1
Tiểu luận QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT
HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI
2 A. LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự tìm h iểu tự nhiên và cuộc sống xã hội, kể từ khi loài
người ra đời, một vấn đề luôn được đặt ra là tìm hiểu chính bản thân
mình.
Ngay từ thời kỳ tiền triết học, vấn đề này đã được đề cập qua các
tôn giáo nguyên thủy, các truyền thuyết, thần thoại, sử thi, anh hùng ca và
việc thờ cúng tổ tiên. Đó là những quan niệm còn mang nặng tính thần bí,
siêu hình. Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào thế kỷ VI Trước Công
Nguyên đã đánh dấu bước phát triển mới của tư tưởng con người, từ cảm
nhận vũ trụ trực quan đến thế giới quan mang tính khái quát, trừu tượng
của tư duy. Các trường phái triết học Hy Lạp giai đoạn này có nhiều quan
điểm khác nhau, song đều rất quan tâm đến bản chất, nguồn gốc của thế
giới, vạn vật và con người. Bước vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ, các nhà
triết học quan tâm nhiều hơn đến vấn đề s inh vật, con người và linh hồn
con người. Vào thế kỷ VII và VI TCN, phái duy vật sơ khai cho rằng con
quan niệm mang tính chất không tưởng nhưng những tư tưởng này đã
mang đậm tính chất nhân văn sâu sắc.
4
B. NỘI D UNG
I. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘ I VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌ C
TÂY ÂU THỜ I KÌ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI
I.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ
từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV - VI), bắt đầu hình
thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tính chất quá độ đó biểu
hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá tư
tưởng thời kì này.
Về kinh tế: Bắt đầu từ thế kỉ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với
nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc Trung cổ đã bước vào thời kì tan
rã. Nhiều công trường thủ công xuất hiện, ban đầu ở Italia, sau đó lan
sang Anh, Pháp và các nước khác, thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém
phát triển.
Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa thúc đẩy sự phát triển
của khoa học, kĩ thuật. Nhiều công cụ lao động được cải tiến và hoàn
thiện. Với việc sáng chế ra máy kéo sợi và máy in đã làm cho công
nghiệp dệt, công nghệ ấn loát đặc biệt phát triển, nhất là ở Anh. Sự khám
phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã giúp cho con người có thể sản
xuất có kế hoạch, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động.
Những phát kiến về đường biển, tìm ra những miền đất mới, phát
hiện ra châu Mỹ càng tạo điều kiện phát triển cho nền sản xuất theo
hướng tư bản chủ nghĩa. Thương mại, thị trường trao đổi hàng hoá giữa
các nước được mở rộng; giao lưu quốc tế được tăng cường, nhờ đó mà
các nước phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thi nhau xâm
chiếm thuộc địa để mở rộng việc khai thác thiên nhiên và thị trường tiêu thụ
Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực
triết học duy vật, vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần
học Trung cổ. Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy
tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn
6
giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện. Cuối
cùng, sự chuyên chính của giáo hội và s ự thống trị của chủ nghĩa kinh
viện Trung cổ đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học
thực nghiệm và triết học duy vật - tiền đề cho những thành tựu mới và
những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo.
Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội. Đó là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư
bản, của khoa học và tư tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết học,
nhưng với những đặc điểm mới.
Khác với thời kì Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở
các nước Tây Âu là thời kì giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về
chính t rị trước giai cấp phong kiến. Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ
ra và thành công: Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷ XVI ; Cách mạng
tư sản Anh (1642-1648); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794). Đây cũng
là thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở
thành phương thức sản xuất thống trị Tây Âu. Nó tạo đã tạo ra những vận
hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự
nhiên, trong đó cơ học đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ điển. Đặc điểm của
khoa học tự nhiên thời kì này là khoa học tự nhiên - thực nghiệm. Đặc
trưng ấy tất yếu dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong
sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát triển, nếu có
nói đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc. Đó là nguyên
nhân chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy
móc siêu hình.
thực vật", "linh hồn động vật", "linh hồn lý tính". Hai phần đầu thuộc về
linh hồn cảm tính, có cả ở thực vật và động vật. Trong con người, linh
hồn cảm tính là một dạng chất lỏng , pha loãng trong cơ thể. Chúng vận
động theo các dây thần kinh, tựa như các đường ống, tác động lên các
giác quan, điều khiển chức năng sống của cơ thể. Bộ phận linh hồn này
có thể bị huỷ hoại cùng cơ thể khi con người chết đi. Linh hồn lý tính có
8
nguồn gốc từ Thượng đế. Đó là một khả năng kì diệu mà chúa đã ban cho
con người, mang tính thần thánh. Vì con người có cả hai dạng linh hồn
nên con người vừa rất gần với động vật lại vừa có cái gì đó siêu phàm, và
do đó, bản chất con người không cho phép con người theo lập trường
hoàn toàn vô thần. Con người cần có tôn giáo để vượt qua những lúc con
người mềm yếu, bất lực. Tôn giáo mang lại cho con người niềm tin nhưng
nhà thờ không được phép dùng các biện pháp chống lại các nhà vô thần,
không được cản trở các hoạt động khoa học, nghệ thuật của con người.
Nhìn chung, quan niệm trên của Ph.Bêcơn thể hiện sự thoả hiệp
giai cấp tư sản Anh thời đó với các vấn đề tôn giáo.
II.2. Tômát Hôpxơ (1588-1679)
Tômát Hôpxơ (Thomas Hobbs) là nhà triết học nổi tiếng, đại biểu
của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII, người có công cụ thể hoá và phát
triển nhiều quan niệm duy vật của Ph.Bêcơn.
Theo T.Hôpxơ, vấn đề trung tâm của triết học là vấn đề con người.
Các tác phẩm Về con người (1658), Về người công dân (1642) của ông
đều bàn về vấn đề này. Từ việc coi con người vừa là một thực thể tự
nhiên, vừa là một thực thể đạo đức và tinh thần, ông chia triết học thành
triết học tự nhiên và triết học đạo đức, hay còn gọi là triết học xã hội.
Con người, theo T.Hôp xơ là một th ực thể thống nhất giữa tính tự
nhiên và tính xã hội. Về bản tính tự nhiên, mọi người khi sinh ra đều như
nhau, sự khác nhau nhất định giữa họ không lớn. Nhưng con người ai
đại.
Ông khẳng định, con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác.
Theo quan điểm nhị nguyên luận, ông hoàn toàn tách biệt thể xác và linh
hồn, coi chúng có nguồn gốc từ hai thực thể tư duy và quảng tính hoàn
toàn tách biệt. Ông coi linh hồn con người là một thực thể mà bản chất
của nó là tư duy, tồn tại không cần đến và không phụ thuộc vào bất kì
một sự vật vật chất nào. Linh hồn là bất diệt, nó không bị phân huỷ khi
con người chết. Con người có được là do Thượng đế ghép linh hồn vào
10
thể xác. Cơ thể con người là chỗ trú chân tạm thời của linh hồn khi anh ta
sống.
II.4. Giooc Beccơli (1685-1753)
Giooc Beccơli (George berkeley) là nhà triết học nổi tiếng người
Anh, đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan.
Cũng như các nhà duy tâm khác, G.Beccơli quan niệm con người
bao gồm linh hồn và thể xác; linh hồn là cái quyết định. Thể xác thuộc về
các vật thể tự nhiên, tức các cảm giác. Do vậy, thể xác tồn tại được là nhờ
linh hồn cảm nhận nó. Thể xác phải tuân theo cái gậy chỉ huy của linh
hồn.
Đối với linh hồn con người, G.Beccơli cho rằng, "tồn tại nghĩa là
cảm nhận". Có nghĩa là linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật
khác mà trước hết là cảm nhận thể xác của con người.
II.5. Điđơrô và các nhà triết học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII
Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là một giai đoạn phát triển
quan trọng trong tiến trình phát triển tư tưởng triết học Tây Âu và thế
giới. Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là sự kế tục và phát triển mới
về chất các khuynh hướng tư tưởng bài trừ siêu hình học thế kỉ XVII,
cũng như đánh giá lại các giá trị tuyền thống. Nó bắt đầu từ việc phê phán
không thương tiếc các quan niệm cũ về thế giới và con người. Chính vì
con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài
quan niệm trừu tượng về bản chất con người và những quan
niệm phi thực tiễn trong lý giải nhân sinh, xã hội cũng như
phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người. Và những
hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy
vật biện chứng của triết học Mác – Lênin về con người.
\
Danh sách nhóm 3:
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
PHẠM HỒNG HẠNH
TRƯƠNG ANH TUẤN
DƯƠNG THỊ THU HƯƠNG
TẠ THỊ HƯƠNG
BOU SITHA
PHẠM HỒNG TIẾN
VÂN