Triết lý nhân sinh Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với lối sống của người Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


NGUYỄN VĂN TẶNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGÔ NGỌC THẮNG

HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chƣơng 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT
LÝ NHÂN SINH NHO GIÁO 9
1.1. Quá trình hình thành và biến đổi của Nho giáo 9
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội của thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc 9
1.1.2. Sự hình thành và biến đổi của Nho giáo 14
1.2. Một số nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh Nho giáo 17
1.2.1. Khái niệm về triết lý 17
1.2.2. Khái niệm về nhân sinh 19
1.2.3. Về cái sống và cái chết 21
1.2.4. Về bản tính con người 23
1.2.5. Về đạo đức 25
1.2.6. Về hình mẫu con người 27
1.2.7. Về sự tự học, trau dồi kiến thức cho bản thân 32

3.2.6. Xây dựng mẫu người lý tưởng làm mục tiêu phấn đấu cho mọi người 89
3.2.7. Xây dựng gia đình văn hóa trên cơ sở đảm bảo cho các thành
viên trong gia đình bình đẳng với nhau 92
3.2.8. Nâng cao vai trò của pháp luật với việc giáo dục đạo đức trong
đời sống xã hội 94
Kết luận 98
Danh mục tài liệu tham khảo 100
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trung Quốc là một nước lớn, có lịch sử văn hóa lâu đời và ảnh hưởng
sâu, rộng trên thế giới. Nền văn hoá Trung Hoa cổ đại là chiếc nôi của nền
văn minh phương Đông, nó còn hàm chứa bao giá trị tinh thần bí ẩn, độc đáo
và hữu ích. Những giá trị tiềm tàng ấy đã, đang và sẽ thu hút sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu văn hoá không những ở nước ta mà còn trên phạm vi cả
thế giới. Ngày nay, đã có nhiều cuộc Hội thảo bàn về triết lý nhân sinh Nho
giáo và ảnh hưởng của nó được tổ chức nhiều ở các nước, như: Trung Quốc,
Nhật Bản, Singapo, Việt Nam Các ấn phẩm về triết lý nhân sinh Nho giáo
Trung Hoa cổ đại được dịch và phát hành rộng rãi ở nhiều quốc gia, như:
Anh, Pháp, Nga, Mỹ Tựu trung lại, mục tiêu của việc này là nhằm nghiên
cứu và đánh giá một cách khách quan hơn vai trò của triết lý nhân sinh Nho
giáo trong các học thuyết triết học Trung Hoa cổ đại với quá trình phát triển
nhân loại trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế, có những diễn biến thuận, nghịch vô cùng phức tạp trên mọi mặt
của đời sống xã hội. Trước những vấn đề lối sống, đạo đức đang diễn ra phức
tạp trong xã hội ta hiện nay lại đặt ra những câu hỏi, phải chăng chúng ta có
một thời kỳ quá coi nhẹ những giá trị nhân sinh truyền thống; đã gạt bỏ đi

Hoa cổ đại chưa được hệ thống hoá thành chuyên khảo và nghiên cứu ảnh
hưởng của nó đối với văn hoá nước ta, đặc biệt là đối với lối sống của con
người trong thời kỳ hội nhập. Các phạm trù: trung, hiếu, đức, nhân, tâm, lợi
đã xuất hiện khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, trên nhiều lĩnh vực
nhưng nội hàm những giá trị và sự tiếp biến của nó còn ít người hiểu một cách
tường tận và sâu sắc. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả nghiên cứu và giảng dạy phần lịch sử phương Đông, đánh giá đúng
giá trị tiềm ẩn trong kho tàng văn hoá truyền thống và để góp phần vào xây

3
dựng lối sống, nếp sống mới mang đậm đà bản sắc dân tộc. Cho nên, tôi chọn
vấn đề triết lý nhân sinh Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với lối sống của
người Việt Nam làm đề tài để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Trung Quốc là quê hương của những tư tưởng đặc sắc, uyên thâm và bí
ẩn mà cho đến nay, nhân loại vẫn đầy ngưỡng mộ và khâm phục. Vì vậy, vấn
đề tư tưởng - văn hóa Trung Hoa cổ đại nói chung, triết lý nhân sinh Nho giáo
nói riêng đã thu hút nhiều sự tranh luận, quan tâm nghiên cứu của nhiều học
giả.
Trên thế giới một số nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng vẫn đạt
được một số kết quả khả quan về ổn định xã hội và phát triển kinh tế do biết
phát huy những mặt tích cực của Nho giáo, từ công cuộc đổi mới đất nước
hiện nay đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn và phát huy những truyền thống văn
hóa của dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào tìm hiểu về Nho giáo ở
Việt Nam, nêu ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, chính
trị, xã hội, giáo dục… Và đặc biệt những vấn đề của Nho giáo được đem ra
bàn luận, như: Vì sao Nho giáo lại có sức sống dai dẳng hàng ngàn năm ở các
nước Phương Đông; Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội hay là học
thuyết về đạo đức, nhân sinh; Về trung - hiếu - lễ và ảnh hưởng của nó đối với
lối sống như thế nào… Liên quan đến lĩnh vực này có các công trình của

xưa và nay; Hà Thúc Minh với Đạo Nho và văn hóa Phương Đông; Trần Thị
Hồng Thúy với Ảnh hưởng của Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt
nam truyền thống.
Bên cạnh việc phân tích những ảnh hưởng của Nho giáo, nhiều tác giả
còn đặt ra vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị tích cực, khắc phục tiêu
cực, góp phần xây dựng lối sống của người Việt Nam hiện nay.
Bài viết của Tiến sĩ Cung Thị Ngọc (1997) "Vấn đề nhận thức trong
triết lý nhân sinh của Trang Tử" Tạp chí Triết học, số 11; "Một vài nét về triết

5
lý nhân sinh của Trang Tử trong văn hoá phương Đông" Tạp chí Triết học, số
5 (2001). Trong hai công trình trên tác giả đã phân tích, đánh giá về bản chất,
đạo đức, vai trò của con người trong xã hội, vũ trụ, qua đó chỉ ra sự đồng nhất
và khác biệt giữa triết lý nhân sinh của Trang Tử với hệ thống triết học đương
thời nói riêng và phương Đông nói chung một cách khái quát.
Đề tài khoa học cấp Phân viện (2002): "Ảnh hưởng của Nho giáo đối
với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay" do Tiến sĩ Vũ Trọng Dung làm chủ
nhiệm, trong đó tác giả đã làm rõ những tư tưởng cơ bản của Nho giáo và sự
tiếp biến tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam. Tác giả cũng đã chứng minh những
nhận định về ảnh hưởng của Nho giáo đối với nước ta trong quá khứ và hiện
tại. Từ đó đưa ra một hệ thống các quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận
đối với việc xây dựng con người mới, văn hoá mới trong sự nghiệp đổi mới
hiện nay.
Luận án tiến sĩ "Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và sự thể hiện
của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)" của Nguyễn Thanh
Bình, trong đó tác giả đã phân tích Nho giáo với tính cách là học thuyết chính
trị xã hội. Các vấn đề được tác giả bàn đến như: con người, vai trò của con
người trong xã hội, xã hội lý tưởng, chuẩn mực đạo đức dưới góc độ chính
trị - xã hội.
Đề tài khoa học cấp Cơ sở (2008): "Vấn đề con người trong các học

xây dựng lối sống của người Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn
Một là, hệ thống hoá những triết lý nhân sinh Nho giáo thông qua tư
tưởng Khổng – Mạnh.
Hai là, phân tích, đánh giá và chứng minh những ảnh hưởng của triết lý
nhân sinh Nho giáo trong lịch sử ở nước ta.
Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm kế thừa, phát huy giá trị nhân
sinh Nho giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay.

7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Trải qua quá trình phát triển lâu đời, ở Trung Hoa cổ đại đã hình thành
nên hệ thống triết học với nhiều trường phái khác nhau, hàm chứa những giá
trị triết lý nhân sinh rất sâu sắc. Với khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ triết
học, tôi chỉ đi sâu vào tìm hiểu những nội dung cơ bản về triết lý nhân sinh
Nho giáo
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu chủ yếu những triết lý nhân sinh trong Nho giáo
nguyên thủy đến thời Hán Nho.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được xây dựng trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho việc phân tích, đánh
giá, chứng minh những triết lý nhân sinh Nho giáo nguyên thủy và mức độ
ảnh hưởng của nó.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác-
Lênin, trong đó chủ yếu vận dụng phương pháp luận duy vật lịch sử. Ngoài ra,
còn sử dụng một số phương pháp khác, như: hệ thống, phân tích, so sánh, đối

1.1. Quá trình hình thành và biến đổi của Nho giáo
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội của thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc
1.1.1.1. Về mặt xã hội
Xuân Thu - Chiến Quốc là hai giai đoạn lịch sử của xã hội Đông Chu
(770 - 221 tr.CN). Lịch sử của nhà Chu được bắt đầu từ sự thắng lợi thôn tính
giữa tộc Chu với nhà Ân - Thương và kết thúc dưới sự kiện Tần Thủy Hoàng
lên ngôi hoàng đế thống nhất Trung Hoa. Vào thế kỷ thứ XI tr.CN, nhà Chu
thừa cơ lúc nhà Ân - Thương suy yếu đã tấn công kinh đô nhà Thương lập lên
nhà Chu. Nhà Chu chia ra làm hai thời kỳ Tây Chu và Đông Chu.
Dưới thời Tây Chu (1135 - 770 tr.CN) tình hình xã hội khá ổn định. Họ
quản lý tổ chức xã hội dựa trên quan hệ huyết thống của dòng họ (tông pháp).
Sau khi chiếm được nhà Ân, vua Tây Chu đã phân chia đất đai, dân, quân
lính cho các anh em trong họ hàng để xây dựng các nước chư hầu xung
quanh nhà Tây Chu. Quyền hành cao nhất dưới chế độ Tây Chu thuộc về nhà
vua, vua được gọi là thiên tử, dưới vua Chu là các nước chư hầu, người đứng
đầu nước chư hầu thường là những quý tộc lớn thuộc tộc Chu và được coi là
ông vua nước nhỏ. Họ có quyền lực, có chính quyền, quân đội riêng ở vùng
đất được vua Tây Chu phân chia. Các nước chư hầu phải cống nạp theo định
kỳ với nhà Chu. Đến cuối thời kỳ Tây Chu, nước suy, các rợ ở xung quanh
thường xâm chiếm bờ cõi. Khi U Vương lên ngôi, ăn chơi trụy lạc, nhà Tây
Chu khủng hoảng kéo dài. Trong khi đó các nước chư hầu có nền kinh tế ngày
càng mạnh và từng bước muốn thoát khỏi sự ràng buộc về quyền lực của nhà
Chu.
Dưới thời Đông Chu (770 - 221 tr.CN), điển hình là Chu Bình Vương
(sau khi quân Tây Nhung vây hãm kinh đô và giết U Vương) lên ngôi do thế

10
và lực không đủ sức chống cự lại sự xâm lược của giặc ngoại tộc Hiểm Doãn
và Tây Nhung, đã dời đô từ Hạo Kinh về Lạc Ấp. Lúc này nhà Chu đã thực sự
suy yếu. Cho nên, nhà Chu không thể giữ được chế độ cai trị các nước chư

dùng bò kéo cày phổ biến đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai khẩn đất
hoang và dẫn nước nhập điền trong việc thủy lợi. Trong công xã một bộ phận
nhỏ nông dân do biết tổ chức và quản lý sản xuất đã trở thành địa chủ, còn đa
số đã mất ruộng đất trở thành tá điền, cố nông. Bên cạnh đó, những quý tộc có
quyền thế cũng dần dần chiếm ruộng của công xã thành ruộng tư. Thời Tây
Chu ruộng đất thuộc về vua Chu nhưng do công xã nắm giữ. Trong mỗi công
xã ruộng đất được chia đều cho nông dân canh tác, nộp thuế theo chế độ tỉnh
điền và chỉ được sử dụng ruộng đất trong một thời gian nhất định. Đến thời
Xuân Thu - Chiến Quốc chế độ tư hữu ruộng đất được nhà nước thừa nhận và
bảo vệ, còn Thời Tây Chu quyền sở hữu ruộng đất thuộc về vua Chu. Như
vậy, thời Xuân Thu - Chiến Quốc trong lòng xã hội nô lệ đã xuất hiện chế độ
tư hữu, đó là những yếu tố của quan hệ sản xuất phong kiến. Mặt khác, do
việc sử dụng công cụ bằng sắt trong nông nghiệp với việc mở rộng quan hệ
trao đổi sản phẩm lao động trong xã hội dẫn đến thủ công nghiệp và thương
nghiệp rất phát triển. Hàng loạt ngành, nghề mới được phát triển, như: luyện
kim, đúc, rèn kim loại, mộc, xây dựng, thuộc da, nhuộm, gốm… Sự phát triển
của các nghề này không hoàn toàn phụ thuộc vào quyền sở hữu đất đai của
nhà nước.
Sự thay đổi lớn trong lĩnh vực kinh tế đã tạo ra sự biến động trong quan
hệ đẳng cấp quý tộc nhà Chu và sự phân chia giai tầng trong xã hội. Thời Tây
Chu gồm có: thiên tử, khanh, đại phu, sĩ, trong đó thiên tử có quyền lực cao
nhất, rồi đến khanh, đại phu là quý tộc, sĩ là những quý tộc nhỏ. Vua và quý
tộc được truyền theo tông pháp. Thời Xuân Thu có ba giai tầng chính, đó là:
quý tộc, thường dân và nô lệ, trong đó giai cấp quý tộc có quyền lực cai trị,

12
thường dân là những người lam lũ gắn liền với ruộng đất, còn nô lệ là những
thường dân bị hình phạt và tù binh bị bắt lao động và chịu sự nô dịch của quý
tộc. Thời Chiến Quốc, bên cạnh những giai tầng cũ, thì có nhiều tầng lớp mới
xuất hiện, như trong tầng lớp những người có của, giờ đây xuất hiện bộ phận

Nguyên - là tập dân ca của nước Sở, trong đó, tác phẩm đã chịu ảnh hưởng
nhiều điểm tích cực, tinh thần phê phán hiện thực của Kinh thi. Tác phẩm đã
phản ánh thời cuộc Chiến Quốc nói chung, đặc điểm của nước Sở nói riêng.
Đồng thời nó cũng thể hiện tình cảm yêu nước thương dân, sự bình dị gần gũi
với nhân dân lao động của Khuất Nguyên. Điều đó đã làm cho Sở từ trở thành
một áng văn bất hủ trong nền văn hóa Trung Hoa. Chính những tri thức về
văn hóa đã trở thành chất liệu xây dựng nên nền móng cho sự nảy nở những
tư tưởng triết học, trong đó có triết lý nhân sinh Nho giáo.
Vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc, trong xã hội đã xuất hiện những
trung tâm, nơi tập trung các kẻ sĩ. Họ đứng trên lập trường của giai cấp mình
để phê phán trật tự xã hội cũ, đề ra những hình mẫu của xã hội tương lai và
tranh luận, đả kích lẫn nhau. Người ta gọi thời kỳ lịch sử này là bách gia
tranh minh. Chính trong quá trình trăm nhà cùng tranh luận, nó đã đẻ ra nhiều
tư tưởng vĩ đại, trên các lập trường của các giai tầng khác nhau. Họ chính là
những người đã hình thành nên những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh và
chặt chẽ trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc mở đầu cho thời kỳ mới. Vậy, bối
cảnh nào dẫn đến hiện tượng bách gia tranh minh. Thời Tây Chu về mặt tư
tưởng, đạo đức đều bị tôn giáo hóa và trở thành phương tiện độc quyền trong
việc thống trị của tầng lớp quý tộc. Ngay cả những hoạt động văn hóa cũng
chỉ phục vụ cho tầng lớp quý tộc. Tôn chỉ của chế độ chuyên chế trong xã hội
thời Tây Chu là lễ bất hạ thứ dân, hình bất thượng đại phu. Đến thời Xuân
Thu - Chiến Quốc, do những cuộc biến pháp ở nhiều nước chư hầu mà tình
hình chính trị, văn hóa đã trở nên dân chủ hơn. Quý tộc đã phải chia sẻ những
đặc quyền, đặc lợi cho các giai tầng khác, nhờ đó mà tầng lớp thứ dân được tự

14
do hơn. Sự phổ biến của việc mở trường tư học và phong trào chiêu hiền đãi
sĩ dưới thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã chứng minh cho điều đó. Từ bối cảnh
trên, nó đã góp phần làm gia tăng số người có học trong xã hội và uy thế của
tầng lớp kẻ sĩ. Trong tầng lớp kẻ sĩ và bình dân xuất hiện ngày càng nhiều

khu vực nông thôn là nơi cư trú của những thị tộc bị nô dịch. Đó là sự phân
biệt giữa nông thôn và thành thị. Trên cơ sở đó sẽ dẫn đến sự phân tầng xã
hội, mâu thuẫn giữa hai khu vực dần dần nảy sinh và đối kháng với nhau. Như
vậy, từ sự khái quát sơ lược về bối cảnh nói trên, nó là tiền đề cho sự hình
thành tư tưởng Nho giáo thời Xuân Thu - Chiến Quốc.
Xuân Thu - Chiến Quốc có nhiều các trường phái triết học khác nhau,
như: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia, Nông
gia, Tạp gia, Tung hoành gia.
Trong bối cảnh loạn lạc, sự sa đọa của các thế lực cầm quyền khiến cho
danh và thực không chính và thuận, kỷ cương, phép nước, trật tự xã hội bị
đảo lộn, nhất là nghi lễ truyền thống của nhà Chu. Nhằm duy trì địa vị của
giai cấp quý tộc thống trị và lễ nghĩa của nhà Chu trong xã hội, Nho giáo ra
đời mà Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) là người khởi xướng. Đó là một hệ thống
học thuyết, đạo lý bảo vệ và củng cố sự phục hồi chế độ chính trị, kinh tế, văn
hóa của chế độ chiếm hữu nô lệ nhà Chu. Cho nên, nó không phù hợp với tư
tưởng của thế lực mới nổi lên thời Đông Chu. Chính vì thế mà khi lên ngôi
Tần Thủy Hoàng đã đề cao pháp trị và tiêu diệt Nho giáo, loại bỏ Nho giáo ra
khỏi hệ tư tưởng. Song, nhà Tần lại không có biện pháp mềm dẻo thích hợp
để điều chỉnh chính sách cai trị theo cách quản lý của Pháp gia, trái lại nhà
Tần lại áp dụng một cách thoái quá trong việc sử dụng nó, cho nên, nhà Tần
đã sớm đi đến bị diệt vong.
Nhà Tần với việc áp dụng chế độ pháp trị thật hà khắc, nên nhân dân
bất bình, khởi nghĩa của nông nhân lại nổ ra. Lợi dụng thành quả khởi nghĩa
của nông dân, Lưu Bang nổi lên giành chính quyền, lập ra nhà Hán năm 206

16
tr.CN. Trái với nhà Tần, Lưu Bang cần có một học thuyết chính trị mềm dẻo
để điều hành xã hội. Đương thời có nhiều học thuyết, như: Nho giáo, Đạo của
Lão Tử, Kiêm ái của Mặc Tử Các học thuyết đó cùng tồn tại nhưng nhà Hán
đã chọn và sử dụng Nho giáo làm vũ khí tinh thần và nó đóng vị trí, vai trò

của giai cấp phong kiến thống trị đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của xã hội
và những giá trị tích cực của nó vẫn tồn tại trong xã hội ngày nay.
1.2. Một số nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh Nho giáo
1.2.1. Khái niệm về triết lý
Theo tác giả Nguyễn Tất Thịnh thì triết lý được hiểu là những điều
được rút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở
nhìn nhận điều gì là nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần, sức mạnh ứng xử
được phát biểu ngắn gọn, xúc tích - Như một tín điều, làm kim chỉ nam cho
cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng”
[43, tr.1].
Triết lý "là thái độ sống, một lập trường, ý thức hay không ý thức, của
mỗi con người trước những hoàn cảnh của cuộc đời". Nó chính là cách sống
cho đúng thân phận, đúng với giá trị đời người. Triết lý có thể mang những
dáng vẻ chẳng có gì là triết cả, như K.Jaspers nói, "triết lý cũng xuất hiện
dưới khuôn mặt khác nhau: chính trị, văn chương, thơ ca, kịch, tôn giáo
Nhưng triết lý vẫn có đó, ở trong những thực tại khác nhau của con người và
vẫn hướng dẫn cuộc sống của mỗi người. Triết lý, tự nó và cách thiết yếu,
không phải là vấn đề của riêng những nhà chuyên môn, mà là vấn đề của con
người. Một cách nào đó, triết lý là chính cuộc sống con người dưới khía cạnh
ý nghĩa khác nhau. Triết lý bộc lộ ở khả năng suy tư của con người, nó thể
hiện ở khía cạnh sau:
Thứ nhất, con người có sự suy tư duy nhất trong mục đích của mình.
Nếu như nhu cầu suy tư không vị lợi, nếu những nhu cầu cần biện minh lý do
sống hay nhu cầu gặp gỡ là những điều thực sự của con người, thì nó không

18
thể không ảnh hưởng trên cuộc đời con người, làm cho cuộc sống của con
người thêm phong phú hay hủy hoại cuộc sống đó. Khả năng suy tư làm cho
con người trở nên cao cả, nhưng đồng thời cũng là một gánh nặng, bởi vì con
người không còn có thể sống hồn nhiên như cây cỏ, sống đơn giản với bản

Con người suy tư để đi vào nẻo đường gặp gỡ với thiên nhiên, tha nhân
và để nhận ra nẻo đường phải đi của chính cuộc đời mình. Nếu cho rằng
chúng ta có thể tìm ra một con đường để xác định câu hỏi một cách chính xác
hơn thì lúc ấy lập tức phát khởi một sự phản đối nghiêm trọng đối với chủ
luận cuộc tương thoại của chúng ta. Khi chúng ta hỏi "Triết lý là gì?” lúc ấy
chúng ta đang nói về triết lý. Khi hỏi bằng đường lối này, hiển nhiên là chúng
ta vẫn còn đang đứng vị thế ở trên, nghĩa là, bên ngoài triết lý. Nhưng chủ
đích câu hỏi của chúng ta là đi vào trong triết lý, lân la trú ngụ trong đó, xử sự
ăn ở trong đường lối ấy, nghĩa là “làm triết lý”, “sống triết lý”, “ăn ở triết lý”.
Do đó, con đường của sự tương thoại với chúng ta chẳng phải có những con
đường hướng rõ ràng, mà đường hướng này đồng thời phải bảo đảm cho
chúng ta đang di động trong lòng triết lý; chứ không phải bên ngoài triết lý và
chung quanh triết lý.
1.2.2. Khái niệm về nhân sinh
Hằng ngày, con người phải đối mặt với nhất những vấn đề của cuộc
sống như sự thật và giả, thiện và ác, nghĩa và lợi, trung và hiếu, đạo đức và lối
sống… Chúng ta thường đặt ra câu hỏi phải xử sự ra sao đối với các vấn đề
đó và phải làm thế nào để bản thân, xã hội sống vui vẻ, thoải mái, có trên, có
dưới đó là ý nghĩa của nhân sinh. Tác giả Lê Kiến Cầu cho rằng “Nhân sinh
không chỉ bao gồm cuộc sống của con người và sinh mệnh của con người mà
gồm cả nhân tính nữa” [5, tr.24]. Theo cách giải thích của Lê Kiến Cầu thì
nhân sinh bao gồm những mặt sau:
Thứ nhất, về mặt sinh mệnh của con người. Đó chính là yếu tố cơ bản
duy trì sự sinh tồn của con người. Sinh mệnh con người là do hai yếu tố vật

20
chất và tinh thần hợp thành. Cho nên, trong sinh mệnh vật chất của mình, con
người phải nhờ vào nguồn tài nguyên vạn vật để duy trì sự phát triển của sinh
mệnh. Cũng vậy, trong sinh mệnh tinh thần của con người nếu không có món
ăn tinh thần để duy trì sự sinh tồn của sinh mệnh tinh thần thì nó sẽ chết. Nuôi

hướng con người sẽ trở nên khiếm khuyết. Phương hướng của con người chỉ
có thể dựa vào sinh mệnh tinh thần giành được trong đời sống tinh thần. Đó là
ý nghĩa tích cực có trong con người sống tích cực, chủ động trong sinh mệnh
tinh thần, nhân sinh từ đó mới có phương hướng. Ý nghĩa chân chính của
nhân sinh là sau khi chúng ta nhìn rõ cái tích cực, cái chủ động đi tìm những
mục tiêu có thể hành động, con người có thể cố gắng. Nhưng, những chủ
trương chỉ nhấn mạnh mặt nhân sinh không thể thực hiện, đó là cái mà không
phải nhân sinh theo đuổi, nhân sinh đáng quý ở chỗ thấy rõ cái theo đuổi đó
không thể làm mà vẫn làm, đó mới chính là viễn cảnh của nhân sinh.
Tóm lại: triết lý nhân sinh là sự suy tư, hành động của con người về
cuộc sống để đạt được mục đích cuối cùng là xây dựng một xã hội tốt đẹp
không chỉ cho mình mà còn cho cả nhân loại.
1.2.3. Về cái sống và cái chết
Khi nói về vấn đề sống, chết Nho giáo chỉ bàn về sự sống chứ không
quan tâm đến cái chết. Phan Bội Châu đã nhận định về Đức Khổng Tử như
sau: “Không bảo người ta tin mà người ta tự tin, không bảo người ta theo mà
người ta tự theo, chỉ nói đạo lý mà không nói báo ứng, chỉ nói lúc đương sống
mà không nói lúc đã chết rồi, mọi việc đều rõ ràng minh bạch như mặt trời
giữa ban ngày, như bể rộng núi cao, giản dị mà thú vị, đạm bạc mà sâu sắc,
khiến cho người ta có thể trông thấy mà không thể đến nơi được, có thể theo
mà không chán” [33, tr.3].
Đương nhiên, đạo Khổng là triết lý nhân sinh chứ không phải triết lý
nhân tử. Nếu cho rằng đạo Khổng chỉ nói lúc đương sống mà không nói lúc
đã chết rồi thì e rằng chưa chọn vẹn. Sách Luận ngữ, thiên Tiến chép rằng khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status