Quan niệm về con người trong triết học khai sáng Pháp - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*****
PHẠM THỊ THU HƯƠNG QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI
TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60. 22. 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn
:
TS. Nguyễn Vũ Hảo

41
2.2. Quan niệm về con ngƣời ở một số triết gia tiêu biểu
48
2.2.1. Quan niệm của Môngtéxkiơ về con ngƣời
48
2.2.2. Con ngƣời trong triết học của Rútxô
58
2.2.3. Quan niệm của Điđrô về con ngƣời
67
2.3. Một số giá trị và hạn chế của quan niệm về con ngƣời trong triết học
Khai sáng Pháp

74
KẾT LUẬN
83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
85

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói, lịch sử tư tưởng Việt Nam là lịch sử giao lưu tiếp biến giữa
những nền văn hoá lớn với những cơ tầng văn hoá xếp chồng lên nhau. Bởi
lẽ, bản sắc văn hoá là sự tổng hoà của các khuynh hướng cơ bản trong sáng
tạo văn hoá của một dân tộc vốn được hình thành trong mối liên hệ thường

phát triển văn hoá và xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
là: “xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu
vừa là động lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, xây dựng con người
Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng trí tuệ, đạo đức, thể
chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, có lòng nhân ái khoan dung,
tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hoá.
Để thực hiện tốt chiến lược xây dựng con người, về mặt triết học, bên
cạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, thì việc tìm hiểu những tư tưởng triết học về con người trong lịch sử
triết học là một vấn đề hết sức cần thiết. Do vậy, để hiểu đúng, đầy đủ
những quan niệm về con người cũng như giai đoạn văn hoá có ảnh hưởng
sâu sắc đến xã hội và con người Việt Nam thì việc tìm hiểu những tư tưởng
triết học khai sáng Pháp, đặc biệt là những quan niệm về con người trong
triết học thời kỳ này lại càng quan trọng.
Triết học khai sáng Pháp với những tư tưởng mang tư tưởng nhân bản
đã khẳng định giá trị cao quý của con người, sức mạnh sáng tạo vô hạn, ca
ngợi lý tính và lý tưởng cao đẹp của con người. Nó chống lại tư tưởng duy
tâm - tôn giáo là thuyết đề cao đến mức tuyệt đối hoá vai trò thần thánh, hạ
thấp địa vị và vai trò của con người. Nó đòi hỏi con người phải được tự do,
bình đẳng, bác ái; yêu cầu giải phóng cá nhân, nhấn mạnh ý chí, tài năng,
đạo đức Những tư tưởng này đã được xuất hiện từ thời kỳ phục hưng và

3
phát triển trong thời kỳ Khai sáng. Cho đến nay, những tư tưởng cao đẹp
đó vẫn còn nguyên giá trị.
Để nâng cao đạo đức và tư tưởng chính trị cho mỗi người dân, vai trò
của các môn khoa học xã hội và nhân văn nói chung và các môn khoa học
Mác - Lênin nói riêng phải được tăng cường. Tuy nhiên trong nhiều năm
qua, việc giảng dạy những môn học trên còn nhiều bất cập và có sự thiên
lệch. Lịch sử triết học, đặc biệt là giai đoạn triết học Khai sáng Pháp chưa

dục lý luận Các tác giả như Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên,
Đặng Hữu Toàn, Phạm Minh Lăng đã có nhiều bài viết với nhiều ý kiến
sâu sắc xoay quanh vấn đề con người và bản chất con người trong lịch sử
triết học. Đương nhiên trong phạm vi của một bài báo, các tác giả không có
điều kiện để trình bầy vấn đề trên và nghiên cứu một cách hệ thống và toàn
diện, nhưng những luận giải mà các tác giả đưa ra đã gợi mở được nhiều
vấn đề có thể tiếp tục đi sâu.
* Những tư liệu nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài:
Cuốn “Bàn về tinh thần pháp luật” của Môngtéxkiơ (do Hoàng Thanh
Đạm dịch) đã cung cấp thêm những sự kiện của thời đại Môngtéxkiơ. Quan
trọng hơn là cuốn sách này, đã phác thảo những nét cơ bản về một xã hội
công dân và nhà nước pháp quyền. Trong đó, ba quyền: lập pháp, hành
pháp, tư pháp độc lập với nhau và tương tác lẫn nhau để đảm bảo công
bằng xã hội và phát triển đất nước dưới quyền cai trị của một ông vua sáng.
Thông qua đó, ông đã phân tích rõ nguồn gốc, cũng như quá trình hình
thành của con người từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội.
Cũng vào năm 2004, cuốn “Bàn về khế ước xã hội” cuả Rútxô đã được
Hoàng Thanh Đạm dịch ra tiếng việt. Cuốn sách này đã cung cấp một số tư
tưởng cơ bản của Rútxô về xã hội, vạch ra định hướng xây dựng xã hội
công dân và nhà nước pháp quyền. Thông qua đó Rútxô đã đưa ra quan

5
niệm của mình về con người và các quyền của con người. Mặt khác, ở đây
có thể liên hệ giữa tư tưởng của Môngtéxkiơ trong “Tinh thần pháp luật”
với tư tưởng của Rútxô trong “Khế ước xã hội”.
Năm 2006, Lê Tuấn Huy viết cuốn “Triết học chính trị Montesquieu
với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam”. Đây là cuốn sách hay
có giá trị trong bối cảnh đất nước hiện nay. Trong đó, tác giả đã đưa ra một
cách rõ ràng nguồn gốc cũng như điều kiện hình thành tư tưởng chính trị,
đồng thời cũng phân tích những tư tưởng chính trị của Môngtéxkiơ.

người trong triết học Khai sáng Pháp qua một số triết gia tiêu biểu như
Môngtéxkiơ, Rútxô, Điđrô.
Thứ ba: Phân tích những giá trị và hạn chế của quan niệm về con
người trong nền triết học này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn này, được thực hiện trên cơ sở các phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các
phương pháp như: lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp, diễn
dịch. Mặt khác, luận văn còn sử dụng một số nguyên tắc và phương pháp
nghiên cứu lịch sử triết học trong quá trình nghiên cứu.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm về con người trong
triết học Khai sáng Pháp.
* Phạm vi
Quan niệm về con người trong triết học Khai sáng Pháp là đề tài khá
rộng. Trong khuôn khổ nghiên cứu của mình, luận văn chỉ giới hạn ở
những nội dung cơ bản nhất của quan niệm về con người trong triết học
Khai sáng Pháp, đặc biệt hạn chế chủ yếu ở một số triết gia tiêu biểu như
Môngtéxkiơ, Rútxô, Điđrô.

7 6. Cái mới của luận văn
Luận văn có thể coi là cố gắng trình bầy một cách có hệ thống quan
niệm về con người trong triết học Khai sáng Pháp qua các triết gia tiêu
biểu.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong các trường

về lịch sử.
Các phát minh kỹ thuật và sự phát triển khoa học đã mở màn cho sự
thay đổi này. Việc sử dụng la bàn, kỹ thuật in và máy in, là những nhân tố
quan trọng được xem như tiền đề cho phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Nghề dệt bùng nổ, luyện kim trở lên phát đạt, công nghệ theo đó mà
phát triển. Công trường thủ công, hình thức sản xuất mang tính chất tư bản
chủ nghĩa đầu tiên ra đời, thay thế phường hội, tập trung dần năng lực sản
xuất. Công cụ sản xuất nông nghiệp cũng được cải tiến, đất đai canh tác
được mở rộng. Kết quả là phân công lao động, sức sản xuất phát triển lên,
ngành hàng hải tiếp tục bành trướng, sản xuất và trao đổi hàng hoá có
những bước tiến dài, phá vỡ khuân khổ tự cung tự cấp. Những phát hiện địa
lý liên tục diễn ra đem lại một không gian thương mại mới cho cho các
nước Châu Âu trên phạm vi toàn thế giới, càng kích thích sự thông thương,
tăng cường giao lưu văn hoá trên khắp thế giới, tạo điều kiện phát triển hơn
nữa nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa. Các nước tư bản chủ nghĩa
sớm phát triển như Anh, Pháp, Tây Ban Nha đẩy mạnh xâm chiếm thuộc
địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của các nước kém phát triển, mở rộng
thị trường tiêu thụ hàng hoá của mình “Giờ đây lần đầu tiên người ta đã
thật sự phát hiện ra trái đất và đặt nền móng cho buôn bán quốc tế sau này
và đại công nghiệp hiện đại” [32, 459]. Có nghĩa là, thời kỳ này đã có cơ

9
sở để khẳng định và đề cao vai trò của con người trong sản xuất. Đó cũng
chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành quan niệm về con người và bản
chất con người. Mặt khác, nền sản xuất hàng hoá cũng tạo cơ sở cho con
người ý thức được mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng
trở nên mật thiết hơn.
Bên cạnh đó, tình trạng chia cắt kinh tế, chính trị, xã hội chế độ cát cứ
phong kiến đã ngày càng trở thành yếu tố cản trở xu thế phát triển của lịch
sử. Thị dân, giới quý tộc mới và một số tầng lớp khác, những thành phần đã

chủ hơn trong cộng đồng tôn giáo, cũng như phóng khoáng hơn trong quan
hệ tôn giáo - xã hội. Với Tân giáo, Cơ đốc giáo đã bị phê phán ngay từ bên
trong, cả về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn.
Xét về toàn bộ và suy đến cùng thì sự xuất hiện của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới những hệ quả tất yếu về mặt xã hội và sự
phát triển khoa học trên những nét cơ bản dưới đây:
Một là: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thoả mãn với
những kiến thức khoa học tự nhiên còn ở tình trạng chưa đầy đủ, chưa sâu
sắc, chưa cụ thể đã có từ trước. Người ta không thể dựa vào kinh nghiệm đi
biển thông thường và dùng thuyền gỗ để chuyên chở khối lượng hàng hoá
lớn vượt các đại dương; trái lại cần phải có kỹ thuật đóng tàu mới, có máy
móc mới để sản xuất và trao đổi được nhiều hàng hoá hơn, tăng được nhiều
lợi nhuận hơn cho các nhà kinh doanh. Thực tế đòi hỏi khoa học tự nhiên
như cơ học, toán học, thiên văn học và về sau cả vật lý học, toán học phải
có bước phát triển mới.
Trước đây, tri thức của các lĩnh vực khoa học nói trên còn là một bộ
phận trực tiếp trong các hệ thống triết học. Đến thời kỳ này, nảy sinh nhu
cầu các ngành khoa học cụ thể tách ra khỏi triết học và trở thành những
khoa học độc lập; dùng phương pháp nghiên cứu thật chi tiết, thật cụ thể
nhằm phát hiện những thuộc tính, những quy luật của vật chất như tính

11
năng, tác dụng, độ bền vật liệu Từ đó xuất hiện một phương pháp mới
trong khoa học tự nhiên - phương pháp thực nghiệm của khoa học trên mức
độ nhất định. Phương pháp này xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tĩnh
tại, không vận động, biến đổi, không phát triển. Đó là hệ quả của điều kiện
lịch sử phát triển lịch sử khoa học ở thế kỷ XVII - XVIII. Hầu hết các nhà
duy vật Anh, Hà Lan, Pháp ở những thế kỷ này đều chịu ảnh hưởng bởi
phương pháp tư duy siêu hình. Những yếu tố biện chứng đôi khi cũng thấy
xuất hiện ở học thuyết của họ, nhưng xét tổng quát thì họ vẫn là những nhà

xét: “Từ xưa tới nay nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại cần có những
con người khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình cách mạng, khổng
lồ về lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” [32, 459-460]. Thời
kỳ này, sức mạnh vĩ đại của con người đã được coi trọng, ở Italia đã dấy
lên khẩu hiệu “Con người hãy thời phụng chính bản thân mình”. Hình ảnh
bức tượng “người khổng lồ” (Đavít) của nhà điêu khắc Mikelan Gielo đã
trở thành biểu tượng của con người thời phục hưng và cận đại. Đó là con
người đầy sức sống tự do và hoài bão. Giờ đây không phải quan hệ giữa
Chúa và thế giới mà chính là quan hệ con người và thế giới là vấn đề trung
tâm của triết học.
Ngoài những bối cảnh chung của Châu Âu, tình hình kinh tế, chính trị
của nước Pháp cũng diễn ra nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp.
* Bối cảnh nƣớc Pháp
Vạch rõ tình hình kinh tế ở Pháp cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII,
C.Mác đã viết rằng: Trong thời kỳ ấy, kiến trúc thượng tầng của tài chính,
thương nghiệp và công nghiệp, hay nói đúng hơn, bộ mặt của lâu đài xã hội
là một sự chế giễu đối với tình trạng đình đốn của ngành sản xuất chủ yếu
(nông nghiệp) và đối với tình trạng nghèo đói của những người sản xuất.
Thế kỷ thứ XVII, nước Pháp mới chỉ có những mầm mống của chủ
nghĩa tư bản - bắt đầu có sự phân hoá giầu nghèo trong tầng lớp nông dân,

13
nhưng chưa có những công trường thủ công và một nền thủ công nghiệp
phát triển rộng rãi trong sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chế độ phong kiến với
những đạo luật của nó vẫn giữ địa vị thống trị trong kinh tế.
Đến thế kỷ XVIII, mâu thuẫn giữa giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản
đã trở nên hết sức gay gắt. Nước Pháp là một nước quân chủ chuyên chế
phong kiến. Nhà vua nắm quyền hành và hầu như không chịu một sự kiểm
soát nào. Vua có quyền quyết định mọi công việc đối nội và đối ngoại, bổ
nhiệm và cách chức các bộ trưởng và nhân viên nhà nước, ban hành và huỷ

chỉnh sản xuất do Nhà nước chuyên chế định ra, bởi chế độ phường hội,
bởi tình trạng cung cấp sức lao động tự do có hạn, bởi các thứ trở ngại về
mặt tiêu thụ và vận chuyển hàng hoá.
Nội thương cũng gặp nhiều khó khăn do chế độ phong kiến gây ra vì
có vô số các loại thuế quan, lại không có tiền tệ thống nhất và cũng không
có những tiêu chuẩn đo lường thống nhất của Nhà nước v.v
Chính vì vậy, ở nước Pháp, giai cấp tư sản và quần chúng lao động
nhận thấy sự cần thiết phải thủ tiêu sự thống trị của giai cấp phong kiến, lật
đổ chế độ phong kiến chuyên chế và cùng với nó xoá bỏ những sự hạn chế
của phường hội, xoá bỏ chế độ thuế quan, chính sách thuế má của chính
quyền nhà vua, đập tan sự thống trị về mặt tinh thần của Giáo hội - nền
tảng tư tưởng và tinh thần của chế độ phong kiến và chế độ quân chủ
chuyên chế.
Đến giữa thế kỷ XVIII, Pháp đã trở thành một nước quân chủ chuyên
chế điển hình ở Tây Âu. Chế độ vương quyền độc đoán là kết quả của
những diễn biến lịch sử đặc thù của quốc gia này. Trải qua cuộc chiến tranh
trăm năm với Anh (1337 - 1452), chiến tranh trong nước giữa các phe Cựu
giáo và phái Calvin (1562 - 1598), và cuộc đấu tranh quyền lực giữa các
phe phái liên miên sau đó đã khiến toàn bộ quyền lực tập trung vào tay vua.

15
Với quyền lực tập trung như vậy, thì vua thường tự cho rằng, ý muốn của
vua chính là luật pháp và quyền lực của vua là do trời ban cho để trị nước.
Ngoài ra, trong xã hội còn có sự phân chia thành những đẳng cấp có
quyền và nghĩa vụ khác nhau, đối lập nhau.
Đẳng cấp thứ nhất, giới tăng lữ là một thành phần xã hội có đặc
quyền, đặc lợi vô hạn. Nhà thờ Cơ đốc giáo ở Pháp, theo nghĩa đen đã gần
như tồn tại với tư cách một nhà nước bên trong nhà nước, và liên tục giữ vị
thế cho đến trước thế kỷ XVIII. Điều này thể hiện ở những “tác vụ” xã hội
của họ như chứng sinh, chứng tử, chứng nhận thành hôn, thu thuế thân, thu

nắn” theo những định kiến, mà là cả những người mà hơn ai hết họ phải
được “sáng” trước tiên - giới cầm quyền.
1.2. Những tiền đề tƣ tƣởng cho sự hình thành quan niệm về con ngƣời
trong triết học Khai sáng Pháp.
Triết học Khai sáng Pháp ra đời không phải từ miếng đất trống mà trên
cơ sở tiền đề tư tưởng triết học Tây Âu trước đó.
Trong đời sống học thuật của Tây Âu trước Khai sáng Pháp đã có sự
hợp tác và liên minh giữa khoa học và triết học. Vào thời đại đó, con người
phải có một nền khoa học mới, cần đến một “trật tự” tư duy mới, một trật
tự xã hội mới mà ở đó là nền khoa học vì con người và của con người.
Người Anh đã đi đầu trong lĩnh vực này. Bêcơn sớm đưa ra lập luận cho
rằng việc nghiên cứu khoa học đối với tự nhiên đã bao hàm một điều mà cả
con người và xã hội cũng là đối tượng của sự nghiên cứu đó. Hệ thống các
quy luật tự nhiên của Niutơn (1642 - 1727), dù ông đã rơi vào bế tắc ở
điểm tận cùng của lý lẽ khi viện đến “cái hích của Chúa”, đã là một minh
chứng mạnh mẽ cho nền khoa học mới như vậy. Thêm vào đó, nhận thức
luận duy vật của Lốccơ đã khẳng định rằng, mọi thứ để tồn tại nhờ cái thực
tồn, thì phải kiểm chứng được bằng kinh nghiệm, bằng trải nghiệm thực.
Có quan điểm cho rằng, ba con người vừa kể là những “vị thánh bảo trợ”

17
cho Khai sáng thế kỷ XVIII. Những nhận định như vậy có lẽ còn hơi thiếu
sót vì nếu không có nền tảng của một tinh thần duy lý mà Đêcáctơ và
Spinôza (1632 - 1677) thể hiện trước đó, thì có lẽ thế kỷ XVIII đã không
được mệnh danh là thời đại của lý tính. Chính sự hoà hợp một cách hoàn
toàn tự nhiên giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, mà các nhà
Khai sáng đã đòi hỏi tất cả , không trừ bất cứ một thứ gì, phải được đặt
trước lý tính, phải chịu sự phán xét của lý tính; tất cả, bất kể là điều gì cũng
phải được minh chứng bằng thực tế, chứ không phải bằng niềm tin mù
quáng và những định kiến phi lý như Ăngghen đã viết: “Những vĩ nhân ở

xã hội loài người. Theo quan điểm này thì, các quy tắc đạo đức thực chất là
tính tất yếu của tự nhiên mà con người phải phục tùng, vì trong trường hợp
ngược lại, con người trở thành nguyên nhân của những tai hoạ và những trở
ngại của bản thân mình. Thượng đế trong quan niệm của những nhà triết
học Hylạp không hơn gì sự nhân cách hoá của những quy luật tự nhiên và
bản thân Thượng đế cũng phải phục tùng những quy luật này.
Ở thời trung cổ, điển hình là kinh thánh lại quan niệm khác: con người
không đơn giản là bộ phận của vũ trụ, là đối tượng, sự vật bên cạnh những
đối tượng khác, mà nó hoàn toàn đứng tách biệt, đứng trên mọi sinh thể, vì
nó được tạo ra “theo hình ảnh và sự tương tự của Chúa”. Luận điểm này đã
hết sức đề cao con người theo nghĩa trao cho nó một sứ mệnh và trách
nhiệm đặc biệt. Năng lực tự do thừa nhận ý Chúa sẽ nâng con người lên
một độ cao chưa từng thấy, sẽ đề cao nó so với những sinh thể trần tục.
Con người trở thành trung tâm của thế giới trần tục. Như Tomát Đacanh
quan niệm rằng, giới tự nhiên là do Chúa sáng tạo ra từ hư vô, con người
chỉ là hình ảnh của Chúa và linh hồn bất tử là bản chất của nó. Linh hồn
không tồn tại trước đời sống trần thế, nó được Chúa tạo ra cùng với sự tạo
ra con người.

19
Những yêu cầu về đạo đức của con người được ghi nhận trực tiếp
trong kinh thánh. Việc con người không tuân theo những lời răn của Chúa
có nghĩa là con người có ý muốn vượt lên trên, đứng lên đầu những người
khác, vươn lên ngang hàng với Chúa và chiếm cho mình quyền của Chúa.
Hậu quả sinh ra từ thói kiêu ngạo, ngu dốt của con người được kinh thánh
vạch ra trong câu truyện ngụ ngôn về tội tổ tông.
Có thể nói ở thời kỳ này, các nhà triết học cũng đã đưa ra một hệ
thống những quan điểm về con người, về sự sáng thế của Chúa trời, về tội
tổ tông của con người và sự buộc tội, về sự chăn dắt của Chúa trời đối với
con người, về sự phục sinh sau khi chết ở thế giới bên kia Con người ở

giới và thực tiễn cuộc sống của mình, họ ca ngợi sức mạnh và vẻ đẹp của
con người. Con người không còn lấy Thượng đế, mà lấy chính bản thân
con người làm trung tâm. Lêona Đờvanhxi đã phê phán mạnh mẽ những
quan điểm của thần học và giáo hội, đã tìm cách xây dựng hệ thống thế giới
quan khoa học thật sự dựa trên cơ sở kinh nghiệm và thực nghiệm. Ông
khẳng định, con người là vũ khí vĩ đại nhất của tạo hoá, con người dựa trên
những sinh vật tự nhiên có thể tạo ra những sự vật mới phục vụ cho cuộc
sống của mình.
Vấn đề về con người và con người cá nhân và về sự tự do cá nhân đã
trở thành vấn đề được tập trung chú ý và là vấn đề trung tâm của các nhà tư
tưởng tiên tiến thời kỳ này. Những vấn đề đó được triết học Khai sáng
Pháp kế thừa và phát triển thành những tư tưởng về quyền tự do, dân
quyền, dân chủ, bác ái của con người và xã hội. Tuy nhiên, đây là nói đến
những quyền tự do cá nhân, đến sự tôn trọng con người, giải phóng con
người tư sản chứ chưa phải con người lao động, nhưng dù sao đây cũng là
sự tiến bộ rất lớn trong việc nhận thức về con người.
Có thể nói, những tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn thời kỳ phục
hưng đã mở đầu khuynh hướng đề cao con người trong triết học Tây Âu

21
mà triết học Khai sáng Pháp chính là sự phát triển đến đỉnh cao của phong
trào này.
Thứ ba, những quan niệm về con người trong triết học Khai sáng
Pháp còn chịu ảnh hưởng trực tiếp những tư tưởng triết học thời kỳ cận
đại. Thời cận đại, triết học vẫn tiếp tục khuynh hướng của triết học thời kỳ
phục hưng là coi trọng vấn đề con người và giải phóng con người. Ở thời
kỳ này, chủ nghĩa tư bản đã hình thành và bắt đầu thời kỳ cách mạng ở
Châu Âu, khoa học tự nhiên đã khẳng định tính vững chắc của mình, với
chủ nghĩa duy lý dựa trên cơ sở phương pháp so sánh, thực nghiệm, phân
tích Nhiều ngành khoa học tự nhiên đã đi sâu vào nghiên cứu giới tự

Hốpxơ; “ngay cả một chân lý khẳng định tổng ba góc của một tam giác
bằng hai vuông mà mâu thuẫn với lợi ích của một ai đó đang nắm quyền,
thì tất cả các cuốn sách về hình học cũng sẽ bị đem đốt” [Trích theo 52,
283]. Tóm lại, bản tính tự nhiên của con người là ích kỷ. Trạng thái xã hội
mà con người đang sống là “một cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất
cả”.
Nhưng theo Hốpxơ, “trạng thái tự nhiên” trên đây của con người hiện
nay không còn nữa. Nó tồn tại một cách trọn vẹn ở một thời kỳ lịch sử xa
xưa, khi mà con người còn ở thời kỳ mông muội. Theo Mác quan niệm
này, đã sai lầm ở chỗ coi tính ích kỷ cũng như nhiều tính cách khác nhau
mang tính xã hội của con người là những tính cách thuộc về bẩm sinh của
tạo hoá. Mặc dù, chưa đánh giá đúng mức đặc trưng riêng của loài người so
với loài vật, quan điểm trên đây của Hốpxơ thể hiện lập trường duy danh
của ông, chưa thấy được bản tính xã hội, tính nhân loại của con người. Tuy
nhiên, quan niệm này cũng mang yếu tố hợp lý nhất định. Một mặt, nó cho
thấy sự tương đồng nào đó giữa loài người và loài vật. Mặt khác, chính lợi
ích cá nhân là một trong những động lực cơ bản trực tiếp của hoạt động con

23
người và phát triển xã hội. Ở điểm này của Hốpxơ, ta thấy có sự tương
đồng trong triết học Khai sáng Pháp, khi các ông cho rằng, nhu cầu của con
người là cái thúc đẩy xã hội phát triển.
Xuất phát từ quan niệm trên đây về trạng thái tự nhiên của con người,
Hốp xơ khẳng định khả năng bẩm sinh của con người là: càng bình đẳng
bao nhiêu thì người ta càng bất hạnh bấy nhiêu, vì cuộc đấu tranh sinh tồn
của mỗi người càng khó khăn và phức tạp. Ai cũng lo sợ cho tính mạng và
cuộc sống của mình bị đe doạ, do vậy cần có một bộ máy để giữi gìn trật tự
xã hội, để mọi người được sống trong hoà bình. Và chính điều đó thúc đẩy
mọi người đi đến ký kết khế ước xã hội, và đây là cơ sở nhà nước xuất
hiện. Tư tưởng này về sau được Rútxô bổ sung như sau: ở giai đoạn đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status