ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM BÁ ĐIỀN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PLATÔN
QUA TÁC PHẨM “NỀN CỘNG HÒA”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Hà Nội – 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. PLATÔN VỚI TÁC PHẨM “NỀN CỘNG HOÀ” 8
1.1. Những điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở lý luận cho sự ra đời tư
tưởng giáo dục của Platôn 8
1.1.1. Những điều kiện kinh tế - xã hội 8
1.1.2. Cơ sở lý luận cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của Platôn 13
1.2. Platôn cuộc đời và sự nghiệp 22
1.2.1. Cuộc đời Platôn 22
1.2.2. Sự nghiệp của Platôn 28
1.3. Về tác phẩm “Nền cộng hòa” 30
Chương 2. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG
GIÁO DỤC PLATÔN TRONG TÁC PHẨM “NỀN CỘNG HÒA” 42
2.1. Đối tượng giáo dục 42
2.2. Nội dung giáo dục 48
2.3. Phương pháp giáo dục 57
2.4. Mục đích giáo dục 64
2.5. Bước đầu đánh giá giá trị và hạn chế trong tư tưởng giáo dục
của Platôn 70
2.5.1. Giá trị trong tư tưởng giáo dục của Platôn 70
2.5.2. Hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Platôn 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
1
hành Trung ương lần thứ 2, khoá VIII, Đảng ta đã đưa ra và nhấn mạnh:
“Thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc
giáo dục – đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là nhân tố quyết định tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho
phát triển” [9, tr. 29].
Trong bối cảnh thực tiễn luôn vận động, biến đổi, cùng với chính
sách mở cửa của đất nước nhằm hòa nhập với cộng đồng quốc tế như hiện
nay. Chúng ta muốn phát triển thì phải luôn tự chấn chỉnh và đổi mới,
trong đó chấn chỉnh và đổi mới giáo dục là một trong những lĩnh vực mà
Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ
hóa và hội nhập quốc tế” [10, tr. 131]. Chính vậy, đổi mới giáo dục đã trở
thành nhu cầu và là nhiệm vụ cấp bách của nước ta. Tuy nhiên, theo tinh thần
biện chứng, trong quá trình đổi mới, chúng ta không được phép phủ định sạch
trơn những tinh hoa, những tư tưởng giáo dục có giá trị của nhân loại nói chung
và của nước nhà nói riêng mà phải biết kế thừa, phát huy và vận dụng một cách
linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.
Nghiên cứu quá trình vận động và phát triển của lịch sử tư tưởng nhân
loại, chúng ta không thể không nhắc đến nhà đại hiền triết Platôn, mà tư
tưởng của ông đã trải qua hàng nghìn năm, song vẫn trường tồn và có sức
sống mãnh liệt. Platôn đã để lại cho nhân loại một di sản đồ sộ trong đó có tư
tưởng về giáo dục. Ông cũng là người đã sáng lập ra trường đại học đầu tiên
trên thế giới mang tên Academi, bản thân Platôn là người thầy xuất sắc,
thường xuyên thuyết giảng cho các học trò mà không cần giáo án.
Tư tưởng giáo dục của Platôn nằm trong nhiều tác phẩm, mà tập trung nhất
là ở tác phẩm “Nền cộng hoà”. Có thể nói, đây là một trong những công trình lớn
3
triết học phi mácxít. Bởi lẽ, các nhà triết học trước khi xây dựng học thuyết của
mình bao giờ cũng cần phải nghiên cứu lịch sử triết học trước đó. Chúng ta có
thể kể ra một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về Platôn như: Tác giả A.
Losev với tác phẩm Cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo của Platôn; Asumuxo,
Lịch sử cổ đại; Công trình nghiên cứu của tập thể tác giả Liên xô, Lịch sử triết
học (Tập 1, Maxítcơva, 1940)…
Ở Việt Nam, đã xuất hiện một số công trình dịch thuật khá sớm như
của tác giả Đặng Thai Mai với tác phẩm Lịch sử triết học phương Tây do
nhà xuất bản giáo viên ấn hành năm 1950. Sau những năm đổi mới các
công trình dịch thuật và nghiên cứu về triết học ngoài macxít nói chung và
của Platôn nói riêng đã được quan tâm và dịch thuật khá nhiều. Có thể kể tên
một số tác phẩm về Platôn như sau:
Platôn chuyên khảo của Benjamin Jowett và M.J.Knight do Lưu Văn
Hy và Trí Tri dịch, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2008.
Trong cuốn sách này tác giả đã dịch thuật những tác phẩm của Platôn như:
Nền cộng hoà, Phiên tòa và cái chết của Socrates, Meno, Bữa tiệc…
Triết học Hy lạp cổ đại do Thái Ninh biên soạn, nhà xuất bản sách khoa
Mác – Lênin ấn hành năm 1987. Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày triết
học Hy Lạp từ khi hình thành đến triết học Hy Lạp hoá, thời kỳ suy tàn của
chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại. Trong tác phẩm này, ngoài việc trình
bày về tư tưởng của Socrates, tác giả còn trình bày tư tưởng của Platôn bao
gồm quan niệm về: vũ trụ, nhà nước, mỹ học và lý luận nhận thức.
Lịch sử triết học, Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), nhà xuất bản Quốc gia ấn
hành năm 1998, trong đó tác giả trình bày triết học Platôn với các nội dung:
học thuyết về thế giới, nhận thức luận, logic học, nhân bản học, học thuyết
chính trị xã hội và thẩm mỹ học.
5
Lịch sử Triết học phương Tây, Lê Tôn Nghiêm nhà xuất bản Thành phố
Hồ Chí Minh ấn hành năm 2000. Trong đó tác giả trình bày quan niệm của
ấn hành năm 2000;…
Nói chung, các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ nghiên cứu một
cách sơ lược hoặc tổng quan về Platôn. Do vậy, cho đến nay ở Việt Nam
vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng của Platôn
về giáo dục một cách có hệ thống nói chung, trong tác phẩm “Nền cộng
hoà” của ông nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
- Mục đích:
Luận giải một cách tương đối có hệ thống tư tưởng giáo dục của Platôn trong
tác phẩm “Nền cộng hoà” để trên cơ sở bước đầu chỉ ra những giá trị và hạn chế
của tư tưởng này đối với giáo dục trong thời đại ngày nay.
- Nhiệm vụ:
+ Phân tích và trình bày một cách khái quát về cuộc đời, về sự nghiệp và
tư tưởng của Platôn về giáo dục trong tác phẩm “Nền cộng hoà”.
+ Đưa ra một số nhận xét và đánh giá về tư tưởng giáo dục của Platôn
trong tác phẩm “Nền cộng hoà”.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận là quan
niệm của các nhà sáng lập triết học Mác – Lênin về lịch sử triết học nói chung
và triết học cổ đại nói riêng; đồng thời kế thừa, tham khảo có chọn lọc các
công trình của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên
cứu của lịch sử triết học. Cụ thể là, phương pháp lôgíc kết hợp với phương
pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá và so sánh…
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
7
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Tư tưởng giáo dục của Platôn
trong tác phẩm “Nền cộng hoà”.
6. Đóng góp của luận văn:
PLATÔN VỚI TÁC PHẨM “NỀN CỘNG HOÀ”
1.1. Những điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở lý luận cho sự ra đời tư
tưởng giáo dục của Platôn
1.1.1. Những điều kiện kinh tế - xã hội
Theo C. Mác: “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của
họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [24, tr. 15]. Trung
thành với quan điểm khoa học đó, trước khi tiến hành nghiên cứu tư tưởng
giáo dục của Platôn chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc thù trong điều kiện
kinh tế - xã hội ở thời đại mà Platôn sống. Trên cơ sở đó, chúng ta mới có
được nhận thức khách quan và những đánh giá về những giá trị và hạn chế
một cách đúng đắn về tư tưởng giáo dục của Platôn.
Platôn sinh ra và lớn lên ở Hy Lạp cổ đại, là cái nôi của nền triết học
phương Tây. Đây là một quốc gia rộng lớn có điều kiện thiên nhiên khá ưu
đãi với mưa thuận gió hoà. Hy Lạp bao gồm miền nam bán đảo Ban Căng,
miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở biển Êgiê.
Hy Lạp được chia làm ba khu vực: Bắc, Nam và Trung bộ, trong đó
phía Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn, phì
nhiêu rất thuận lợi cho việc trồng trọt và phát triển nông nghiệp. Miền Trung
bộ có nhiều dãy nũi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, tập trung nhiều
dân cư, nơi có thành phố lớn như Aten.
Hy Lạp có vị trí địa lý với rất nhiều lợi thế, các mặt của lãnh thổ gần
như tiếp giáp với biển, đặc biệt là vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban
Căng khúc khuỷu, nhiều vịnh nên Hy Lạp dễ dàng mở các cảng biển thông
9
thương, giao lưu với các nước khác, tạo cơ sở thuận lợi để phát triển kinh tế,
thủ công nghiệp và các ngành nghề khác. Trong đó, các đảo trên biển Êgiê là
nơi trung chuyển cho việc đi lại buôn bán giữa Hy Lạp với các nước thuộc
Tiểu Á và những nước khác. Vùng biển Tiểu Á là đầu nối giao thương giữa
cho dân tự do thuộc giai cấp chủ nô, còn đối với đông đảo nô lệ và kiều dân
thì đó chỉ là nền tàn bạo của giai cấp chủ nô mà thôi. Do đó, xã hội chiếm hữu
nô lệ ngày càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô với nô lệ, giữa
người giàu và người nghèo ngày càng mâu thuẫn gay gắt.
Lao động trong xã hội đã có sự phân chia rõ rệt giữa lao động trí óc và
lao động chân tay, chính điều này đã tạo điều kiện cho một số người chỉ
chuyên tâm lao động trí óc. Họ suy ngẫm về thế giới, xã hội và con người
dần dần làm nảy nở các tư tưởng triết học. Các tri thức triết học và khoa
học đã làm phá vỡ ý thức thần thoại và tôn giáo nguyên thủy thời đó. Tuy
nhiên, ngay khi mới ra đời các tư tưởng triết học cũng mang tính giai cấp
sâu sắc và bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Nó là thế giới quan
của giai cấp chủ nô và trở thành tư tưởng thống trị xã hội. Khẳng định điều
này C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của
giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp
nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh
thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật
chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử
nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần
cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối. Những tư tưởng thống trị
không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan
hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu
hiện dưới hình thức tư tưởng; do đó là sự biểu hiện của chính ngay của
11
những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; do đó, đó là
những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy” [22, tr. 66, 67].
Thời kỳ cổ đại, Hy Lạp được phân chia thành nhiều nước nhỏ. Mỗi
nước lấy một thành phố lớn làm trung tâm. Trong đó có hai thành phố lớn và
hùng mạnh nhất là Spác và Aten.
Thành phố Spác nằm ở vùng bình nguyên, đất đai màu mỡ rất thuận lợi
phong phú, những tập thơ thấm đẫm tình cảm, những vở kịch độc đáo phản
ánh cuộc sống sôi động, bền bỉ của người Hy Lạp.
Về luật pháp: Người Hy Lạp đã xây dựng được một nền pháp luật và
được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Aten.
Về khoa học tự nhiên: Họ đã để lại những thành tựu toán học, vật lý
làm nền tảng cho sự phát triển khoa học tự nhiên sau này. Với các tên tuổi nổi
tiếng như Talet, Pytago, Heraclit…
Về lĩnh vực thiên văn: Người Hy Lạp đã biết Trái đất hình cầu, đã dự
báo được hiện tượng Nhật thực và Nguyệt thực, đã quan sát được các vì
sao trên bầu trời…
Về mặt lý luận: ý tưởng về sự bất tử của thần linh cũng tồn tại song
song với ý tưởng về sự vĩnh cửu của vũ trụ như sự kết hợp thế giới quan thần
thoại với tri thức khoa học và những mầm mống của tư duy triết học…
Như vậy, có thể nói Hy Lạp cổ đại đã xây dựng được một nền văn minh
phát triển rực rỡ sớm nhất nhân loại. Những thành tựu đó vẫn còn giá trị đến
ngày nay mặc dù con người đã đạt được những bước tiến vượt bậc song con
người vẫn phải quay trở lại và thán phục. Đánh giá vấn đề này Ph.Ăngghen đã
cho rằng “về mặt triết học cũng như các lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn
luôn trở lại với thành tựu của dân tộc nhỏ bé mà năng lực và sự hoạt động về
13
mọi mặt đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào khác có thể
mong ước được trong lịch sử của nhân loại” [ 25, tr. 397].
1.1.2. Cơ sở lý luận cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của Platôn
Cơ sở lý luận cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của Platôn đó chính là học
thuyết ý niệm và học thuyết linh hồn. Điều này được biểu hiện cụ thể như sau:
* Học thuyết ý niệm:
Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan. Platôn cho rằng ý thức là có
trước và quyết định vật chất. Cụ thể, trong triết học của ông, ông gọi ý thức là
“ý niệm” và từ đó sinh ra hết thảy mọi sự vật hiện tượng. Từ điểm xuất phát
khách quan của nó. Nhờ có sự giúp đỡ của tư duy mà con người mới nhận
thức được sự vật, tìm được cái chung của sự vật và xác định được quy luật
của chúng. Tuy nhiên, đặc điểm cuối cùng đã làm cho tư tưởng của Platôn về
ý niệm trở nên kỳ lạ, hão huyền.
Để làm rõ hơn về ý niệm Platôn đã minh họa thông qua dụ ngôn “hang
động”. Trong dụ ngôn này Platôn dẫn ra cảnh tượng của những tù nhân sống
trong hầm tối dưới đất, với một lối vào mở ra ánh sáng và một lối đi dài dẫn
xuống hầm. Những tù nhân này đã sống ở đây từ nhỏ và họ bị xiềng ở cổ và
chân khiến họ không thể đứng dậy và quay lại được phía sau mà chỉ nhìn
được về phía trước. Ở xa hơn một chút phía trên có một ngọn lửa dọi sáng
phía sau lưng họ và giữa các tù nhân và ngọn lửa là một con đường mòn có
lan can được xây dọc theo nó, giống như bức màn ở một cuộc biểu diễn con
rối, che khuất những người biểu diễn nhưng cho thấy những con rối ở phía
trên. Các tù nhân bị giam giữ như thế không thể nhìn thấy điều gì của chính
họ hay của người khác, ngoại trừ những cái bóng do ngọn lửa chiếu vào
những người đi đi, lại lại lên bức tường qua ánh lửa. Khi họ nghe thấy tiếng
người dội lên từ vách hang thì họ nghĩ rằng những tiếng nói đó phát ra từ cái
bóng. Vì thế họ đã nhầm lẫn và coi những cái bóng trên tường là thực tại. Giả
15
sử một người nào đó được giải phóng khỏi xiềng xích và buộc phải đứng dậy
một cách đột ngột rồi quay đầu lại và đi bộ với cặp mặt hướng về phía có ánh
nắng ngoài hang, hẳn họ sẽ thấy đau đớn và khó chịu khi họ ra ngoài ánh
sáng, mắt họ sẽ ngợp ánh nắng khiến họ chưa thể nhìn thấy sự vật. Khi họ đã
nhìn quen các đồ vật trong ánh sáng của Mặt trời, họ nhận ra rằng Mặt trời tạo
ra các mùa và thời gian trong năm và chi phối mọi sự trên thế giới hữu hình
và hơn nữa Mặt trời là nguyên nhân của mọi cái mà họ đã quen nhìn thấy,
anh ta cũng sẽ hiểu rằng những gì mà anh ta và bạn anh ta nhìn thấy trên
tường là những cái bóng của thế giới hữu hình. Rồi người được giải thoát
khỏi cái hang đó nghĩ mình thật hạnh phúc khi được thay đổi và buồn cho
đắn chân thật. Chính vậy, tất cả những gì chúng ta nhìn thấy chỉ là cái bóng
của ý niệm, là bản sao của ý niệm. Giải thích quan niệm này Platôn đã minh
chứng “trên thế giới này có những cái giường và vô số những cái bàn
nhưng chỉ có hai ý niệm hay mô thế của chúng; một cái về cái giường, một
về cái bàn” [2, tr. 204]. Hoặc khi chúng ta có thể nói một người đẹp hay là
một bông hoa đẹp là vì chúng ta biết ý niệm về cái đẹp. Chúng ta khi nhìn
một sự vật nào đó chúng ta sẽ có sự đánh giá cho rằng nó đẹp, khi quan sát
nhiều sự vật như vậy, chúng ta nhận ra rằng cái đẹp của một hình thể thì
giống với các hình thức khác, tức là cái đẹp tồn tại ở nhiều hình thức khác
nhau. Từ đó, chúng ta đi đến kết luận ở mọi hình thức đều cùng là một cái
đẹp, và chúng ta sẽ hình thành dần khái niệm về cái đẹp. Cái đẹp này khi nó
với tư cách là một khái niệm, nó sẽ tồn tại khách quan, nghĩa là cái đẹp của
một sự vật cụ thể nào đó sẽ mất đi nhưng cái đẹp nói chung thì luôn luôn tồn
tại. Cụ thể như đối với bông hoa, cái đẹp của nó khi tàn sẽ mất đi, nhưng ý
niệm về cái đẹp vẫn còn. Chính vậy, ý niệm tồn tại bất tử, cho nên nó không
thể đồng thời với sự vật cảm tính thường xuyên biến đổi không ngừng.
Theo phân tích như trên thế giới ý niệm và thế giới sự vật cảm tính
tồn tại biệt lập với nhau, vậy điều gì kết hợp chúng lại với nhau. Giải quyết
17
vấn đề này Platôn đã cho rằng bản thân thế giới ý niệm và thế giới các sự
vật cảm tính không thể tự kết hợp với nhau, do vậy phải có ai đó kết hợp
chúng với nhau. Người đó chính là Đấng sáng thế, Đấng sáng thế có thể
được ví như là nghệ nhân, là người tinh thông, là người lành nghề, là nhà
điêu khắc, là họa sỹ thần thành. Đấng sáng thế sẽ tạo ra thế giới cảm tính
theo khuôn mẫu của thế giới ý niệm. Chẳng hạn như trên cơ sở ý niệm về
cái bàn, nghệ nhân mới tác động vào vật chất thuần túy để làm ra cái bàn
theo ý niệm cái bàn đã có sẵn. Theo đó nghệ nhân chỉ đóng vai trò trung
gian làm cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới sự vật cảm tính. Tuy
nhiên, có khéo léo tài ba đến đâu thì người nghệ nhân cũng không thể tạo
trên trời, có bao nhiều vì sao thì có bấy nhiêu linh hồn. Thượng đế đã đặt các
vì sao lên cỗ xe. Từ đó, linh hồn nhìn ngắm quan sát vũ trụ. Tạo hoá cũng ban
cho linh hồn con người một số phận bất di bất dịch. Platôn khẳng định linh
hồn tồn tại tiên nghiệm, có năng lực tiếp cận chân lý và giá trị, định sẵn con
đường lý tưởng thế giới và các loài sinh vật khác. Tạo hoá đã ban cho các linh
hồn con đường “tiếp cận tới các thiên thần” đó chính là Trái đất và các hành
tinh, ban cho “những công cụ nhất thời” để đưa linh hồn tới tồn tại hữu hình,
đó là thân xác, nuôi dưỡng làm con người lớn lên và khi thân xác chết đi
thượng đế lại tiếp nhận lại linh hồn.
Linh hồn con người mang bản chất tinh thần vô hình, phi vật chất, siêu
trần thế. Chỉ khi linh hồn được cấy vào “những công cụ nhất thời” kết hợp với
thể xác thì khi đó mới sinh ra các tri giác cảm tính. Linh hồn con người bao
gồm 3 bộ phận: bộ phận thứ nhất là linh hồn lý trí, đây là linh hồn có khả
năng nhận thức được thế giới ý niệm, cơ quan của nó là đầu óc; bộ phận
thứ hai là linh hồn dũng cảm, là cơ sở cho sự giận dữ, tính tự trọng, gan dạ
và dũng cảm; bộ phận thứ ba là linh hồn dục vọng, đây là cơ sở cho những
tham vọng, ham muốn, nhu cầu ăn uống, nhu cầu tình cảm… Trong ba bộ
19
phận này thì chỉ có linh hồn lý chí là tồn tại bất tử, hai bộ phận còn lại thì
chết cùng với thể xác.
Tuy linh hồn bao gồm 3 bộ phận song theo Platôn chúng luôn thống
nhất với nhau. Trong đó, ông đã so sánh linh hồn con người với “năng lực
gắn kết cỗ xe ngựa đối với người lái xe ngựa”. Người lái xe có vai trò như
linh hồn lý trí. Hai con tuấn mã có vai trò như hai bộ phận còn lại của linh
hồn, một con trắng đẹp bên phải đại diện cho linh hồn dũng cảm, một con đen
xấu xí bên trái đại diện cho linh hồn dục vọng, một con thì không cần roi vọt
gì cả, chỉ cần người cầm cương nói và hướng dẫn là nó đi đúng đường, còn
con kia ngang ngược và bất kham dùng roi vọt mới trị được nó. Muốn cho
con ngựa đi đúng hướng thì người cầm cương phải biết điều khiển, biết kết
trí vừa là tự vận động.
Trong học thuyết linh hồn của Platôn, một trong những tư tưởng quan
trọng của ông đó là sự luân hồi của linh hồn. Linh hồn sau khi được thượng
đế tạo ra nó được đầu thai vào các vật trên trái đất. Trong lần đầu thai đầu
tiên, các linh hồn đều như nhau không có linh hồn nào thiệt thòi cả. Sau khi
trải qua lần đầu thai thứ nhất, linh hồn dời khỏi thể xác và chịu sự phán quyết
trước toà án của những người quá cố. Sau đó, linh hồn được tái sinh lần thứ
hai. Lúc này các linh hồn tự chọn cho mình một đường đời tương lai của
mình. Người nào được giải thoát trước tiên, người đó được lựa chọn trước
đường đời của mình, và sau này họ không thể thay đổi được. Về đức hạnh
hoàn toàn phụ thuộc vào người đó tôn trọng hay hắt hủi nó. Thông thường
đa số mọi người lựa chọn dựa trên thói quen từ kiếp trước. Nếu như một
người đàn ông ở lần tái sinh thứ hai lại mang bản tính của một phụ nữ thì
cũng là vì kiếp trước khả năng cảm tính nổi trội hơn lý trí của anh ta, nên
bây giờ trở thành một phụ nữ. Nếu một con lươn lựa chọn mình thành một
con sư tử, thì cũng vì ở kiếp trước nó đã phải nếm trải mùi thú dữ…chỉ khi
21
nào linh hồn trong cuộc đời của nó ít nhiều tiếp cận được với khái niệm và
chân lý vĩnh viễn biến chúng thành của riêng mình, thì nó mới được đầu
thai vào kiếp mới, cao hơn hoặc thấp hơn kiếp trước.
Không chỉ vậy, Platôn khi còn cho rằng linh hồn là bất tử. Platôn đã
luận giải vấn đề này bởi ba lý do như sau:
Thứ nhất, tính bất tử của linh hồn xuất phát từ sự tồn tại trước của các
nội dung tri thức tiên nghiệm. Nghĩa là tri thức không đến từ cuộc sống trong
trần gian mà đã tồn tại trước đó, điều này chứng tỏ linh hồn tồn tại trước thân
xác. Còn sự tồn tại sau thân xác thì được rút ra từ lập luận cho rằng mọi cái
sinh ra và mất đi trong bước chuyển giao từ những trạng thái đối lập nhau,
chẳng hạn như, từ thức suy ra ngủ rồi từ ngủ suy ra thức, từ lạnh suy ra nóng
và từ nóng suy ra lạnh…Như vậy, linh hồn tồn tại trước khi con người sinh ra,
mình rồi bắt đầu chu trình mới. Linh hồn con người giống như nước vậy, rơi
từ trên xuống đất, rồi bốc hơi trở về trời và rồi lại rơi xuống, cứ như thế
thay đổi mãi không ngừng.
Quan niệm của Platôn về học thuyết linh hồn nói chung và tư tưởng về
sự bất tử của linh hồn nói riêng gặp phải không ít ý kiến phản bác. Tuy nhiên,
sau này có rất nhiều nhà tư tưởng kế thừa, biện hộ, bổ sung thêm và nó tồn tại
cho đến ngày nay. Đặc biệt là ông cho rằng linh hồn là bản chất của con
người và nó không thuộc vào thế giới trần gian mà nó ở thế giới bên kia. Đây
là tư tưởng đặt nền móng cho nhiều nhà triết học duy tâm và đặc biệt là tôn
giáo sau này, trong đó rõ nhất là Kitô giáo.
1.2. Platôn cuộc đời và sự nghiệp
1.2.1. Cuộc đời Platôn
Platôn là nhà Đại hiền triết, nhà Giáo dục và là một trong các nhà tư
tưởng quan trọng nhất của thời kỳ Hy Lạp cổ đại, ông đã để lại nhiều tác