quan niệm về bản chất con người trong triết học mars và một số trào lưu triết học phương tây hiện đại - Pdf 24

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Quan niệm về bản chất con ngời
trong triết học Mars và một số trào lu triết học phơng Tây hiện đại
MC LC
Li núi u 2
Chng 1: Quan nim trit hc nhõn bn phng tõy hin i v bn cht con
ngi
1.1 Quan nim v bn cht con ngi trong phõn tõm hc
ca Sigmund Freud 4
1.2 Quan nim ca ch ngha thc dng v bn cht con ngi 5
1.3 Quan nim ca ch ngha hin sinh v bn cht con ngi 6
1.4 Quan nim ca nhõn hc, trit hc v bn cht con ngi 7
Chng 2: Quan nim ca Marx v bn cht con ngi.
2.1 Bn cht con ngi Tng ho cỏc mi quan h xó hi 11
2.2 Vn dng quan im ch ngha Marx v bn cht con ngi trong xõy dng
con ngi Vit Nam ca thi k cụng nghip hoỏ - hin i hoỏ 21
Kt lun 29
Danh mc ti liu tham kho 31
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Hiện nay, có thể nói vấn đề con người nổi lên ở vị trí trung tâm trong
những suy tư của nhân loại. Sự ra tăng ngày càng lớn của những quan điểm ngày
càng lớn về vấn đề con người, không chỉ từ phía các nhà khoa học mà cả từ phía
các chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý… đương nhiên
gắn liền vai trò quyết định của nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của sự phát
triển xã hội, đặc biệt trong thời đại ngày nay. Để có phương hướng nhận thức và

được làm sáng tỏ và tiếp tục nghiên cứu.
3.Phạm vi nghiên cứu:
Với triết học Marx chúng em đi vào tìm hiểu những quan niệm của ông về
bản chất con người thông qua một số luận điểm trong một số các tác phẩm kinh
điển của Marx: “Bản thảo kinh tế - 1844”, “Góp phần phê phán triết học pháp
quyền của Heghel”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Luận cương về PhoiơBắc”… Ở đây,
chúng em không có tham vọng mở rộng đề tài để tìm hiểu những quan điểm của
Marx. Với triết học nhân bản phương tây hiện đại, chúng em đi vào tìm hiểu
những trào lưu triết học đại diện.
4.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề này chúng em muốn tìm hiểu sâu sắc hơn, đúng hơn
về quan niệm của Marx về bản chất con người, bước đầu tìm hiểu triết học nhân
bản phương tây hiện đại nhằm đạt được nhận thức khách quan hơn quan điểm
của nó về bản chất con người. Từ đó bước đầu chúng em có cái nhìn so sánh hai
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
hệ quan điểm này, nhắm khẳng định giá trị bền vững, tính đúng đắn về quan
điểm của Marx.
5.Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp logíc lịch sử, phân tích tổng hợp kết hợp
quy nạp diễn dịch.
6.Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta nhận thức đúng những quan niệm của
Marx về bản chất con người và bước đầu nhận thức được quan điểm về bản chất
con người trong triết học nhân bản phương tây hiện đại. Từ đó có thể nhận thức
rõ hơn, khẳng định, bảo vệ những quan điểm của triết học Marx trước những tư
tưởng phản động, phủ nhận những quan điểm do Marx đưa ra của những quan

Ông khẳng định vô thức là cái bản chất cái quyết định đời sống tâm thần. Như
vậy ở đây ta có thể thấy quan niệm của Freud mang tính duy tâm “ duy sinh học
”, ông cho rằng: bản chất con người là bản năng tinh thần vô thức . Và cái thúc
đẩy thực sự có sẵn trong con người là bản năng tính dục, là hạt nhân của đời
sống bản năng nó quyết định đời sống tinh thần của con người. Tuyệt đối hoá
cái vô thức, Freud càng nhấn cho nó chìm vào cái “ Tôi” con người : “ cái tôi
thực là cái tôi - vô thức” còn “cái tôi có ý thức chỉ là cái tôi lừa dối” [2, tr35].
Vậy là Freud đã quan niệm con người là con người cá nhân và vô thức là bản
chất của nó. Trong đó bản năng tính dục là cái cốt lõi của vô thức, là cái bản
chất cái tạo nên tính chủ động tính tích cực của cá nhân.
1.2 Quan niệm của chủ nghĩa thực dụng về bản chất con nguời:
Chủ nghĩa thực dụng là một trào lưu triết học duy tâm, là một biến thái
của chủ nghĩa duy lý trong triết học phương tây hiện đại. Những đại biểu nổi
tiếng của trào lưu này là : Charles Peirce (1857 - 1936), William James(1842-
1910) và đặc biệt là John Dewey (1859- 1952). Những người theo trào lưu này
cho rằng khâu trung tâm, quyết định trong triết học là con người, là lợi ích là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
thực tiễn của con người. Đồng thời họ cũng tuyên bố thực tiễn là hiện thực duy
nhất, rằng thực tiễn, kinh nghiệm là tất cả ngoài ra không thể có gì khác [2,
tr35], theo đó tất cả những gì tồn tại đều là những yếu tố của kinh nghiệm (kể cả
vật chất và tinh thần), nằm trong kinh nghiệm. Theo họ con người “tuyệt đối tự
do” trong hoạt động vụ lợi, vị kỷ hoặc bất cứ cái gì nó muốn. J Dewey xem con
người như là một động vật mà cảm giác tri giá của nó thực ra là những động lực
khiến con nguời tiến hành hoạt động. Như thế là tư duy biến thành công cụ để
con người giả quyết khó khăn trong cuộc sống, là phương tiện để con người đạt
mục đích. Theo Peirce, “ Tồn tại nghĩa là có hiệu quả thực tế” và ông đưa ra nền
tảng tư tưởng triết học của ông; “ hãy nhìn xem ta đạt được những kết quả thực

phương tây hiện đại.
S.Kierkegaard (1813 - 1855) người Đan Mạch là người sáng lập ra chủ
nghĩa hiện sinh cùng với hiện tượng học của E.Hussserl (1859 - 1938) người
Đức. Chủ nghiã hiện sinh đã trở thành triết học thực sự trong thời gian đó. Sau
đó M.Heidegger ( 1889-1976), K.Jaspers ( 1886- 1969), G.Marcel(1889 - 1973),
A.Camus (1913- 1961)….đã đưa chủ nghĩa hiện sinh lên đến đỉnh cao vào giữa
thế kỷ XX.
Chủ nghĩa hiện sinh là trường phái triết học lấy việc tìm ra sự tồn tại của
bản chất con người để vạch ra kết cấu tồn tại của vật. Con người theo quan niệm
của họ là hiện sinh thể ( thực thể hiện sinh ) chứ không phải là con người phổ
quát. Hiện sinh, theo họ là cuộc sống nội tâm mang tính thứ nhất so với bản
chất. Con người cảm nghĩ bằng thân xác, nó nhận thức về mình về cái lắng đọng
của tâm thức, tự tạo nên mình để cho nó tạo thành nó, thành nhân vị. Đó là chủ
thể – chủ quan tính của con người. Chẳng thế mà S.Kierkegaard viết: “ Tất cả
tác phẩm của tôi chà sát lên bản thân tôi, chỉ riêng một mình tôi và riêng tôi” [2
tr25]. Trong triết học hiện sinh, hệ các vấn đề triết học được quy về vấn đề tồn
tại của cá nhân rồi thông qua đó mới tìm hiểu giá trị nhân loại chung. Các nhà
hiện sinh thường nhấn mạnh tính siêu việt của về sự tồn tại của con nguời ( tính
siêu việt chình là thước đo chiều sâu của hiện sinh ). Con người luôn tồn tại
trong sự “ lựa chọn ” sinh hoạt và hành động, cho nên tồn tại của con người là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
sự tự do của nó. Theo J.P.Sartre, tự do trở thành cái hạt nhân, cía đặc trưng cơ
bản của con người, “ Tự do ” là “ bước nhảy vào hiện sinh đích thực”. Trong vở
“Ruồi” Sartre phác hoạ khái niệm “tự do”:
- “…tự do của người chỉ là lưu đày”.
- “…ngươi nói đúng, chỉ là một lưu đày”.[2 tr 73]
Như thế tự do chỉ là “lưu đày” cho nên con người ta phải “ lựa chọn tự do

Tuy cùng lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của lý luận triết học
của mình, nhưng nếu triết học thực dụng coi con người là con người cá nhân, vị
kỷ. Triết học hiện sinh bó con người trong hiện sinh cô độc bi thảm rồi quẳng nó
vào xã hội đầy tha nhân và vong thân. Thì triết học nhân học muốn con người có
quan hệ với thế giới hiện thực, có những ý nghĩa và giá trị của mình. Nhân học
triết học muốn vượt qua chủ nghĩa hiện sinh. Nó ra sức xem xét và lý giải vấn đề
bản chất con người bằng lý luận của tri thức hiện đại về con người nhằm đạt đến
nhân học triết học mới riêng biệt và với sự “đổi mới” triết học và khoa học cụ
thể về con người. Cha đẻ của phái triết học này là Max.Sheler (1874- 1928) với
sự ảnh hưởng lớn của triết học đời sống của Nietzsche và H.husserl và luận điểm
xuất phát của các ông là cho “ bản chất tự nhiện của con người tự mình đã đưa
con người ra ngồi giới hạn của tính chích xác thuần tuý tự nhiên” [4 tr 202, 203].
Năm 1928 trong tác phẩm “vị trí của con người vũ trụ” đã có đề ra việc
cần thiết phải lập ra “nhân học triết học” với tư cách là khoa học chủ yếu về bản
chất con người: “nhiệm vụ của nền lý luận triết học nhân bản là chỉ rõ…. mọi
cái tột đỉnh đặc thù, mọi thành tựu và giá trị của con người bắt nguồn từ kết cấu
chủ yếu của sự tồn tại của con người” [12 tr 10] A. Gehlen ( 1904 - 1976). Cũng
theo M. Scheler đưa ra vấn đề bản chất con người làm vấn đề trung tâm của triết
học và mưu toan khắc phục những quan niệm triết học trước đó về con người và
nêu lên hình mẫu con người có giá trị cuối cùng trong triết học. Triết học của M.
Scheler và Gehlen ra đời có liên quan trực tiếp với chính trị và hệ tư tưởng của
chủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn đầu của cuộc tổng khủng hoảng đầu tiên của
chủ nghĩa tư bản. Bằng cách khái quát triết học, họ đề ra một mẫu người có xu
hướng gần gũi với nhu cầu tư tưởng của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
tạo nên cơ sở của thế gới quan của hệ tư tưởng bảo thủ. Đó là một loại hình của
chủ nghĩa nhân bản. Trong lý luận ấy, nguyên tắc nhân bản được đưa lên thành

bản chất của nó trong “sự hoàn chỉnh” và khác biệt với con vật. Theo ông con
người chỉ là một sản phẩm của thượng đế. Ông lập luận : động vật có những đặc
điểm chuyên hoá rất cao và được điều khiển bằng bản năng sinh học, nó sống
bằng khí quan có sẵn do tự nhiên phú cho. Còn con người ông nhận định : “ con
người khác hẳn với các loài vật có vú cấp cao chủ yếu bởi sự yếu đuối, theo ý
nghĩa chính xác của sinh học, đó là sự không thích nghi, không chuyên hoá là sự
thô sơ hay là trạng thái phát triển. Tóm lại bản chất con người là tiêu cực” [12,
tr21]. Ông cho rằng trước tiên hành động của con người có khuyết tật về bản
chất không phải bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội cụ thể, mà do kết cấu sinh học.
Ông còn khẳng định những hiện tượng lịch sử xã hội là do sự “thừa động lực”
mà ra, đó là sự tràn trề của năng lượng thúc đẩy. Từ sự nghiên cứu sinh học ông
rút ra kết luận tổng quát : sự bảo toàn cuộc sống sinh học là giá trị tối cao và
cuộc sống của con người không hề có ý nghĩa siêu nhân. Do đó theo ông, thời
đại đang đòi hỏi “một con người mới” trong đó quá trình sinh học bắt đầu từ “để
tự nó bước vào một mối quan hệ nếu như con người bắt đầu tự nhận thấy trách
nhiệm, biết hành động và đánh giá toàn bộ những kinh nghiệm mà anh ta đã có
thì như thế quả là tôn giáo – một cái dùng những hình ảnh siêu phàm để lấp
những khoảng trống đã trở thành một thực tế lịch sử, và một thời đại mới đã tới”
[12, tr30]. Đẩy lý luận của mình nên bước nữa Gehlen cho rằng, sự không đầy
đủ về mặt sinh học của sinh vật người đã tiền định tính mở của nó đối với thế
giới. Tính không chuyển hoá của sinh vật người còn là dấu hiệu của sự tổn hại
sinh học, của sự thiếu hụt. Vì vậy nó là dấu hiệu của sự bất lực và không tự do,
không cho phép “kẻ nô lệ được giải phóng”. Tiền đề này rõ dàng mang tính tiêu
cự, không dẫn con người tìm thấy chính nó và lối sống của nó. Ở đây tính lịch
sử sinh động và sáng tạo của “con người hoạt động” còn lẩn khuất trong hộp đen
đầy bí ẩn.
Qua hai đại diện tiêu biểu trên, ta thấy được nhân học triết học là một xu
hướng triết học duy tâm, phi lý. Về mặt lý luận, nó chống lại quan niệm về con
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368

thù để phân biệt con người với con vật.
Xét bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội, tức là xem con
người với tất cả các quan hệ xã hội của nó, không những chỉ quan hệ xã hội hiện
có, trong đó con người đang sống mà cả những quan hệ xã hội đã có từ trước kia
trong một tổng thể với những mối liên hệ biện chứng của chúng, bởi vì trong
lịch sử của mình, con người bắt buộc phải kế thừa những di sản, những truyền
thống đã thúc đẩy con người vươn lên hoặc ngược lại.
Theo Marx bản chất con người không phải là sinh thành bất biến mà có sự
vận động, phát triển phù hợp với sự biến đổi của hoàn cảnh, của thời đại. Cụ thể
là bản chất xã hội của con người luôn luôn thay đổi cùng với năm phương thức
sản xuất lớn với những chế độ chính trị khác nhau. Mỗi con người dù muốn hay
không, vừa cất tiếng khóc chào đời đã bị khoác bởi cái áo xã hội họ đang sống,
đó là những mối quan hệ xã hội.
Trong một xã hội có nhiều các quan hệ xã hội. Xét về mặt xã hội ta có :
quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, gia đình, quan hệ giữa các cá nhân và xã
hội… Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật, đó là sự tương tác của con người trong
quá trình lao động trực tiếp, trao đổi các hoạt động. Xét về mặt vật chất ta có các
quan hệ sản xuất. Xét về mặt tư tưởng ta có các quan hệ tư tưởng như: các quan
hệ chính trị, quan hệ đạo đức, quan hệ thẩm mỹ, quan hệ tôn giáo…
Trong các quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất giữ vai trò quyết định đã tạo
ra đời sống con người. Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con
người trong quá trình sản xuất. Nó bao gồm quan hệ với tư liệu sản xuất, tứ là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
hình thức sở hữu, quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ phân phối và
tiêu dùng của cải vật chất. Các quan hệ sản xuất cấu thành mặt tất yếu của mọi
phương thức sản xuất bởi con người chỉ có thể tiến hành sản xuất khi giữa họ kết
hợp với nhau theo một phương thức nào đó.

thông qua tổng thể các quan hệ xã hội. Song những quan hệ xã hội không phải
chỉ xét ở những quan hệ của từng hình thái xã hội riêng biệt mà còn khái quát
những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ, thời đại riêng biệt. Quan
hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang (đương đại ) vừa theo chiều dọc lịch sử.
Nói một cách khác, ngoài bản chất giai cấp qua nhiếu giai đoạn lịch sử xã hội có
giai cấp còn có chung bản chất của con người qua mọi giai đoạn lịch sử xã hội.
Bản chất chung của con người và bản chất của các tầng lớp khác nhau không có
sự đối lập. Vì vậy đây là quan hệ không tách biệt của các thứ bậc về bản chất
trong con người.
Khi bàn về luận điểm này của K.Marx, có người hiểu rằng: “bản chất con
người chia ra thành nhiều hàng, hàng một là con người giai cấp, hàng hai là con
người nói chung, hàng ba là con người sinh vật, hàng bốn là con người dĩ
hoá…”.[18 tr30]. Hoặc có người lại cho rằng các quan hệ xã hội chỉ là các quan
hệ giai cấp, quan hệ chính trị thì chưa đủ. Theo K.Marx và Ăngghel, quan hệ
giai cấp không phải là quan hệ vốn có từ khi có loài người mà nó chỉ xuất hiện
trong những điều kiện nhất định của nền sản xuất vật chất, của xã hội và sẽ mất
đi khi các điều kiện trên không còn nữa. Bản chất giai cấp cũng thuộc về con
người nhưng chỉ là bản chất “nhất thời”, nó sẽ mất đi khi giai cấp mất đi. Bản
chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội song trong xã hội có giai cấp, tính
giai cấp nổi lên hàng đầu. Nhưng tính người là cái chung nó nằm trong tính giai
cấp, tức cái riêng, nó thể hiện thông qua cái riêng. “con người là con người riêng
biệt của từng thời đại, từng tập đoàn xã hội nhất định, đồng thời nó cũng là con
người nói chung phát triển trong toàn bộ lịch sử loài người. Cái chung như thế là
cái chung biện chứng”[19 tr39].
Như vậy trong quá trình hoạt động thực tiễn năng động, tích cực, con
người đã hình thành nên những quan hệ xã hội và các quan hệ xã hội lại tạo lập
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
con người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình,
con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự
nhiên. Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một
lực lượng của tự nhiên. Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình
thái có ích cho đời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tự
nhiên thuộc về bản thân họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay. Trong khi tác động
vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và lám thay đổi tự nhiên,
con người đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó”.[7 tr226].
Bằng lao động con người đã tạo ra những tư liệu để thoả mãn nhu cầu của
mình. Bản chất tự nhiên của con người được biểu hiện ra bên ngoài là các nhu
cầu tất yếu khách quan như : ăn, ở, mặc…. Hoạt động để thảo mãn nhu cầu sinh
học của con người khác với con vật. Ở con người hoạt động này không phải là
hoạt động bản năng, hoạt động đơn thuần sinh vật mà nó mang tính xã hội.
Trong “Bản thảo kinh tế triết học” – 1844 K.Marx khẳng định : “con người có
một hoạt động sinh sống có ý thức. Đó khôngphải là cái có tính quy định mà vớ
nó con người trực tiếp hoà làm một. Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệt
trực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật”[8 tr 118].
Hoạt động có ý thức, có mục đích của con người là đặc trưng để phân biệt
con người với con vật “bản thân con người bắt đầu phân biệt với con vật ngay từ
khi con người sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của mình – sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt của mình như thể là con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật
chấtcủa mình và đó chính là hành vi lịch sử đầu tiên”[9 tr16]. Chính vì thế sản
xuất ra tư liệu sinh hoạt là hoạt động bản chất nhất của con người. Marx khẳng
định: nét đặc trưng riêng của quá trình lao động của con người là sử dụng và
sáng tạo ra những tư liệu lao động, vì thế Marx nhất trí với Phranclin khi ông
định nghĩa con người là “động vật chế tạo công cụ”[7 tr 269].
Như vậy hoạt động lao động đã làm biến đổi bản chất tự nhiên của tổ tiên
con người tạo lập ra bản chất xã hội của con người. Hoạt động xã hội con người

mình. Khi thoả mãn nhu cầu trong điều kiên thay đổi môi trường tự nhiên, con
người đã khẳng định bản chất loài của mình và tự biến mình thành nmột thực thể
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
xã hội. Do đó hoạt động thưc tiễn của con người đã tạo lên bản chất xã hội trong
con người, con người thực chất trở thành người, đồng thờ mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên đã chuyển sang mối quan hệ giữa con người với con người.
Theo Marx hạt nhân của sự thống nhất biện chứng giữa con người và tự nhiên
là vấn đề xã hội bởi vì “bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại với con
người xã hội vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một cái
khâu liên hệ con người với con người, mới là sự tồn tại của con người đối với
người khác và sự tồn tại của người khác đối với người đó mới là nhân tố sinh
hoạt của hiện thực con người, chỉ có trong xã hội, tự nhiên mới hiện ra như là cơ
sở của tồn tại có tính chất người của bản thân con người, chỉ có trong xã hội tồn
tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con người đối
với con người và tự nhiên mới trở thành con người đối với con người”[11
tr130,131].
Khác với tự nhiên xã hội không có trước con người. Xã hội ra đời cùngvới
con người, khi con người bắt đầu sử dụng công cụ lao động và xã hội sản xuất ra
con người. Song tự nhiên và xã hội luôn có mối liên hệ gắn bó với nhau, biểu
hiện ra là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và trước hết là tính tự nhiên
và tính xã hội ở trong mỗi con người cụ thể. Mặt sinh vật của con người không
phải tồn tại ở bên cạnh mặt xã hội mà tồn tại ngay trong phạm vi mặt xã hội.
Theo Marx tính tự nhiên của con người được môi giới qua tính xã hội, được
chuyển vào trong sản xuất, được cải tạo trong sản xuất và phát triển trên cơ sở
của những điều kiện xã hội hay nói cách khác tính sinh học của con người đã
mang tính xã hội “thông qua tính xã hội, tính tự nhiên được biến đổi về chất và
thường gắn liền với quá trình biến đổi của con người về mặt tự nhiên, thông qua

ta, xuất phát từ đây để đi đến với con người”[12 tr240]. Còn K.Marx lại viết: “
Con người hiện thực, con người nhục thể đứng vững trên mảnh đát vững chắc…
thu hút vào mình và tự mình lại toả ra tất cả lực lượng tự nhiên”[15 tr62,63].
Khắc phục chủ nghĩa duy vật trực quan của Phơ bách K.Marx đề cập đến
tính hiện thực của bản chất con người. Con người được hiện ra với các hoạt
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
động thực tiễn, phong phú đa dạng. Thông qua hoạt động thực tiễn mà bản chất
của con người được hình thành và cũng thông qua hoạt động thưc tiễn tính tự
nhiên của con người đã mang tính xã hội, được chuyển vào và hoà nhập trong xã
hội. Hơn nữa quá trình hoạt động lao động đã hình thành nên phẩm chất xã hội
của con người – bản chất đặc thù của con người. Chính vì thế K.Marx đã nói:
“bản chất của “con người đặc thù” không phải là râu của nó, không phải là máu
của nó, không phải là bản chất thể xác trừu tượng của nó mà là phẩm chất xã hội
của nó”[16 tr 320].
K.Marx không chỉ xem xét con người với các hoạt động thực tiễn mà còn
xem nó trong một thời đại nhất định, một giai đoạn lịch sử cụ thể, chịu ảnh
hưởng của một môi trường tự nhiên. K.Marx viết: “ chúng ta cần phải thấy thế
nào là bản chất con người nói chung và bản chất ấy biến hình như thế nào trong
mỗi thời đại nhất định”[15 tr 67]. “Bất kỳ lịch sử nào cũng không phải là cái gì
khác mà là sự hoạt động không ngừng của bản chất con người”[15 tr 67].
Bản chất chính là cái chung của con người. Trong mỗi giai đoạn lịch sử
(tức trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội) bản chất con người lại là những đặc
điểm riêng. Giữa cái chung và cái riêng luôn chuyển hoá với nhau. Ở mỗi thời
đại khác nhau con người cũng khác nhau bởi vì xã hội loài người luôn luôn vận
động từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác nên con
người cũng phải biến đổi cho phù hợp. Con người ở thời đại nào thì mang dấu
ấn của thời đại ấy. Trong xã hội có giai cấp, bản chất con người mang tính giai

Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội- sinh lý, tâm lý
tạo thành một chỉnh thể, đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng
định, tự điều chỉnh…mọi hoạt động của mình một cách tích cực.
Nhân cách là bản sắc độc đáo của con người thể hiện ở mỗi cá nhân, là cái
tôi của mỗi cá nhân. Như vậy khái niệm nhân cách nhấn mạnh cái bản chất xã
hội của mỗi con người.
Nhân cách là tổng thể của ba yếu tố cơ bản: tư chất di truyền sinh học của
mỗi cá thể, kết quả tác động của các nhân tố xã hội (hoàn cảnh môi trường sống,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
các chuẩn mực, sự điều chỉnh) và cái tôi tâm lý xã hội trong mỗi cá nhân. Hạt
nhân xã hội “cái tôi”, tựa như là cái xã hội bên trong của nhân cách, cái xã hội
đã trở thành hiện tượng tâm lý và quyết định tính cách của nhân cách, phạm vi,
động cơ biểu lộ ra theo một chiều hướng nhất định…Nó là cơ sở hình thành
những tình cảm xã hội của con người. Hơn nữa cái tôi là yếu tố bản chất của cấu
trúc nhân cách, là trung tâm tinh thần, ý nghĩa, điều chỉnh, dự báo tối cao của
nhân cách. Về mặt chủ quan, đối với cá nhân, nhân cách biểu hiện như là hình
ảnh của cái tôi của các nhân. Chính cái tôi là cơ sở của sự tự đánh giá bên trong,
là cái mà nhờ đó cá nhân tự thấy mình trong hiện tại, trong tương lai. Như vậy
nhân cách là sự thống nhất giữa mặt cá nhân và mặt xã hội trong con người.
Cái quyết định sự hình thành nhân cách là môi trường xã hội cụ thể tác
động vào cá nhân bằng vô hạn những sợi dây liên hệ trực tiếp hay gián tiếp,
nghĩa là nhân cách được hình thành trong quá trình hoạt động và giao tiếp.
Trong quá trình này cá nhân tiếp nhận sự tác động môi trường xã hội một cách
tích cực, có cải biến chọn lọc, kế thừa để biến thành cái bên trong, đó là quá
trình xã hội hoá các nhân
Nhân cách bao giờ cũng là con người đã phát triển về mặt xã hội, tự ý
thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh là chủ thể của nhận thức và cải tạo thế giới, chủ

thúc nội tâm ý trí cá nhân thì mới thực hiện được.
Nhân cách trong khi mang tính chất xã bao giờ cũng mang tính riêng, bản
sắc độc đáo của một thực thể cá nhân, không có tính lập lại ở người khác do toàn
bộ những điều kiện sinh sống riêng quy định, đó là vấn đề cá tính. “ Cá tính là
cái không thể phân chia được, là thống nhất toàn vẹn vô tận từ đầu đến chân, từ
nguyên tử đầu tiên đến nguyên tử cuối cùng xuyên suốt và ở khắp mọi nơi, tôi là
một thực thể cá nhân”[7 tr31]. Cá tính không phải là cái gì tuyệt đối. Nó không
phải là cái đã hình thành đầy đủ và xong xuôi nhưng đồng thời cá tính cũng là
cái bất biến, ổn định nhất trong cấu trúc nhân cách của con người.
Như vậy mỗi nhân cách vừa bao gồm những nét chung vốn có của loài
người ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, vừa mang những đặc điểm riêng –
những các tính không lặp lại ở người khác. Trong nhân cách bên cạnh những
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (:
0918.775.368
thuộc tính chung bao giơ cũng có một cái gì đó rất riêng của người ấy, đặc trưng
chỉ có ở người đó. Đó là tính phong phú, đa dạng của nhân cách mà chúng ta cần
biết tôn trọng và phát huy.
Quan niệm triết học về bản chất con người cho thấy cái mô hình con
người một cách toàn diện, đúng đắn với phương pháp luận và thế giới quan duy
vật biện chứng.
2.2 Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Marx về bản chất con người
trong xây dựng con người Việt Nam của thời kỳ công nghiệp hoá-
hiện đại hoá:
Trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực và ở nước ta hiện nay công
nghiệp hoá, hiện đại hoá được xác định là giai đoạn phát triển tất yếu mà mỗi
quốc gia sớm muộn gì đều phải trải qua, là hiện tượng có tính quy luật phổ biến
trong tiến trình vận động và phát triển của các nước, nhất là đối với các quốc gia
đang phát triển, muốn vươn lên thành một nước có trình độ phát triển cao. Vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status