ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM QUANG TÙNG
QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN
VỀ DÂN CHỦ VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ VÀO
THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC Hà Nội - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM QUANG TÙNG
QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN
Chƣơng 2: THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY THEO
TƢ TƢỞNG CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 61
2.1. Thực trạng việc thực hiện dân chủ ở nƣớc ta hiện nay 61
2.1.1. Về sự thống nhất giữa dân chủ và CNXH 64
2.1.2. Về việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở nước ta. 76
2.1.3. Về quyền làm chủ của nhân dân. 84
2.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện
dân chủ ở nƣớc ta hiện nay 101
2.2.1. Hệ giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát triển
mọi mặt đời sống xã hội nhằm làm cơ sở nâng cao việc thực hiện
dân chủ ở nước ta hiện nay. 101
2.2.2. Hệ giải pháp tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam của dân, do dân, vì dân nhằm nâng cao việc thực hiện dân
chủ ở nước ta hiện nay. 110
2.2.3. Hệ giải pháp phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện
quyền làm chủ của mình ở nước ta hiện nay 119
KẾT LUẬN 127
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHỤ LỤC 137
- 4 -
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CSVN
Cộng sản Việt Nam
NCS
- 6 -
Với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, dân chủ là vấn đề quan trọng trong
quá trình hình thành một quan niệm mới về CNXH. Ngay từ khi bắt tay vào
việc xây dựng lý luận CNXH với tư cách là một khoa học, các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác đã chú ý đến vấn đề dân chủ để đưa ra quan niệm thực sự khoa học
về các quy luật chuyển hóa từ hình thái kinh tế xã hội TBCN lên hình thái kinh
tế xã hội XHCN, trong đó có sự đối lập căn bản giữa dân chủ XHCN và dân
chủ tư sản. Trong bối cảnh hiện nay những chỉ dẫn của C.Mác, Ph.Ăngghen và
V.I.Lênin về dân chủ vẫn còn nguyên giá trị. Việc nghiên cứu quan niệm của
các ông về vấn đề dân chủ cho phép chúng ta hiểu sâu sắc hơn bản chất của dân
chủ XHCN và qua đó, xác định các biện pháp hiện thực để đưa nó vào thực
tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của dân chủ, Đảng ta khẳng định: dân
chủ là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị
XHCN. “Thực hiện dân chủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn
hệ thống chính trị. Nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi
mới” [8, 90]. Dân chủ là bản chất của chế độ ta, đồng thời là nguyện vọng
thiết tha của nhân dân ta. Muốn vậy, phải “phát huy dân chủ đi đôi với giữ
vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật,
tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” [14,
135]. “Đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức” [11, 129]. Đó là điều
kiện để nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình bằng nhà nước,
thông qua nhà nước. Trong những năm qua, việc thực hiện dân chủ ở nước ta
đã có những bước tiến quan trọng. Nhờ biết xây dựng và phát huy dân chủ
trên mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó lấy việc thực hiện dân chủ về kinh
tế và ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất làm nền tảng, dân chủ chính trị làm
trung tâm, kết hợp tốt và đảm bảo hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã
- 7 -
hội trên cơ sở giữ vững kỷ luật, kỷ cương và tôn trọng pháp luật đã tạo cho
đất nước những thay đổi cơ bản với những thế và lực mới.
vấn đề dân chủ, đồng thời cho ta những nhận thức đúng đắn nội dung của vấn
đề dân chủ trong nhà nước kiểu mới, trên cơ sở đó vận dụng đúng đắn và sáng
tạo những quan điểm này vào thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay, khắc
phục những hạn chế và yếu kém còn tồn tại. Vì thế, tôi chọn vấn đề “Quan
điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về dân chủ và vận dụng quan
điểm đó vào thực hiện dân chủ ở nƣớc ta hiện nay” làm đề tài luận văn của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dân chủ hiện đang là vấn đề rất được quan tâm của giới nghiên cứu bởi
tính lý luận và thực tiễn cấp bách của nó, nhất là trong quá trình thực thi dân
chủ ở nước ta hiện nay. Có thể chia những nghiên cứu này theo hai mảng vấn
đề chủ yếu sau đây:
- Mảng nghiên cứu về tư tưởng của các nhà kinh điển Mác-Lênin về dân
chủ: Có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Bàn về dân chủ trong quản
lý xã hội” của Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý - Bộ tư pháp. Tác phẩm này
bao gồm những đoạn trích trong các trước tác của V.I.Lênin về vấn đề dân
chủ. “Tư tưởng của V.I.Lênin về dân chủ”, là kết quả đề tài nghiên cứu khoa
học do khoa Triết học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành
phố Hồ Chí Minh chủ trì nghiên cứu và tổng kết, “CNXH và dân chủ qua việc
- 9 -
C.Mác, Ph.Ăngghen phê phán quan điểm chính trị của chủ nghĩa cấp tiến tư
sản Đức” của Trần Băng Thanh đăng trên Tạp chí Triết học số 2, tháng 4 năm
1999, “Quan điểm của V.I.Lênin về sự kết hợp tất yếu hữu cơ giữa dân chủ và
CNXH” của Đặng Hữu Toàn đăng trên Tạp chí Triết học số 2, tháng 4 năm
2000, “Vấn đề dân chủ trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng của
V.I.Lênin” của tác giả Lê Xuân Huy đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9
năm 2005…
- Về vấn đề thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay, có các công trình
nghiên cứu tiêu biểu như: “Lý luận về dân chủ và thực hiện dân chủ hóa ở
Việt Nam trong công cuộc đổi mới” của Hoàng Chí Bảo, “Xây dựng nền dân
nay. Đây là hướng nghiên cứu chính mà luận văn muốn đi sâu nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là trình bày một cách hệ thống và khái quát
những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về dân chủ và
sự vận dụng những quan điểm đó vào thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích đó, luận văn có những nhiệm vụ như sau:
Thứ nhất, phân tích những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và
V.I.Lênin về dân chủ và ý nghĩa của những quan điểm này trong việc thực
hiện dân chủ ở nước ta hiện nay.
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng việc thực hiện dân chủ ở nước
ta hiện nay theo tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, từ đó đề xuất
- 11 -
một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện dân chủ ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng của luận văn đó là những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin về dân chủ và thực trạng việc thực hiện dân chủ ở nước ta.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn chỉ nghiên cứu những quan điểm
cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về dân chủ và đánh giá thực trạng việc
thực hiện dân chủ ở nước ta theo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
trong giai đoạn từ đổi mới đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài là: lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, về dân chủ. Đồng thời luận văn kế thừa
có chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan.
- Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ trên, tác giả vận dụng tổng hợp
những phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Trong đó đặc biệt chú ý phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích
và tổng hợp, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm thực tiễn trong việc đặt và
giải quyết những vấn đề liên quan đến đề tài.
loài người đó là nền dân chủ Athens, và nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến các trào
lưu tư tưởng dân chủ sau này, nhất là từ thời Phục hưng trở đi.
Dân chủ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là dêmocratia, tiếng Latin là
dêmokratia, được tạo thành bởi demos nghĩa là quần chúng, nhân dân, và
cratos nghĩa là chính quyền, quyền lực. Do đó dêmocratia là quyền lực của
nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân hay quyền làm chủ của nhân dân.
Vậy, khái niệm dân chu
̉
theo nghĩa nguyên gốc của tiếng Hy Lạp cổ và tiếng
Latin đều có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, khái niệm này
đã gần như bị quên lãng cả trên lĩnh vực học thuật cũng như trong thực tiễn
suốt thời kỳ chế độ phong kiến thống trị hàng ngàn năm, và nó chỉ thực sự
được phục sinh và trỗi dậy mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời của CNTB, những
khái niệm “nhân quyền” “dân chủ”, “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”, mới có
nội dung của đời sống hiện thực; đó là nền dân chủ tư sản. Để mở đường cho
phương thức sản xuất TBCN ra đời và phát triển, trong thế kỷ XVII, XVIII,
giai cấp tư sản ở nhiều nước đã giương cao ngọn cờ dân chủ nhằm chống lại
- 14 -
chuyên chế phong kiến và ách nô dịch của ngoại bang. Trong cuộc chiến
tranh giải phóng của nhân dân bắc Mỹ (1775 - 1781) những dân tộc thuộc địa
của Anh đang sinh sống trên mảnh đất này đã thông qua Tuyên ngôn độc lập
năm 1776 của Mỹ, trong đó có đoạn: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền
bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc”. Cách mạng tư sản Pháp nêu cao khẩu hiệu: “Tự do, bình đẳng,
bác ái”. Nhờ khẩu hiệu đó, giai cấp tư bản Pháp không những thu hút được
đại đa số nông dân, mà cả công nhân đi theo mình - nhân tố cơ bản mang lại
thắng lợi cho cuộc cách mạng mang tính triệt để nhất trong toàn bộ lịch sử ra
đời của CNTB. Đạt được thắng lợi, Cách mạng Pháp năm 1789 đã công bố
bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, ở đó có luận điểm nổi tiếng được
của một người, chế độ tư bản là chế độ dân chủ của một nhóm người, chế độ
XHCN mới là chế độ dân chủ đích thực, của tất cả mọi người.
Dân chủ còn được hiểu là một giá trị xã hội. Các cuộc đấu tranh giành
dân chủ đều dẫn đến khả năng giải phóng con người, nâng cao vị trí con
người trong lịch sử, hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lực
làm chủ xã hội. Dân chủ với ý nghĩa đó được xác định như một lý tưởng nhân
đạo, một giá trị nhân văn.
Dân chủ còn được xét với ý nghĩa là điều kiện để hình thành và phát
triển một nhân cách toàn diện của các chủ thể chính trị. Ðó là sự hình thành
thái độ, tính tích cực chính trị, sự chủ động, nhu cầu và sự tự giác tham gia
vào các quá trình chính trị thực tiễn. Ðó là tinh thần trách nhiệm của cá nhân
- 16 -
công dân trong cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ những gì phản dân chủ đang tồn
tại trong đời sống cộng đồng. Do vậy, dân chủ không chỉ là phạm trù chính trị
mà còn là phạm trù đạo đức.
Trong kho tàng lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, các ông đã
giành một vị trí quan trọng cho những quan niệm về dân chủ. Sau đây chúng
ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu những nội dung cơ bản trong quan niệm của C.Mác,
Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về dân chủ
1.1.1. Quyền làm chủ của nhân dân
Nội dung cốt lõi của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân hay sự
kiểm soát của nhân dân đối với toàn bộ quá trình ban hành và thực thi các
quyết định chung của chính thể nhà nước. Tiền đề của nó không phải cái gì
khác hơn là việc coi công dân là cơ sở, là nguồn gốc của mọi quyết định, của
các thiết chế quản lý. Đây là điều vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định
đối với việc xây dựng một cơ chế nhằm đảm bảo những lợi ích công dân.
Nguyên tắc nền tảng của dân chủ là mọi công dân đều có quyền quyết định
trong quá trình quản lý, điều hành xã hội của nhà nước, có quyền quyết định
một cách gián tiếp hoặc trực tiếp đối với tất cả những vấn đề chung của xã
hội; có quyền được hưởng những lợi ích từ những quyết định ấy hay việc
tiếp với nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ không thể sản
sinh dựa trên một xã hội dựa trên nguyên tắc cai trị của ý chí cá nhân tuỳ tiện
và thao túng (chẳng hạn chế độ quân chủ và phong kiến). Trái lại, dân chủ là
nảy nở trong một xã hội được tổ chức, thiết chế, và vận hành trên nguyên tắc
- 18 -
luật pháp và phân quyền, cũng như có sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức
và thiết chế phi chính trị và phi nhà nước đóng vai trò là lực lượng xã hội đối
trọng nhằm giám sát và cân bằng với thiết chế chính trị và nhà nước trong
việc thực hiện dân chủ.
Để chống lại sự bất công, bất bình đẳng, chống lại sự đè nén, áp bức
khinh rẻ, hay nói chung chống lại sự tha hóa, những yêu sách về tư do, công
bằng, bình đẳng, về quyền con người đã hình thành và trở thành hành động
tập thể của các nhóm xã hội, các giai cấp bên dưới. Và, cũng từ đó, xã hội vận
động, phát triển trong những biến thiên không ngừng của những cuộc đấu
tranh quyết liệt của đông đảo những giai tầng xã hội bị áp bức, bị tước quyền
để giành lấy quyền làm người, làm chủ xã hội, làm chủ cuộc sống của chính
họ, giành lấy dân chủ.
Lịch sử xác nhận, đã từng có một chế độ được gọi là chế độ dân chủ
trong thời đại chiếm hữu nô lệ, nhưng dẫu sao, trong chế độ nhà nước dân chủ
chủ nô, thân phận số đông - những người nô lệ chẳng có một giá trị nào. Họ
không được coi là con ngừơi, họ chỉ là những “công cụ biết nói'“ trong tay các
chủ nô. Sau đó, xã hội loài ngừơi đã trải qua một thời kỳ tàn khốc của những
“đêm dài trung cổ”. Trong thời kỳ này, quyền của con ngừơi, quyền của số
đông các tầng lớp nhân dân lao động gần như đều bị thủ tiêu trước sức mạnh
của một nhóm, thậm chí, một cá nhân (nhà vua). Chế độ chuyên chế phong
kiến đã trói buộc, giam hãm con người.
Cuộc đấu tranh nhằm phá vỡ sự thống trị của chế độ chuyên chế phong
kiến để hình thành một xã hội, một chế độ dân chủ - chế độ tôn trọng phẩm
giá, danh dự của con người được khởi đầu bằng những cuộc vận động tư
tưởng, văn hóa sôi động, rộng lớn trong thời kỳ Phục hưng ở châu Âu. Nội
một xã hội” [52, 149]
Vào thời kỳ chuyển tiếp tư tưởng (1841 – 1844), C.Mác tìm hiểu dân chủ
từ góc độ giá trị, xem nó như sự chiến thắng của lý trí trước cái phi lý, sự
khẳng định của nhân tính trước cái phi nhân tính, sự khắc phục “tha hóa”
chính trị, vốn là yếu tố bản chất dưới chế độ phong kiến. C.Mác ngay lúc ấy
đã đưa ra tuyên bố chính trị của mình: một nền dân chủ thực sự phải gắn liền
với sự nghiệp của nhân dân. Tuyên bố đó làm nổi bật sự khác biệt rõ ràng đầu
tiên giữa C.Mác và phái Hêghen trẻ trong quan điểm về vai trò của quần
chúng nhân dân và vĩ nhân trong lịch sử. Nếu phái Hegghen trẻ đổ lỗi thất bại
của các cuộc cách mạng cho “sự tham gia không thành công” của “đám
đông”, thì ngược lại, C.Mác và Ph.Ăngghen xem quần chúng nhân dân là lực
lượng tích cực không thể thiếu trong các biến cố lớn lao của lịch sử: “Hoạt
động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự
nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo” [44, 123]. Ngay trong quá trình cách
mạng tư sản sơ kỳ (ngụ ý cách mạng tư sản ở thế kỷ XVII – XVIII), sự tham
gia của quần chúng nhân dân chính là sự đảm bảo thắng lợi của nó. Trong tác
phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843), đề cập
đến chế độ dân chủ như mục tiêu đã đạt được của vận động lịch sử trong thời
kỳ này, C.Mác viết: “Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình
thức chế độ nhà nước. Ở đây, chế độ nhà nước - không chỉ tự nó, xét theo bản
chất của nó, mà còn xét theo sự tồn tại của nó, theo tính hiện thực của nó -
ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân
dân hiện thực, và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân. Chế độ
nhà nước ở đây xuất hiện đúng chân tướng của nó, - tức là xuất hiện với tính
cách là sản phẩm tự do của con người” [43, 345]
- 21 -
VI.Lênin đã phát triển và vận dụng sáng tạo có hiệu quả những tư tưởng
về dân chủ, về chủ nghĩa nhân đạo mácxít vào thực tiễn cách mạng Nga. Bằng
những hoạt động lý luận và thực tiễn sôi động, phong phú, chính Người đã để
lại những giá trị, những bài học quý giá cho việc xây dựng một nền dân chủ
[26, 131]
Quần chúng nhân dân tham gia vào các lĩnh vực quản lý nhà nước, vào
công việc chung của xã hội không chỉ thông qua những hình thức, những con
đường can dự vào bộ máy nhà nước, mà còn thông qua các tổ chức quần
chúng. Con người tồn tại và tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội
không phải chỉ với những phương thức hành động tập thể - thông qua các tổ
chức, mà họ còn phải được có quyền tồn tại, hành động với tư cách là những
cá thể độc lập - tư cách là công dân của xã hội - nhà nước, tư cách là thành
viên của xã hội - nhân loại. Một chế độ dân chủ, phải thực hành nguyên tắc:
Tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước phải trở thành
công cụ bảo vệ quyền con ngừơi, bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân.
1.1.2. Bản chất giai cấp của vấn đề dân chủ
Trong học thuyết Mác-Lênin, vấn đề dân chủ luôn được đề cập và phân
tích sâu sắc, là mục tiêu quan trọng hướng đến việc xây dựng một nền dân
chủ đầy đủ nhất - giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công để mọi
người đều được sống trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với tư
cách là quyền lực của nhân dân, dân chủ được coi là một thành tựu mang giá
trị xã hội và tính nhân văn sâu sắc và là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài
của nhân loại vì sự phát triển tiến bộ xã hội. Dân chủ là một phạm trù lịch sử
- 23 -
khách quan xuất hiện cùng với sự phát triển của nhân loại và đã được khắc
họa, tô đậm tính giai cấp khi xã hội xuất hiện giai cấp và quan hệ giai cấp.
Dân chủ luôn mang tính giai cấp và chịu sự chi phối của giai cấp cầm quyền.
Về thực chất, dân chủ với tư cách là quyền lực của nhân dân thì các thành quả
của dân chủ là sự phản ánh những giá trị nhân văn trong quá trình giải phóng
con người. Tuy nhiên, thực chất của quá trình dân chủ còn biểu hiện ở chỗ,
dân chủ với tư cách là chế độ nhà nước gắn trực tiếp với một giai cấp cầm
quyền nhất định dựa trên một quan hệ sản xuất thống trị thì dân chủ bao giờ
cũng mang tính giai cấp, không bao giờ có thứ dân chủ thuần túy cho mọi
giai cấp. Tính giai cấp của dân chủ được phản ánh trong các quan hệ giai cấp
đâu cũng thấy sự tương hợp giữa nhà nuớc và xã hội công dân, chính C.Mác
đã chỉ ra cả cơ chế của sự tha hóa nhà nước đối với xã hội công dân, mà chế
độ quân chủ “là biểu hiện hoàn chỉnh của sự tha hóa ấy”. C.Mác còn gọi đó là
“chế độ dân chủ của sự không tự do, là sự tha hóa đến mức độ hoàn thiện”.
C.Mác viết: “Vào thời trung cổ, chế độ chính trị là chế độ sở hữu tư nhân… Ở
thời trung cổ, đời sống nhân dân và đời sống nhà nước là đồng nhất. Ở đây,
con người là nguyên tắc hiện thực của nhà nước, nhưng đó là con người
không tự do. Vì vậy, đó là chế độ dân chủ của sự không tự do, là sự tha hóa
đến mức độ hoàn thiện” [43, 353]. Quá trình tha hóa diễn ra mạnh mẽ trong
điều kiện của quân chủ chuyên chế, bằng con đường biến “các đẳng cấp chính
trị thành các đẳng cấp xã hội”. Vào thời mà Hêghen sống, thời cận đại, ông
chỉ thấy “cơ thể nhà nước” và “chế độ chính trị” thống nhất với nhau trong ý
chí chung và người đại diện nó là vua. Nhưng thực ra chế độ chính trị ấy, theo
C.Mác, là biểu hiện của bộ máy quan liêu và tha hóa đối với xã hội công dân,
cái gọi là “công việc chung”, “trách nhiệm chung” trở nên vô nghĩa.
- 25 -
Từ chỗ không thừa nhận đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính
vô sản, không công nhận học thuyết về nhà nước và cách mạng XHCN của
chủ nghĩa Mác, nên các học giả tư sản, đặc biệt là thái độ của những kẻ cơ
hội, xét lại chủ nghĩa Mác đã quan niệm một cách sai lệch vấn đề nhà nước,
biện hộ cho sự tồn tại của nhà nước tư sản, của chế độ dân chủ tư sản mà
Látxan là tiêu biểu. Theo Látxan: “Để dọn đường cho việc giải quyết vấn đề
xã hội, Đảng công nhân Đức yêu cầu thành lập những hội sản xuất, với sự
giúp đỡ của nhà nước, dưới sự kiểm soát dân chủ của nhân dân lao động”
[51,44]. C.Mác đã vạch rõ thực chất tư tưởng cải lương, thỏa hiệp của phái
Látxan, cho rằng đó là một cương lĩnh thiếu căn cứ, không thể áp dụng trong
thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, bởi lẽ cái
cương lĩnh mà Látxan đưa ra với những ý kiến như trên nó đã né tránh cuộc
đấu tranh đang sục sôi ở các nước châu Âu thời đó. C.Mác viết: “Đáng lẽ phải
nói đến cuộc đấu tranh giai cấp hiện đang diễn ra, người ta lại đưa ra một