Tác động của nền kinh tế thị trường đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ NHUNG
TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỐI
VỚI QUAN HỆ
GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 08

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS DƯƠNG VĂN THỊNH Hà nội - 2008
MỤC LỤC

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1

2.2. Sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở Việt
Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị
52
2.2.1. Thực trạng sự tác động của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đối với mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên ở Việt Nam
52
2.2.2. Nguyên nhân của những tác động tiêu cực của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
80
2.2.3. Một số khuyến nghị để giải quyết mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên trong điều kiện nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
85
PHẦN KẾT LUẬN
90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
92

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Dưới ánh sáng của nghị quyết Đại hội của Đảng như: Đại hội lần thứ
VIII, IX, X, nền kinh tế của đất nước đã thực sự có sự chuyển mình từ cơ chế
kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đưa đất nước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa học, công nghệ,
của tri thức, bắt kịp với xu thế của thời đại mới.
Trong sự phát triển rất mạnh mẽ ấy của nền kinh tế thị trường định

- Ở nước ngoài: Trong các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.
Lênin đã từng nhấn mạnh rằng, nếu con người tác động đến tự nhiên mà phá
hoại sự cân bằng sinh thái thì loài người không tách khỏi những nguy cơ đe
dọa sự tồn tại của chính mình.
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên" Ph.Ăngghen đã nêu lên sự
khác nhau giữa loài vật và loài người trong mối quan hệ thích nghi và biến đổi
môi trường tự nhiên.
Trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học" năm 1844 C.Mác cũng đã
phân tích và lập luận rất thuyết phục rằng: "Giới tự nhiên là thân thể vô cơ
của con người, con người là một bộ phận của tự nhiên".
Về môi trường: Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, đặc biệt từ những
năm 60, 70 trở lại đây, cùng với việc gia tăng mạnh mẽ khả năng chinh phục
tự nhiên của con người thì môi trường ngày càng bị suy thoái. Từ đó xuất hiện
những công trình nghiên cứu đề cập đến sự xuống cấp của môi trường và sự
cần thiết phải bảo vệ tự nhiên.
Ở Liên Xô (cũ) ngay từ những năm 70 đã xuất hiện nhiều công trình
nghiên cứu có tính chất phương pháp luận, đề cập đến tính cấp bách, sự cần

3
thiết phải bảo vệ môi trường và khai thác tài nguyên một cách hợp lý. Đó là:
tác giả E.K.Phêđôrốp với tác phẩm: "Sự tác động lẫn nhau giữa xã hội và tự
nhiên", Lêningrat, 1972; Tập thể tác giả với cuốn: "Những khía cạnh phương
pháp luận của việc nghiên cứu sinh quyển, Matxcơva, 1975; V. P. Tugarinôp:
"Giới tự nhiên - Văn minh - Con người", Lêningrat, 1978; Tập thể tác giả:
"Bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của nó", Matxcơva, 1980…
Gần đây, trong các công trình xuất bản như: "Tiếng chuông cảnh tỉnh
cho thế kỷ XXI", 1984 của Daisaku Ikeda và Aurelio Peccei; "Một thế giới
không thể chấp nhận được", 1988 của Rênê Duymông; "Chuẩn bị cho thế kỷ
XXI", 1993 của Paul Kennedy; "Làn sóng thứ ba"; "Cú sốc tương lai" của
Alvin Toffler… Các tác giả đã vạch ra cho chúng ta thấy hiện trạng nguy kịch

Việt Nam đặt trong quan hệ với tự nhiên đang phải chịu sự tác động của nền
kinh tế thị trường như thế nào? đặc biệt luận giải vấn đề này dưới góc độ triết
học thỡ rất hiếm, bởi đây là vấn đề bức thiết và cũng rất khó giải quyết khụng
chỉ của riêng một quốc gia mà là vấn đề chung của toàn cầu. Chớnh vỡ vậy
chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong muốn góp phần tìm
ra giải pháp để điều chỉnh hoạt động của xã hội nhằm bảo vệ tốt hơn môi
trường tự nhiên cho con người.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Trờn cơ sở nghiờn cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên, thực trạng sự tác động của nền kinh tế thị trường
đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên, luận văn chỉ ra một số nguyên nhân
và đưa ra lời khuyến nghị để giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan

5
hệ giữa con người và tự nhiên.
Thứ hai: Trình bày khái niệm và đặc điểm kinh tế thị trường và kinh tế
thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, mặt tích cực và mặt tiêu cực của nền
kinh tế thị trường.
Thứ ba: Nghiên cứu sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên: mặt tớch cực và tiờu cực.
Thứ tư: Một số vấn đề đặt ra từ sự tác động của nền kinh tế thị trường
định hướng xó hội chủ nghĩa đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên ở
nước ta hiện nay, đề xuất một số khuyến nghị để giải quyết mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay.

7. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiờn cứu của luận văn có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo
cho việc giảng dạy chương trỡnh kinh tế, mụi trường và bảo vệ môi trường.
- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo trong quỏ trỡnh học tập
của sinh viờn cỏc trường Đại học, Cao đẳng và những ai quan tâm đến vấn đề này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được sắp xếp thành 2 chương 4 tiết.
7
Chƣơng 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LấNIN
VỀ QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIÊN

1.1. QUAN NIỆM VỀ CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIấN CỦA TRIẾT HỌC MÁC
– LÊ NIN
1.1.1 Quan niệm về tự nhiên
Tôi không đồng ý kiến với các học giả Tư sản cho rằng: triết học Mác
không đề cập tới vấn đề quan hệ giữa con người và tự nhiên. Lịch sử triết học
cho chỳng ta thấy từ khi triết học ra đời đến nay không triết gia nào (kể cả ở
phương Đông và phương Tây) là không bàn đến vấn đề bản thể luận, nhận
thức luận. Điều đó chứng minh rằng triết học từ cổ đại đến đương đại rất chú
ý đến vấn đề con người, vấn đề tự nhiên, quan hệ giữa chúng và theo tụi thỡ
đây lại là vấn đề then chốt của mọi thời đại, đặc biệt trong thời đại hiện nay.
Bởi đây không phải đơn giản chỉ là vấn đề của khoa học, kinh tế, hay kỹ thuật
mà nó là vấn đề mang tính xã hội, dân tộc, chính trị, tư tưởng, nhân văn… Do
vậy, triết học phải cú nhiệm vụ lý giải nú thật sỏt với khoa học và phải xõy
dựng ý thức, tư tưởng đúng đắn cho con nười trong quan hệ, đối xử với tự

và điều này đó được thể hiện qua tư tưởng: “Thiên địa vạn vật thống nhất thể”
và “tự nhiên tương dữ” (Lóo Tử) nghĩa là trời và người giao cảm lẫn nhau.
Trong tư tưởng triết học của Khổng Tử (khoảng 551 - 479 TCN) cú rất
nhiều luận điểm nói về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, về môi
trường thống nhất với quan điểm: “Thiên địa vạn vật thống nhất thể” và “ tự
nhiên tương dữ” của Lóo Tử. Quan điểm của Nho giáo thể hiện mối quan hệ
giữa con người và tự nhiên qua thuyết “thiên, nhõn hợp nhất”, nhằm nhân hóa
tự nhiên, đề cao vai trũ, phẩm chất con người và trách nhiệm của con người
trước tự nhiên
Một trong những nội dung khá quan trọng trong tư tưởng của Nho giáo

9
đó là "đức nhân". Nho giáo đặc biệt chú ý đến trật tự xó hội loài người
bởi:…Tự nhiờn cú trật tự hài hũa, xó hội loài người cũng thế, nên mọi sự hủy
hoại, làm suy thoái, gây hại đến tự nhiên, gây ra hậu quả xấu tới người khác,
như vậy đó gõy ra hai điều thất đức. Một là: Không kính trọng người khác.
Hai là: Không xứng đáng là người quân tử.
Khác với các triết gia phương Đông, thỡ cỏc triết gia phương Tây tiếp
cận mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dưới nhiêu góc độ như Hêđôrốt
(khoảng 485 - 425 TCN) cho rằng: vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong
lũng nú luụn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, các lực lượng đối lập
nhau. Nhờ các cuộc đấu tranh đó mà sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời và
chớnh vậy làm cho vũ trụ trẻ mói.
Trong triết học duy vật Anh thế kỷ 16, 17, nhà triết học E. Bê Cơn
(1561-1626) đó khẳng định: Con người cần phải thống trị và làm chủ giới tự
nhiên, điều này có thực hiện được không? Tất cả tùy thuộc vào sự hiêủ biết
của con người: “Tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức” do đó rất cần một
khoa học để lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu, mục đích là biến giới
tự nhiên thành “giang sơn” của con người, nghĩa là làm cho con người thống
trị những lực lượng của giới tự nhiên. Muốn chinh phục được tự nhiên, muốn

làm của mỡnh.
Đến thế kỉ thứ 18, với thuyết duy địa lý của Môngtexkiơ và A-tuyếc-gô
đều cho rằng, các hiện tượng tự nhiờn và xó hội là thống nhất với nhau và
tuõn thủ chặt chẽ theo những quy luật nhất định. Từ đó, các ông khẳng định
rằng sở dĩ các dân tộc này khác với dân tộc kia về màu da, lối sống văn hóa,
luật pháp, tư tưởng…là do khí hậu có một quyền uy cực mạnh và quy định
những yếu tố trên vỡ hầu như sự nhu nhược của các dân tộc vùng khí hậu
nóng đó làm cho họ luụn trở thành nụ lệ trong khi đó những người ở vùng khí
hậu lạnh luôn là người có tự do và dũng cảm, vậy nên, luật pháp, thể chế nhà
nước, sự phát triển của cỏc quốc gia đều phải căn cứ vào điều kiện khí hậu và
vị trí địa lý. Đây là hạn chế của Mụngtexkiơ và A-tuyếc-gụ khi cho rằng yếu

11
tố địa lý giữ vai trũ quyết định.
Túm lại, với những quan điểm về mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên trước Mác, chúng ta đó thấy được các nhà triết học đặt ra ở những góc
độ khác nhau, mặc dù là siêu hỡnh xong vai trũ của từng yếu tố trong mối
quan hệ này đó được khẳng định rất rừ ràng.
Bước đột phá trong tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên đó là tư tưởng của C.Mác và Ăngghen. C.Mác và Ph.Ăngghen đó nờu
lờn những tư tưởng có căn cứ khoa học và căn cứ lịch sử. Tư tưởng đó đó
được các ông giải thích về vai trũ của sản xuất và tỏi sản xuất xó hội đây là
điều kiện thường xuyên, liên tục, và không thể thiếu được của con người và
xó hội.
Sản xuất vật chất là quỏ trỡnh con người sử dụng công cụ lao động, tác
động vào tự nhiên nhằm cải biến các dạng vật chất của tự nhiên để tạo ra của
cải vật chất phục vụ cho đời sống ngày càng cao của con người bởi. Điều này
C. Mác đó từng chỉ ra rằng: con người trước hết cần phải ăn, uống, ở, mặc đó
rồi mới cú thể làm chớnh trị, khoa học, nghệ thuật, tụn giỏo….
Tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiờn cũn được C.Mác,

con người và tự nhiên, trước hết phải nhận thức được những quy luật tồn tại
và phát triển của giới tự nhiên và sau đó phải biết vận dụng một cách đúng
đắn, chính xác những quy luật đó vào quá trỡnh hoạt động thực tiễn của xó
hội, mà quan trọng nhất là vào lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất.
Lịch sử xó hội đó chứng tỏ rằng, quỏ trỡnh phỏt triển của xó hội là quỏ
trỡnh con người không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, phỏt triển và
hoàn thiện dần cụng cụ lao động, điều đó có nghĩa là con người đó khụng
ngừng tấn cụng vào tự nhiờn, đồng hóa các đối tượng của tự nhiên, biến
chúng trở thành sức mạnh của xó hội…[34, 112].
Qua sự phân tích các quan điểm triết học về mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên ở trên chúng ta thấy mối quan hệ giữa con người và tự

13
nhiên là vấn đề được đưa ra bàn bạc, nghiờn cứu từ rất lõu. Và chắc chắn rằng
hiện nay và mói mói về sau nú là vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất khi xó
hội ngày càng phỏt triển, khi khoa học đó phỏt triển đến đỉnh cao thỡ mối
quan hệ này càng được làm sáng tỏ.
Vậy đến đây chúng ta có thể đưa ra cách hiểu về tự nhiên và con người
dưới góc độ triết học, để từ đó nâng mối quan hệ này lờn thành triết lý của
cuộc sống .
Đến nay, tự nhiên được hiểu theo nhiều nghĩa tựy thuộc vào góc độ
nghiên cứu của cỏc ngành khoa học, xong cú thể hiểu tự nhiờn theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng:
Tự nhiờn: là tất cả những gỡ đang tồn tại khách quan, là toàn bộ thế
giới vật chất với tất cả hỡnh thức biểu hiện muụn màu, muụn vẻ của nú; là tập
hợp cỏc điều kiện thiên nhiên vốn có sẵn tồn tại ngoài tác động của con
người. Nghĩa là một tự nhiên “thuần túy”, “tinh khiết” nhưng bao la, rộng lớn.
Theo nghĩa này, tự nhiờn sẽ bao hàm cả giới tự nhiờn vụ sinh và hữu sinh
theo kết cấu, quy mụ của thế giới vật chất.
Giới tự nhiên vô sinh là toàn bộ các tổ chức vật chất từ các hệ thống

trỡnh độ thấp lên phương thức sản xuất cao đã buộc con người phải tiến sõu
vào tự nhiờn, lấy của cải của tự nhiên để phục vụ nhu cầu cuộc sống của con
người. Yếu tố đặt giữa quỏ trỡnh phát triển là khoa học, kỹ thuật. Sự lớn
mạnh của lực lượng sản xuất càng phát triển bao nhiêu thỡ càng chứng tỏ sự
phỏt triển của khoa học bấy nhiờu và điều này chứng minh con người trong
quan hệ với tự nhiên ban đầu là “tiếp cận”, “lấy” đến “xõm phạm”, “tàn phỏ”,
rồi cuối cựng là “búc lột” và “trả giỏ” của tự nhiờn đối với con người. Đây
chính là vấn đề môi trường sống, môi trường sinh thái, môi trường địa lý, mụi
trường tự nhiên.
Và ở luận văn này chúng tôi xin được bàn đến “tự nhiên” theo nghĩa là
môi trường tự nhiên.

15
Môi trường tự nhiên là những điều kiện tự nhiờn bao quanh xó hội
gồm:
Môi trường đất.
Môi trường nước.
Môi trường không khí.
Môi trường sinh vật…
Giữa môi trường tự nhiên và con người luôn diễn ra quá trỡnh trao đổi
biện chứng với nhau đó là: con người cần đến môi trường tự nhiên, luôn làm
chủ với môi trường tự nhiên, chinh phục và sáng tạo trước môi trường tự
nhiên…, cũn mụi trường tự nhiên thỡ cung cấp những nguyờn vật liệu, năng
lượng, nguồn vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất vật chất của con người
và đồng thời môi trường tự nhiên là “bói chứa” những chất thải bỏ trong quỏ
trỡnh hoạt động sống của con người. Và ở đây nảy sinh ra một vấn đề đó là:
Văn hóa môi trường, đạo đức sinh thái, thẩm mỹ sinh thái, tinh thần sinh thỏi …,
như ở một vài công trỡnh nghiờn cứu đề cập đến.
Từ cỏch hiểu về tự nhiờn như vậy, chỳng tụi đưa ra cách hiểu của
mỡnh về mụi trường tự nhiên như sau:

hệ chặt chẽ với tự nhiên.
Ở phương Tây, các nhà triết học có rất nhiều cách tiếp cận cũng như
hiểu về con người, bản chất con người.
Trong triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại vấn đề con người đã được bàn
đến nhưng chủ yếu dưới khía cạnh xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực đạo đức.
Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 TCN) là nhà triết học duy vật biện chứng, đồng
thời là người cống hiến tích cực về phương diện đạo đức học.
Đêmôcrit quan niệm về sự sống, sự sống là kết quả của quá trình biến
đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi
trường nước và bùn dưới tác động của nhiệt độ. Sinh vật đó sống dưới nước,
sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống trên cạn. Cuối cùng là con người

17
ra đời trên quả đất.
Từ quan niệm về sự ra đời con người, Đêmôcrít quan tâm đến vấn đề
đạo đức. Ông xác định, đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống,
là hành vi, là số phận của mỗi con người riêng biệt. Ông coi lương tâm và
sự lành mạnh về tinh thần của từng cá nhân là hạt nhân trung tâm trong đạo
đức học, đặc biệt ông nêu cao vai trò của trí tuệ trong đời sống hạnh phúc của
con người.
Theo Đêmôcrít, người hạnh phúc là người có trí tuệ và khả năng tinh
thần: Sống thiếu trí tuệ, không điều độ và không có lỗi lầm, có nghĩa là sống
không xấu, nhưng đó là chết dần.
Xôcrát (469 - 399 TCN) trong triết học Hy Lạp cổ đại là người đầu tiên
cho rằng, triết học không có gì khác hơn là sự nhận thức của con người về
chính mình.
Với mệnh đề: Con người hãy nhận thức chính mình, đã chứng tỏ
Xôcrát rất chú trọng đến khía cạnh tri thức và đạo đức con người. Đạo đức
học của ông mang tính duy lý. Theo ông đạo đức con người và tri thức thống
nhất làm một trong bản thân mỗi người.

theo Hốpxơ, Nhà nước có nguồn gốc thuần tuý trần gian, chứ không do một
thần thánh nào tạo ra, ông coi "Nhà nước tựa như một con người nhân tạo".
Như vậy, Hốpxơ đã khẳng định nguồn gốc tự nhiên của con người và bản tính
vốn có của nó là ác.
Bêkenit Xpinôda (1632 - 1677) nhà triết học duy vật nổi tiếng người
Hà Lan. Ông đã có quan niệm về con người tiến bộ hơn những quan niệm trước.
Theo Xpinôda thì con người là một dạng thức của thực thể, là sản phẩm của tự
nhiên, mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quy luật của tự nhiên.
Nhiệm vụ của triết học là phải phục vụ cuộc sống của con người, giúp
con người có được học thức, biết nắm bắt quy luật của tự nhiên, hành động
theo quy luật và biết sống theo lý tưởng cao đẹp.

19
Xpinôda không chỉ cho rằng con người là một thực thể tự nhiên, biết tự
nhận thức, có ý thức về chính bản thân mình, mà hơn thế nữa, ông còn khẳng
định bản tính con người là nhận thức, nhu cầu nhận thức là khát vọng lớn nhất
của con người. Ông đề cao tri thức, sự nhận thức đến mức, coi nhận thức như
chiếc chìa khóa vạn năng, có thể giúp con người giải quyết được mọi tệ nạn
xã hội, có thể giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công. Vì con người
là một thực thể tự nhiên nên theo Xpinôda, con người cũng luôn nằm trong
quá trình phát triển và tiêu vong. Đây là một tư tưởng tiến bộ so với thời đại
vì nó chứa đựng tư tưởng biện chứng về con người.
Nhà triết học Rơnê Đềcáctơ (1596 - 1650) xem con người như một cỗ
máy và ông mô tả hình dáng cũng như cấu tạo cơ thể người chẳng khác nào là
một cỗ máy, để từ đó kết luận rằng, con người cũng chỉ là một thực thể tự
nhiên mang bản tính cơ hội.
G. Ph.Hêghen - nhà triết học duy tâm khỏch quan cổ điển Đức - đưa ra
quan niệm: con người là sản phẩm và là giai đoạn phát triển cao nhất của “ý
niệm tuyệt đối”. Trong quá trình hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới con
người, đã đạt đến khả năng tự ý thức, tự nhận thức về bản thân và trở về mình

phẩm tiến hóa cao nhất của thế giới vật chất, C.Mác khẳng định rằng "Giới tự
nhiên là thân thể vô cơ của con người". "Con người sống dựa vào tự nhiên, có
quan hệ khăng khít với tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên" [10, 135].
Cạnh đó, con người sống có quan hệ với nhau, quan hệ đó tạo thành các
quan hệ xã hội, thành xã hội, nên con người phải là con người xã hội. "Con
người, theo nghĩa đen của nó là một động vật xã hội, không những là một
động vật có tính hợp quần, mà còn là một động vật chỉ có thể tách riêng trong
xã hội mà thôi" [9, 591].
C.Mác còn chỉ rõ bản chất xã hội của con người. Ông viết: "Trong tính

21
hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa cỏc quan hệ xã hội" [8, 11].
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau của lịch sử, văn hóa, chính trị,
thẩm mĩ, các nhà triết học đã lý giải về sự xuất hiện, cấu tạo, cũng như vai trò,
bản chất của con người mà đỉnh cao là quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Ph.Ăngghen đã tiếp thu học thuyết tiến hóa của Đác-uyn để khẳng định nguồn
gốc ra đời của con người chủ yếu do lao động. Điều này được trình bày trong
tác phẩm "Tác dụng của lao động trong quá trình biến vượn thành người".
Đây là sự lý giải rất thuyết phục.
Song hầu như các quan niệm trên kể cả quan niệm của C.Mác và
Ph.Ăngghen vẫn còn thiếu tính khoa học để lý giải một cách khoa học chính
xác nhất về nguồn gốc, năng lực vô tận của con người.
Với sự phát triển của nhiều ngành khoa học như: di truyền học phóng
xạ, sinh học phân tử, bào thai học, di truyền học, ngành cổ sinh học phát
triển từ những năm 50 của thế kỷ XX, với nhiều phương pháp nghiên cứu
như: dựa vào xương người và đồ hóa thạch, nghiên cứu nhóm máu ABO ở
hóa thạch người và đặc biệt trong 10 năm cuối cùng của thế kỷ XX những
thành tựu của khoa học hiện đại đã góp phần vào việc nghiên cứu nguồn
gốc, bản chất, cấu tạo của con người, điều này rất quan trọng giúp con
người có thể sống mạnh khỏe hơn, hạnh phúc hơn, đồng thời hiểu được quy

khoa học rất triệt để, khi giải thích sự tồn tại của thế giới hiện thực.
Trên cơ sở tổng kết những thành tựu mà nhân loại đó đạt được trong sự
phỏt triển lõu dài của triết học và khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó
khẳng định: Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật
chất của nó, điều này được Ph.Ăngghen nhấn mạnh trong tỏc phẩm "Chống
Đuy rinh” khi Ph.Ăngghen phê phán quan niệm của E.Đuyrinh cho rằng; tính
thống nhất của thế giới là ở sự tồn tại của nó và Ph. Ăngghen đó khẳng định:
“Tớnh thống nhất của thế giới khụng phải ở sự tồn tại của nú, mặc dự tồn tại
là tiền đề của tính thống nhất của nó vỡ trước khi thế giới có thể là một thể

23
thống nhất thỡ trước hết thế giới phải tồn tại đó…tớnh thống nhất thực sự của
thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh
không phải bằng vài ba lời lẽ khộo lộo của kẻ làm trũ ảo thuật mà bằng sự
phỏt triển lõu dài và khú khăn của triết học và khoa học tự nhiên” [27, 72].
Điều này rất cần thiết phải nhắc lại vỡ đây là điều có ý nghĩa nền tảng đối
với việc xem xét các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật
chất, đặc biệt mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Hơn nữa trong sự tranh
luận giữa Đuy Rinh và Ph. Ăngghen thỡ Ph. Ăngghen đó thể hiện quan điểm
hết sức khoa học của mỡnh là thừa nhận sự thống nhất của con người và giới
tự nhiờn ở tớnh vật chất trong sự tồn tại và tiến húa của chỳng. Hơn nữa sự
thống nhất này đó được chứng minh bởi sự phát triển lâu dài, khó khăn của
triết học, của khoa học, của thực tiễn, chứ không phải của “vài ba lời lẽ khộo
lộo của kẻ làm trũ ảo thuật….”.
Ph.Ăngghen cũn đặc biệt nhấn mạnh rằng, sự thống nhất vật chất của
thế giới được thể hiện ở sự vận động, chuyển hóa và phát triển không ngừng
của các thuộc tính, các quá trỡnh, cỏc kết cấu vật chất tạo nờn nú “vận động
là cách thức tồn tại của vật chất. Bất kỳ, bao giờ và ở đâu cũng không và
không thể có vật chất không có vận động” [29, 99].
Ph.Ăngghen đó chỉ ra, khoa học từ nhiều góc độ khác nhau, đó chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status