A Phần mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
Quá trình vận hành của chủ nghĩa t bản trong quá trình hình thành
của nó, trải qua những chặng đờng lịch sử đầy xơng máu, bóc lột và bất
công, mà cũng là những chặng đờng đầy sáng tạo và phát triển, thay
hình đổi dạng về quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội, cơ cấu giai cấp, và
tất cả những cấu trúc thợng tầng, kể cả ý thức hệ và thể chế chính trị
tất cả tạo nên xã hội t bản chủ nghĩa. Đó là một hình thái kinh tế xã
hội trong tiến trình lịch sử của nhân loại. Nó tồn tại khá lâu dài với
những mâu thuẫn và thậm chí những bệnh hoạn của nó. Vởy với một
hình thái kinh tế xã hội đầy những mâu thuẫn nội tại, luôn luôn nằm
trong vòng xoáy trôn ốc của những biến đổi không ngừng nh vậy sẽ đa
loài ngời đến đâu?
Mác đã dự đoán rằng Giờ tận số của chế độ t hữu t bản chủ
nghĩa đã điểm(1). Tuy nhiên, đến thời đại ngày nay thì chủ nghĩa t bản
vẫn đang ung dung tồn tại, nếu không muốn nói là phát triển đến đỉnh
cao rực rỡ. Tuy nhiên, song song với sự phát triển đó là những mâu
thuẫn không thể giải quyết và ngày càng sâu sắc. Vì thế có thể khẳng
định lời Mác tiên đoán chắc chắn sẽ xảy ra, vấn đề bây giờ là thời gian.
Từ đó đặt ra yêu cầu là phải nghiên cứu và vận dụng chủ nghĩa Mác
Lênin vào hoàn cảnh mới.
So với thời kì Mác - ăng ghen sống tình hình đã thay đổi nhiều, vì
vậy có những t liệu lịch sử cụ thể lúc bấy giờ là đúng thì bây giờ lại
không thích hợp nữa nhng nhiều nguyên lý, nhiều quy luật kinh tế
C.Mác đã phát hiện vẫn mang tính khoa học và ý nghĩa thực tiễn nóng
hổi. Chính vì vậy em xin chọn đề tài Lí luận về giá trị của C.Mác
(1)
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993, t.23, tr.1059
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
Nghiên cứu làm sáng tỏ các nguyên lí và quy luật của lí luận giá
trị. Từ đó rút ra đợc sự vận dụng quy luật giá trị vào vấn đề xây dựng
một xã hội công băng hiện nay,.
5. phơng pháp nghiên cứu
Vấn đề đợc nghiên cứu trên một phơng pháp luận duy vật biện
chứng. Phơng pháp nghiên cứu chung, phơng pháp phân tích, phơng
pháp so sánh, phơng pháp lô gic, phơng pháp lịch sử .
6. kết cấu
Tác phẩm gồm hai chơng
Chơng I giới thiệu về tác giả hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Chơng II lí luận của Mác về giá trị và sự vận dụng của đảng ta
B. Nội dung
Chng I Tiu s Cỏc Mỏc v hon cnh ra i tỏc phm
kinh in B T Bn
3
1. tiểu sử C mác
C. Mác sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Tơriơ trong
gia đình luật sư Heinrich Marx. Năm mười hai tuổi (1830) C. Mác vào
học trường trung học ở Tơriơ. Sức học của C. Mác thuộc loại giỏi, đặc
biệt C. Mác nổi bật ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo. C.
Mác cũng tỏ ra có năng lực về toán học. Mùa thu 1835, C. Mác tốt
Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất C. Mác. Ông lại đến Pa-ri,
nhưng lần này ông chỉ lưu lại ba tháng. Tháng Tám 1849, từ Pa-ri C.
Mác đi Luân-đôn và sống đến cuối đời (1883). C. Mác qua đời ngày 14
Tháng Ba 1883 ở Luân-đôn.
Hoạt động cách mạng sôi nổi và con đường tìm ra quy luật lịch
sử.Công tác thực tiễn ở báo Rheinische Zeitung đã làm thay đổi cơ bản
thế giới quan của C. Mác chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa
duy vật và từ chủ nghĩa dân chủ - cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản.
Tháng Hai 1844, trên tờ tạp chí Niên giám Pháp - Đức C. Mác đăng bài
Góp phần phê phán triết học pháp luật của Hê- ghen. Từ tháng Tư tháng Tám 1844, C. Mác viết Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844,
thực chất là những phôi thai của những tư tưởng hết sức quan trọng mà
sau này C. Mác phát triển một cách khoa học trong bộ Tư bản. Tháng
hai 1845, cuốn sách Gia đình thần thánh của C. Mác và Ph. Ăng- ghen
viết chung ra đời phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của
phái Hê-ghen trẻ, thực chất là phê phán toàn bộ chủ nghĩa duy tâm ,
đồng thời nêu ra vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch
sử. Thời kỳ hoạt động của C. Mác ở Pa-ri kết thúc (tháng Hai 1845),
một thời kỳ mới sau đó mở ra với mục đích rõ ràng mà C. Mác tự đặt ra
cho mình: đề xuất một học thuyết cách mạng mới. C. Mác cùng với Ph.
Ăng- ghen hợp sức viết Hệ tư tưởng Đức (1845-1846) tiếp tục phê phán
chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen và phái Hê-ghen trẻ đồng thời phê phán
5
chủ nghĩa duy tâm không nhất quán của Ludvich Phoiơbach. Trong
cuốn Sự bần cùng của triết học (1847) C. Mác đã chống lại triết học tiểu
tư sản của P.J. Pruđông và trình bày những cơ sở của chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chính trị kinh tế học vô sản. Năm 1848 được sự uỷ nhiệm của
Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản C. Mác và Ph. Ăng- ghen
k quỏ t ch ngha t bn lờn ch ngha cng sn v hai giai on
ca ch ngha cng sn, ngha l bn thõn xó hi cng sn phi phỏt
trin qua hai giai on: giai on thp- ch ngha xó hi, giai on caoch ngha cng sn. Nm 1876 sau khi Quc t cng sn nht gii
tỏn, C. Mỏc nờu lờn ý kin thnh lp cỏc ng vụ sn cỏc nc l
nhim v chớnh tr hng u trong phong tro công nhân.
2. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm bộ t bản
Cun b t bn c C.Mỏc nghiờn cu trong hai nm 1865 n
nm 1867 mi hon thnh. nghiờn cu c ti ny C.Mỏc ó
phi tỡm c v nghiờn cu trờn 2000 ti liu th vin nc Anh. Sau
hai nm nghiờn cu Mỏc ó hon thnh xong cun B T Bn gm ba
phn. trong tiu lun v ti m em nghiờn cu nm phn u trong
cun B T Bn.
Chơng II. Lí luận giá trị
1. 1 các quan điểm trớc Mác về lí luận giá trị
1.1.1 quan điểm của William Petty về lí luận giá trị
Ông đợc xem là ngời sáng lập ra trờng phái kinh tế học cổ điển,
ông có nhiều đóng góp cho lý luận kinh tế. Với lý luận giá trị lao động,
ông là ngời đầu tiên đa ra nguyên lý lao động quyết định giá trị trong
kinh tế chính trị học t sản, đồng thời dùng nó làm cơ sở để dự đoán một
cách tơng đối chính sách cơ sở của giá trị thặng d. Vì vậy, ông xứng
đáng là ngời đặt nền móng cho môn kinh tế chính trị học t sản.
Lý luận giá trị lao động của W.Petty chủ yếu phản ánh trong cuốn
Bàn về thuế khóa của ông. Trớc hết, ông phân biệt giá cả dới 3 hình
thức: giá cả tự nhiên, giá cả nhân tạo và giá cả chính trị. Giỏ c t nhiờn
chớnh l giỏ tr ca hng hoỏ do lao ng sn xut to ra v c o
lng qua lao ng ca lnh vc khai thỏc bỏc. Giỏ c nhõn to hay
chớnh l giỏ c th trng ca hng hoỏ, ph thuc vo giỏ c t nhiờn
hay quan h cung cu hng hoỏ. Giỏ c chớnh tr th hin s tỏc ng
A.Smith.
8
ễng cũn khng nh mi lao ng u bỡnh ng trong vic to ra
giỏ tr. ễng xác định lợng giá trị là lợng lao động xã hội trung bình chứ
không phải lợng lao động chi phí thực tế để sản xuất hàng hoá. Một
thành tựu khác là ông phân chia lao động thành lao động giản đơn và
lao động phức tạp. ễng cũn phỏt hin ra s khụng n khp gia giỏ tr
v giỏ c ca hng hoỏ, khng nh giỏ tr l c s ca giỏ c.
Tuy nhiên, ông không hiểu tính chất xã hội của loại lao động này.
Vì thế khi đi sâu vào tìm hiểu xem là lao động gì quyết định giá trị của
hàng hoá thì ông rơi vào sự hỗn loạn. Khi giải đáp vấn đề giá cả thật
tức giá trị do cái gì tạo nên, ông ý thức đợc rằng trong xã hội t bản
chủ nghĩa, lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá có khối lợng ngang
nhau. Nhng do chỗ cha phân biệt đợc lao động và sức lao động nên
không thể giải thích lao động làm thế nào đẻ ra lợi nhuận.
ễng cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế và mâu thuẫn trong lý luận
giá trị của mình. Ông không phân biệt đợc lao động tạo ra giá trị mới và
lao động chuyển giá trị cũ trong hàng hoá, tức không đi sâu vào bản
chất cuối cùng của giá trị lao động. Sự nghiên cứu của ông vẫn tập
trung chủ yếu vào giá trị trao đổi vào lợng giá trị biểu hiện trong trao
đổi là giá cả. Đó là vật cản lớn trên con đờng giải quyết triệt để vấn đề
bản chất của giá trị mà chỉ có Mác sau này mới vợt qua đợc khi ông
phát minh ra thuộc tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
1.1.3. quan điểm của David Ricardo về lí luận giá trị
Lý luận giá trị của D.Ricardo đợc xây dựng trong cuốn sách nổi
tiếng Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa - đây là
lý luận giá trị lao động hoàn chỉnh của kinh tế chính trị học cổ điển của
1.2 quan điểm của mác về lí luận giá trị
1.2.1 chất giá trị
Giá trị lao động xã hội thể hiện và vật hóa trong hàng hoá. Để tìm
hiểu về giá trị Mác bắt đầu từ hàng hoá. Trớc tiên là tìm hiểu về giá trị
10
sử dụng, giá trị trao đổi và sau đó là giá trị của hàng hoá. Vì thế, để tìm
hiểu chất của giá trị phải bắt đầu từ hàng hoá.
Hàng hoá đợc Mác chọn làm phạm trù xuất phát để nghiên cứu là
vì Trong những xã hội do phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa chi phối
thì của cải biểu hiện ra là một đống hàng hoá khổng lồ , còn từng
hàng hoá một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố củ của cải ấy. Vì
vậy công cuộc nghiên cứu của chúng ta bắt đầu bằng việc phân tích
hàng hoá(1).
Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu của
con ngời thông qua trao đổi mua bán. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá
trị sử dụng và giá trị. Các nhà kinh tế trớc Mác đều cho rằng: hàng hoá
có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Theo Mác nói nh
thế là không chính xác, vì họ đã không phân biệt đợc giữa giá trị trao
đổi và giá trị. Vì vậy, theo ông hai thuộc tính của hàng hoá là: giá trị sử
dụng và giá trị, hai thuộc tính này là do tính chất hai mặt của lao động
sản xuất hàng hoá quyết định. Vì vậy, để tìm hiểu giá trị phải tìm hiểu
giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng là công dụng hay tính có ích của vật nhằm thỏa
mãn nhu cầu nào đó của con ngời, vớ d: cm n, xe p i, mỏy
múc, nguyờn, nhiờn vt liu sn xut... Mác viết Hàng hoá trớc hết là
một vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà
ngời khác, tức là giá trị sử dụng cho xã hội, nên nó là vật mang giá trị
trao đổi: Giá trị sử dụng chỉ đợc thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu
dùng(5). Trong kinh t hng hoỏ, giỏ tr s dng l vt mang giỏ tr trao
i.
Để nghiên cứu giá trị, Mác bắt đầu nghiên cứu từ giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi trớc hết biểu hiện là một quan hệ về số lợng, là tỷ lệ trao
đổi lẫn nhau giữa những giá trị sử dụng khác nhau. Vớ d: 1 m vi = 10
kg thúc. Vi v thúc l hai hng hoỏ cú giỏ tr s dng khỏc nhau v cht,
ti sao chỳng li cú th trao i c vi nhau v trao i theo t l no ú.
Mác viết: Giá trị trao đổi trớc hết biểu hiện ra nh là một quan hệ về số
lợng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này đợc trao đổi với
(3)
(4)
(5)
Sách đã dẫn, tr.75
Sách đã dẫn, tr.74
Sách đã dẫn, tr.75
12
những giá trị sử dụng loại khác, quan hệ này luôn luôn thay đổi theo
thời gian và địa điểm(6).
Hai hàng hoá khác nhau muốn trao đổi đợc với nhau thì giữa
chúng phải có cơ sở chung giống nhau. Cái chung đó không thể là thuộc
tính tự nhiên, không thể là giá trị sử dụng, mà cái chung đó là chúng
đều là sản phẩm của lao động. Nhờ cái chung đó mà tất cả các hàng hoá
trao đổi đợc với nhau. Điều này đã đợc Mác chứng minh rất dễ hiểu
thông qua ví dụ: ví dụ một quác-tơ lúa mì bằng a tạ sắt. Phơng trình ấy
một bên giá trị sử dụng của các sản phẩm lao động, thì chúng ta sẽ có
giá trị của chúng(9).
Nh vậy, cơ sở chung của trao đổi là lao động hao phí tạo ra hàng
hoá đó kết tinh trong hàng hoá. Vy giỏ tr l lao ng xó hi ca ngi
sn xut hng hoỏ kt tinh trong hng hoỏ. Cht ca giỏ tr l lao ng, vỡ
vy sn phm no khụng cú lao ng ca ngi sn xut cha ng trong
ú, thỡ nú khụng cú giỏ tr. Sn phm no lao ng hao phớ sn xut ra
chỳng cng nhiu thỡ giỏ tr cng cao. Nh thế là cái chung, biểu hiện
trong quan hệ trao đổi hay trong giá trị trao đổi của các hàng hoá,
chính là giá trị của chúng(10).
Giá trị hàng hoá là một phạm trù lịch sử, có sản xuất hàng hoá và
hàng hoá thì mới có giá trị hàng hoá. một vật không thể là một giá
trị đợc, nếu nó không phải là một vật phẩm tiêu dùng(11). Giá trị trao
đổi chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị, còn giá trị là nội
dung, là cơ sở của giá trị trao đổi.
Nh vậy hàng hoá có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Hai
thuộc tính này làm tiền đề và điều kiện cho nhau, nó cùng tồn tại và
thống nhất với nhau trong hàng hoá, nếu thiếu một trong hai thuộc tính
thì sản phẩm không thể trở thành hàng hoá. Tuy nhiên, để trở thành
hàng hoá thì một vật trớc hết phải là sản phẩm của lao động, nếu không
thì Một vật có thể là một giá trị sử dụng mà lại không phải là một giá
trị. Đó là trờng hợp khi sự có ích của vật ấy đối với con ngời không
phải do lao động tạo ra(12). Kế đến, nó phải là vật thỏa mãn đợc một
nhu cầu nào đó của con ngời, thông qua trao đổi, mua bán Một vật có
thể có ích và là sản phẩm lao động của con ngời, nhng lại không phải
là hàng hoá. Ngời nào làm ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của bản
Sách đã dẫn, tr.80
Sách đã dẫn, tr.80
(11)
Sách đã dẫn, tr.85
l giỏ tr s dng m l giỏ tr, h quan tõm n giỏ tr s dng l t
c mc ớch giỏ tr m thụi. Ngc li, i vi ngi mua, cỏi m h
quan tõm l giỏ tr s dng tho món nhu cu tiờu dựng ca mỡnh.
Nhng, mun cú giỏ tr s dng thỡ phi tr giỏ tr cho ngi sn xut ra nú.
(13)
(14)
C.Mác: T Bản, NXB Sự thật, Hà Nội 1973, Quyển thứ nhất, T.1, tr.80
Sách đã dẫn, tr.85
15
Nh vy, trc khi thc hin giỏ tr s dng phi thc hin giỏ tr ca nú.
Nu khụng thc hin c giỏ tr, s khụng thc hin c giỏ tr s dng.
1.2.2. Lợng giá trị.
Giá trị hàng hoá là do lao động trừu tợng của ngời sản xuất hàng hoá
kết tinh trong hàng hoá nên lợng giá trị hàng hoá là do lợng lao động tiêu
hao để làm ra hàng hoá quyết định. Lợng lao động tiêu hao đợc tính bằng
thời gian lao động nh ngày, giờ, tuần, tháng Mác viết: Hiển nhiên là đo
bằng lợng của cái thực thể tạo ra giá trị chứa đựng ở trong đó, bằng l ợng
lao động. Bản thân số lợng lao động thì đo bằng thời gian lao động, còn
thời gian lao động thì lại đo bằng những phần nhất định của thời gian nh
giờ, ngày(15).
Trong thực tế, có nhiều ngời cùng sản xuất một loại hàng hoá, nhng lại sản xuất trong những điều kiện khác nhau, năng suất lao động
khác nhau. Do đó, thời gian để sản xuất ra hàng hoá đó là khác nhau,
tức hao phí lao động cá biệt khác nhau. Vậy làm thế nào đo đợc đại lợng
giá trị của nó? Mác nói: Nếu giá trị của một hàng hoá là do lợng lao
động đó hao phí trong thời gian sản xuất ra hàng hoá đó quyết định thì
Thời gian lao động xã hội cần thiết là một lợng không cố định, do
đó lợng giá trị hàng hoá cũng không cố định. Mác viết: Đại lợng giá trị
của một hàng hoá sẽ không thay đổi, nếu nh thời gian lao động cần
thiết để sản xuất ra hàng hoá đó không thay đổi(21). Sự thay đổi của lợng giá trị hàng hoá phụ thuộc vào năng suất lao động và cờng độ lao
động.
Về năng suất lao động, nếu năng suất lao động tăng thì thời gian
lao động xã hội cần thiết giảm, do đó lợng giá trị và hàng hoá giảm và
ngợc lại. Mác viết: Nh vậy là đại lợng giá trị của một hàng hoá thay
đổi theo tỷ lệ thuận với lợng lao động thể hiện trong hàng hoá đó và
theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó(22). Còn đối với cờng
độ lao động, nếu cờng độ lao động tăng thì trong một đơn vị thời gian sẽ
tạo ra nhiều giá trị hơn và nhiều sản phẩm hơn, do đó giá trị cá biệt của
một hàng hoá không thay đổi.
(17)
(18)
(19)
(20)
(21)
(22)
Sách đã dẫn, tr.81
Sách đã dẫn, tr.81
)
Sách đã dẫn, tr.82
Sách đã dẫn, tr.82
C.Mác: T Bản, NXB Sự thật, Hà Nội 1973, Quyển thứ nhất, T.1, tr.83
Sách đã dẫn, tr.84
17
Sách đã dẫn, tr.91
C.Mác: T Bản, NXB Sự thật, Hà Nội 1973, Quyển thứ nhất, T.1, tr.97
18
õy l hỡnh thỏi phụi thai ca giỏ tr, nú xut hin trong giai on
u ca trao i hng hoỏ, trao i mang tớnh cht ngu nhiờn, ngi ta
trao i trc tip vt ny ly vt khỏc. Mác nghiên cứu sự ra đời của giá
trị trong sự tồn tại của giá trị trao đổi, và giá trị trao đổi này là sự mở
đầu cho việc chuyển kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá. Chúng ta
xuất phát từ giá trị trao đổi hay từ quan hệ trao đổi của hàng hoá để
lần mò ra vết tích của giá trị ẩn nấp trong những hàng hoá đó. Bây giờ
chúng ta phải trở lại cái hình thái biểu hiện ấy của giá trị(25).
Mác bắt đầu công việc nghiên cứu từ hình thái giản đơn của giá
trị, hình thái giá trị này phù hợp với việc bắt đầu chuyển từ kinh tế tự
nhiên sang kinh tế hàng hoá. Nhng ngay trong hình thái giản đơn ấy đã
bộc lộ ra mọi đặc điểm của hình thái giá trị. Hỡnh thỏi vt ngang giỏ cú
ba c im: giỏ tr s dng ca nú tr thnh hỡnh thc biu hin giỏ tr;
lao ng c th tr thnh hỡnh thc biu hin lao ng tru tng; lao
ng t nhõn tr thnh hỡnh thc biu hin lao ng xó hi. Bí mật của
mọi hình thái giá trị đều năm ở trong hình thái đơn giản đó của giá trị.
Cho nên điều khó khăn chính là việc phân tích hình thái này(26).
Hình thái giản đơn là hình thái mà giá trị hàng hoá này đợc biểu
hiện ở hàng hoá khác. Hình thái đơn giản của giá trị hàng hoá nằm
trong mối quan hệ giá trị giữa nó với một loại hàng hoá khác, hay nằm
trong mối quan hệ trao đổi giữa nó với loại hàng hoá này(27).
Khi phân tích hình thái này, Mác đã đa ra một ví dụ x hàng hóa
A = y hàng hoá B, hay: x hàng hóa A giá trị bằng y hàng hoá B. (20
acsin vải = 1 cái cáo, hay: 20 acsin vải trị giá bằng một cái áo)(28).
hiện ở hàng hoá, còn hàng hoá B dùng làm hình thái biểu hiện giá trị
của hàng hoá A. Nh vậy là giá trị sử dụng của hàng hoá này trở thành
hình thức biểu hiện giá trị của hàng hoá khác. Hỡnh thỏi giỏ tr tng
i v hỡnh thỏi vt ngang giỏ l hai mt liờn quan vi nhau, khụng th
tỏch ri nhau, ng thi l hai cc i lp ca mt phng trỡnh giỏ tr.
Trong hỡnh thỏi giỏ tr gin n hay ngu nhiờn thỡ t l trao i cha
th c nh.
Cũng với ví dụ trên, hai hàng hoá A và B rõ ràng là khác nhau.
Vải thì biểu hiện giá trị của nó bằng cái áo, còn cái áo thì dùng làm
vật liệu cho biểu hiện giá trị đó. Hàng hoá thứ nhất đóng vai trò chủ
động, còn hàng hoá thứ hai đóng vai trò thụ động. Giá trị của hàng hoá
thứ nhất đợc biểu hiện nh là một giá trị tơng đối, hay hàng hoá đó đang
ở trong hình thái tơng đối của giá trị. Hàng hoá thứ hai thì làm chức
năng một vật ngang giá, hay là đang ở trong hình thái ngang giá(29).
Hình thái ngang giá và hình thái tơng đối là hai cực biểu hiện của giá
trị, đó là hai mặt liên quan với nhau, quyết định lẫn nhau, không thể
tách rời nhau, nhng đồng thời cũng đối lập và không dung nhau. Hai
cực đó bao giờ cũng đợc phân phối giữa những hàng hoá khác nhau mà
biểu hiện giá trị làm cho chúng quan hệ với nhau(30).
Khi hàng hoá ở vào hình thái tơng đối Hình thái của giá trị
không những phải biểu hiện giá trị nói chung, mà còn phải biểu hiện
một giá trị đã xác định về mặt lợng, hay một đại lợng giá trị(31).
Giá trị tơng đối của hàng hoá có thể thay đổi mặc dầu giá trị
của hàng hoá đó không thay đổi. Giá trị tơng đối của hàng hoá đó có
thể không thay đổi mặc dầu giá trị của nó thay đổi; và cuối cùng những
sự thay đổi cùng một lúc của đại lợng giá trị và của biểu hiện tơng đối
(29)
(30)
(31)
đó trao đổi trở nên đều đặn và thờng xuyên hơn. Tng ng vi giai on
(32)
(33)
(34)
(35)
Sách
Sách
Sách
Sách
đã
đã
đã
đã
dẫn,
dẫn,
dẫn,
dẫn,
tr.110
tr.111
tr.127
tr.122
21
Sách đã dẫn tr.126
22
ca giỏ tr xut hin. Bây giờ các hàng hoá biểu hiện giá trị của chúng
một cách đơn giản, bởi vì chúng biểu hiện giá trị của chúng bằng một
hàng hoá hóa duy nhất, và một cách thống nhất(1). Hình thái chung của
giá trị ra đời. Hình thái giá trị của chúng là hình thái giản đơn chung
cho tất cả các hàng hoá, do đó nó là hình thái giá trị phổ biến (38). Để
trình bày về hình thái chung của giá trị Mác nêu ra ví dụ:
1 cái áo
=
10 li-vơ-rơ chè
=
40 li-vơ-rơ cà phê =
20 acsin vải
1 quác-tơ lúa mì
=
x hàng hoá A
=
biệt của nó, và do đó, độc quyền xã hội của nó đóng vai trò vật ngang
giá, cái địa vị đặc quyền đó trong các hàng hoá đã đóng vai trò những
vật ngang giá đặc thù của vải ở trong hình thái II, và cùng nhau biểu
hiện giá trị tơng đối của mình bằng vải trong hình thái III cái địa vị
đặc quyền ấy, trong lịch sử, đã bị một hàng hoá nhất định giành đợc đó
là vàng. Vậy nếu trong hình thái III ta đặt hàng hóa vàng thay vào
chỗ hàng hoá - vải thì chúng ta sẽ có:(40)
20 acsin vải
=
1 cái áo
=
10 li-vơ-rơ chè
=
40 li-vơ-rơ cà phê =
2 ôn xơ vàng
1 quác-tơ lúa mì
=
x hàng hoá A
vậy, hình thái đơn giản của hàng hoá là mầm mống của hình thái
tiền(43).
1.3 Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất, quan trọng nhất
của sản xuất và lu thông hàng hoá. Trong tác phẩm chống Đuy-Rinh,
Ăngghen đã nói: Quy luật giá trị này chính là quy luật cơ bản của
nền sản xuất hàng hoá, do đó cũng là quy luật cơ bản cái hình thức cao
nhất của sản xuất hàng hoá, tức là sản xuất t bản chủ nghĩa(44).
Quy luật này đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hoá đợc thực hiện
theo hao phí lao động xã hội cần thiết. Điều đó có nghĩa là quy luật đòi
hỏi số lợng lao động tiêu hao để sản xuất ra một hàng hoá phải ngang
với lợng lao động trong bình của xã hội hay thời gian lao động xã hội
cần thiết. Do vậy trong lu thông, quy luật giá trị đòi hỏi mọi ngời phải
trao đổi, ngang giá, tức phải tuân theo mệnh lệnh giá cả thị trờng.
Dới tác động của quy luật giá trị hình thành nên giá cả thị trờng.
Giá cả thị trờng hình thành thông qua sự cạnh tranh giữa nhà t bản trong
cùng một ngành, sản xuất kinh doanh cùng một loại hàng hoá nhằm thu
lợi nhuận siêu ngạch.
Tuy giá trị cá biệt của mỗi hàng hoá là khác nhau nhng trên thị trờng mỗi loại hàng hoá đều phải bán theo một giá thống nhất. Đó là giá
cả thị trờng dựa trên cơ sở giá trị thị trờng. Giá cả thị trờng của tất cả
các hàng hoá cùng loại đều nh nhau, dù cho những điều kiện sản xuất
của những ngời sản xuất có khác nhau nh thế nào chăng nữa. Giá cả thị
trờng chỉ biểu hiện lợng lao động xã hội trung bình càn thiết trong
những điều kiện trung bình của sản xuất, để cung cấp cho thị trờng một
khối lợng nhất định những hàng hoá nhất định. Giá cả đó đợc tính cho
toàn bộ khối lợng hàng hoá thuộc một loại nhất định(45).
(43)
(44)
(45)