nguồn vốn ngoài nước cũng là một yếu tố quan trọng đối với
việc phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta cần vận dụng mọi khả năng để thu
hút tối đa nguồn vốn này. Tuy nhiên, không nên hy vọng quá lớn vào nó, vì
trên thị trường vốn quốc tế hiện nay, khả năng cung về vốn cho các nước đang
phát triển thấp hơn nhiều so với cầu, đó là chưa kể sự cạnh tranh gay gắt để
giành nguồn vốn này giữa các nước có nhu cầu, do đó tự lực tích luỹ vốn
trong nước phải được coi là cơ bản và quan trọng hơn.
nghệ hiện đại của các quốc gia khác, nhằm mở rộng thị trường để phục vụ
trực tiếp cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thứ năm, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lí của Nhà
nước là tiền đề quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Tuy đây là sự nghiệp của toàn dân nhưng phải có một Đảng lãnh đạo
đi tiên phong.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã
nhận thức được một cách rõ ràng những nguồn lực cơ bản, giữ vai trò quan
trọng và quyết định tới sự thành công của quá trình này, trong đó có hai nguồn
lực chính đó là nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người.
* Vai trò của nguồn lực tự nhiên
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia không phân biệt khuynh hướng
chính trị đều lựa chọn cho mình một đường lối phát triển kinh tế nhất định. Lý
thuyết tăng trưởng kinh tế được biểu thị bằng hàm sản xuất Cobb-Donglass:
Tổng mức cung của nền kinh tế (Y tính theo GDP) được xác định bởi các yếu
tố đầu vào của sản xuất (lao động: L, vốn sản xuất: K, tài nguyên thiên nhiên:
R và khoa học, công nghệ hiện hành: T):
Y = f(L, K, R, T) 20
Như vậy, tài nguyên thiên nhiên là một trong bốn nguồn lực cơ bản để
phát triển kinh tế. Nhưng tài nguyên thiên nhiên không phải là động lực mà
chỉ là một trong những nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, là đối tượng lao
động và là một yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất. Vai trò của nó được thể
hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, cung cấp những tư liệu dinh dưỡng cho cơ thể như không
khí, ánh sáng, nước, các nguồn năng lượng, lương thực, thực phẩm, …Có thể
khẳng định tự nhiên là môi trường sống của con người. Thông qua môi trường
tự nhiên và bằng lao động, con người có thể tạo ra các sản phẩm vật chất và
chế biến hoặc ở dạng sơ chế nhằm thúc đẩy sản xuất. Nguồn tài nguyên thiên
nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp, công nghiệp khai thác, công nghiệp
chế biến góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho
người lao động.
Tự nhiên là yếu tố quan trọng cho tích luỹ vốn và phát triển ổn định.
Tại các nước đang phát triển, khai thác tài nguyên thiên nhiên được coi là giải
pháp quan trọng để tạo nguồn tích luỹ ban đầu phục vụ nhu cầu phát triển đất
nước, xây dựng hạ tầng cơ sở, góp phần cải thiện dân sinh. Sự giàu có, dồi
dào về tài nguyên là một trong những cơ sở giúp cho việc tích luỹ để thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngoài ra, nguồn lực tự nhiên còn được xem là không gian sống, cung
cấp các dịch vụ cảnh quan thiên nhiên. Không gian môi trường tự nhiên mà
con người tồn tại trải qua hàng tỷ năm nay không hề thay đổi về độ lớn, có
nghĩa không gian môi trường tự nhiên là hữu hạn. Trong khi đó, dân số loài
người trên trái đất đã và đang tăng lên theo cấp số nhân (theo thống kế của Tổ
chức y tế thế giới-WHO, cứ bình quân mỗi giây có 3 trẻ em ra đời, mỗi ngày
nhân loại sản sinh ra 30 vạn trẻ em. Với tốc độ sinh đẻ như vậy thì dự báo đến
năm 2120, dân số thế giới sẽ vượt quá 15 tỷ người). Như vậy, không gian môi
trường tự nhiên mà mỗi người được hưởng sẽ giảm xuống và chất lượng suy
giảm nhanh chóng, khả năng đáp ứng các nhu cầu dịch vụ của con người cũng 22
giảm theo. Con người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian môi
trường tự nhiên, môi trường tự nhiên không chỉ cung cấp các điều kiện vật
chất mà còn là nơi để cho con người hưởng thụ các cảnh đẹp thiên nhiên, thư
thái về tinh thần, thoả mãn các nhu cầu tâm lí, tạo khả năng tái sản xuất sức
lao động của người lao động.
Như vậy, có thể nhận xét rằng, tự nhiên là một nguồn lực cơ bản để
phát triển kinh tế và ổn định đời sống của con người, là nơi cung cấp những
nhanh chóng của các ngành công nghiệp đòi hỏi mở rộng quy mô xây dựng;
các nhà máy mới được xây dựng làm tăng số lượng diện tích đất đai dành cho
yêu cầu này. Trong nông nghiệp, đất đai có một vị trí đặc biệt quan trọng, là
yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất này. Đất đai không chỉ là một điều kiện
thực hiện hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn là nguồn cung cấp thức ăn
cho cây trồng. Mọi tác động của con người vào cây trồng đều dựa vào đất đai
và thông qua đất đai. Đất đai sử dụng trong nông nghiệp được gọi là ruộng đất.
Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không
thể thiếu được. Ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động.
Bên cạnh nguồn tài nguyên đất đai, nguồn nước là một nguồn lực vô
cùng quan trọng, ảnh hưởng nhiều tới cuộc sống và sản xuất của con người.
Nước là nguồn tài nguyên không thể thiếu được trong sản xuất và đời sống,
nó đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt của con người như cung cấp nước ăn, uống,
vệ sinh, cung cấp cho các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,
là cơ sở để xây dựng công trình thuỷ điện, vận tải thuỷ, tải nhiệt, các sản
phẩm công nghiệp như đồ uống, hoá chất, v.v…
Nguồn tài nguyên rừng vừa có giá trị về kinh tế vừa có giá trị bảo vệ
môi trường. Về mặt kinh tế, rừng cho sản phẩm gỗ, là vật liệu kiến trúc quan
trọng. Ngoài giá trị của gỗ, rừng còn cho chúng ta các sản phẩm động, thực
vật như thịt thú rừng, những cây dược liệu, những loại cỏ có hương thơm, dầu
thực vật, vỏ cây quý, hoa quả có giá trị thương mại. Những sản phẩm này của
rừng là một nguồn thu nhập quan trọng của người dân nông thôn ở những