0
Đại học Quốc gia Hà Nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hoàng Thị Hạnh
NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ
XÂY DỰNG PHẠM TRÙ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG NGUYÊN
TẮC ĐÓ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN Ở NƯỚC
TA
Luận văn thạc sỹ khoa học triết học
Chuyên ngành : CNDVBC – CNDVLS
Mã số : 5.01.02
Luận văn thạc sỹ khoa học triết học
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lưu Minh Văn
Hà Nội-2002 1
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
4
Chương 1: Phạm trù và những nguyên tắc của triết học Mác – Lênin về xây
2.1. Thực trạng của tư duy lý luận ở nước ta qua việc nhận thức và vận
dụng một số phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử trước thời kỳ đổi mới.
60
2.1.1. Sự đồng nhất, lẫn lộn giữ phạm trù “Xã hội-Xã hội chủ nghĩa”
với phạm trù “Thời kỳ quá độ”
69
2.1.2. Sự đối lập một cách cực đoan, siêu hình phạm trù “Xã hội chủ
nghĩa” và phạm trù “Tư bản chủ nghĩa”
71
2.1.3. Tính chất siêu hình, chủ quan duy ý chí và giáo điều trong việc
nhận thức, vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa các phạm trù: “quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất” ; “cái riêng và cái
2
chung”
74
2.2. Quán triệt các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật về phạm trù
trong đổi mới tư duy lý luận ở nước ta hiện
nay
75
2.2.1. Quán triệt nguyên tắc khách quan – toàn diện, lịch sử – cụ thể để
nhận thức và vận dụng các phạm trù cơ bản của triết học Mác – Lênin
trong đổi mới tư duy lý luận
Xét từ gốc độ biện chứng, các khái niệm và phạm trù có vai trò quan
trọng trong lý luận nhận thức. Chúng là kết quả sự khái quát mối liên hệ
chung của thế giới khách quan, là chỗ dựa cho nhận thức của con người, đồng
thời giúp con người hiểu và nắm bắt màng lưới liên hệ giữa các sự vật, hiện
tượng trong thế giới. Nhờ đó, các sự vật, hiện tượng muôn hình muôn vẻ của
thế giới hiện ra trước mắt chúng ta không phải một cách tách biệt, hỗn độn mà
trong tính quy luật – tất yếu – phổ quát của chúng. Hơn nữa, các phạm trù
triết học là hình thức tư duy của con người, vì tư duy luôn phản ánh hiện thực
và biểu hiện trong những mối liên hệ của sự vật, hiện tượng được lưu lại trong
các phạm trù. Chúng ta không thể tiến hành tư duy về bất cứ điều gì nếu
không có phạm trù. Nói cách khác, các phạm trù của triết học Mác – Lênin là
những công cụ hữu hiệu cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đặc biệt, trong
một thời đại mở (toàn cầu hoá) đầy năng động và biến đổi như hiện nay thì
4
việc nắm vững các khái niệm, các phạm trù của triết học Mác – Lênin sẽ giúp
chúng ta có cơ sở vững chắc cho tư duy và hành động.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn tiêu đề “Những nguyên tắc của
triết học Mác – Lênin về xây dựng phạm trù và ảnh hưởng của những nguyên
tắc đó trong công cuộc đổi mới tư duy lý luân ở nước ta” làm đề tài cho luận
văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Là một bộ phạn khá quan trọng nội udng của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, vấn đề phạm trù thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Phải
kể đến trước hết là các học giả Xô - viết.
Rodentan – một nhà triết học mác – xít lớn, từ những năm 60 đã rất chú
ý đến vấn đề phạm trù trong phép biện chứng.Trong các cuốn “Bàn về phạm
trù của phép biện chứng duy vật” (1958), “Lịch sử và logic” (1959), “Nguyên
lý logic biện chứng” (1962), “Những vấn đề phép biện chứng trong bộ Tư bản
của Mác” (1962) ông đã phân tích các khía cạnh như: cơ sở cho việc hình
đưa ra quan điểm của mình về nội dung các cặp phạm trù, thứ tự sắp xếp của
chúng trong hệ thống, về mối liên hệ lẫn nhau giữa các cặp phạm trù cũng
như sự tương quan giữa chúng với các quy luật của phép biện chứng duy vât
Tác giả đặc biệt nhấn mạnh những cơ sở lý luận và nguyên tắc xuất phát của
triết học mác xít bàn về phạm trù.
Năm 1998, nhà xuất bản Chính trị quốc gia cho ấn hành bộ “Lịch sử
phép biện chứng do tập thể tác giả Viện triết học Liên – xô biên soạn. Bộ sách
gồm 6 tập, trong đó tập IV chuyên bàn về phép biện chứng trong các tác
phẩm của Mác và Enghen, tập V bàn về phép biện chứng trong các tác phẩm
6
của Lênin và các nhà triết học mác – xít Xô - viết khác. Phần hai của tập IV
với tiêu đề “Sự luận chứng và phát triển phép biện chứng duy vật trong Tư
bản của Mác” có các chương bàn sâu về phạm trù như chương IV (Những vấn
đề phân tích chất,lượng, độ); Chương V (Vấn đề mâu thuẫn biện chứng) ;
Chương VI (Cấu trúc logic của hệ thống phạm trù). Ở các chương trình như
đã kể, của Mác trong quá trình phân tích sự vận động và phát triển của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở phần ba “Sự phát triển của phép
biện chứng duy vật trong tác phẩm của Enghen”, các tác giả có đề cập tới
quan điểm của Enghen về cơ sở thực tiễn việc hình thành các phạm trù, về nội
dung một số vấn cặp phạm trù như nguyên nhân và kết quả, tất yếu và ngẫu
nhiên, tự do và tất yế, v.v Những vấn đề cốt yếu nhất của phạm trù với tính
cách là công cụ của nhận thức thì họ chưa đề cập tới; Trong tập V, (Lênin
nghiên cứu phép biện chứng với tính cách là logic học và lý luận nhận thức)
các tác giả tập trung phân tích luận điểm của Lênin : “trước con người có
màng lưới những hiện tượng tự nhiên ” coi đó là chiếc chìa khoá nhằm tiếp
cận vấn đề phạm trù của triết học Mác – Lênin.
Ngoài những công trình kể trên, trong các tài liệu Xô - viết dịch ra tiếng
Việt, chúng ta thấy vấn đề phạm trù của triết học Mác – Lênin còn được đề
cập tới trong các cuốn “Nguyên lý triết học mác xít” (1962), “Chủ nghĩa duy
bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giành một chương
nói về các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Những năm gần đây, trên tạp chí Triết học đã xuất hiện một số bài viết
xoay quanh vấn đề phạm trù của triết học Mác – Lênin, chúng tôi xin đơn cử:
- Dương Văn Thịnh: “Tìm hiểu tư tưởng của F. Enghen về phạm trù vật
chất trong “biện chứng của tự nhiên”.
- Hồ Văn Thông: “Một số vấn đề về phạm trù thực hiện.
8
- Nguyễn Đăng Tấn: “Tìm hiểu tư tưởng của Enghen về ngẫu nhiên và
tất nhiên trong “Biện chứng của tự nhiên”.
- Vương Thị Bích Thu: “Lý luận về tất yếu và tự do trong triết học của
Mác – Enghen”.
- Phạm Văn Đức: “Những đặc trưng cơ bản của phạm trù quy luật”.
- Nguyễn Ngọc Hà: “Cái riêng và cái chung – một số vấn đề cần quan
tâm”.
- Bùi Thanh Quất và Nguyễn Ngọc Hà: “Khái niệm với tính cách là
một vấn đề triết học”, v.v
Ngoài những chuyên luạn như đã nêu trên, vấn đề phạm trù của triết
học Mác – Lênin còn được đề cập đến theo những khía cạnh khác nhau trong
các baì viết của các tác giả như: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Hữu Vui,
Nguyễn Cảnh Hồ, Lai Văn Toàn, Vũ Văn Viên, Phạm Thị Ngọc Trầm, v.v
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu có phần khởi sắc và hứa hẹn, song vẫn còn
không ít vấn đề còn để ngỏ.
Về vấn đề vai trò của các phạm trù của phép biện chứng duy vật đối với
đổi mới tư duy lý luận cũng được để cập trong hàng loạt sách báo, tạp chí: tạo
chí triết học, tạp chí cộng sản, tạp chí nghiên cứu lý luận, v.v. Đáng chú ý là
các bài viết của các nhà nghiên cứu như .
- Trần Hữu Tiến: “Đổi mới tư duy lý luận- Vấn đề bách hiện nay”.
- Lê Thi: “Tư duy triết học và đổi mới tư duy”.
10
+ Quan điểm của các nhà nghiên cứu mác – xít (Xô - viết, Trung Quốc,
Việt Nam) viết về phạm trù.
+ Các Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam liên quan đến vấn đề đổi
mớitư duy lý luận ở nước ta.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận
dụng các phương pháp của triết học Mác – Lênin như:
+ Phương pháp biệnchứng và các nguyên tắc của nó.
+ Phương pháp thống nhất giữa Logic và lịch sử, giữa phân tích và tổng
hợp, giữa quy nạp và diễn dịch.
+ Phương pháp so sánh, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể,v.v
5. Cái mới của các luận văn.
Tác giả luận văn cố gắng trình bày một có hệ thống các nguyên tắc của
triết học Mác – Lênin về xây dựng phạm trù. Xem xét khả năng vận dụng
chúng vào việc đổi mới tư duy lý luận ở nước ta hiện nay.
6. Ý thức lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Trên quan điểm thống nhất giữa Lôgíc và lịch sử, giữa lý luận và thực
tiễn, tác giả làm sáng tỏ quan niệm của các nhà kinh điển Mác – Lênin về
phạm trù. Từ đó góp thêm tiếng nói khẳng định bản chất khoa học – cách
mạng của triết học Mác – Lênin.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng
dạy môn lịch sử triết học, môn triết học Mác – Lênin.
7. Kết cấu của luận văn: Luận văn gồm 3 phần chính.
- Phần mở đầu
- Phần nội dung với 2 chương , 4 tiết
11
- Phần kết luận.
trù, mà chỉ có những khái niệm chung – cơ bản – có ngoại diên rộng, mới là
phạm trù; 2) Phạm trù phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên
hệ chung, bản chất của thế giới. Với hai tính chất cơ bản như đã nêu trên của
phạm trù đủ để khẳng định phạm trù là phương tiện, công cụ quan trọng để
thiết lập đủ để khẳng định phạm trù là phương tiện, công cụ quan trọng đã
thiết lập hệ thống tri thức khoa học. Luận điểm nổi tiếng sau đây của Lênin đa
nói rõ đếu đó: “Trước con người có màng lưới những hiện tượng tự nhiên.
Con người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên. Người
có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù tách khỏi giới tự nhiên
tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù là những
giai đoạn của sự tách rời đó, tức là của sự nhận thức thế giới, chúng là những
điểm nút của màng lưới, giúp chúng ta nhận thức và nắm vững được mạng
lưới, giúp chúng ta nhận thức và nắm vững được màng lưới” [56,102].
Bất cứ một ngành khoa học cụ thể nào cũng có hệ thống phạm trù riêng
của mình. Ví dụ, trong Vật lý học có các phạm trù như khối lượng, năng
lượng, nguyên tử, điện tử, ánh sáng, v.v sinh vật học nghiên cứu các phạm trù
cơ bản như đồng hóa, dị hoá, di truyền, biến dị, giống, loài v.v. Kinh tế chính
trị đề cập đến các phạm trù: hàng hoá, lao động, giá trị, giá cả, tiền tệ, tư
bản.v.v. Mỹ học chú trọng việc nghiên cứu: cái đẹp, cái bi kịch, cái hài kịch,
cái cao thượng, v.v.
Xét cả về phương diện ngoại diên lẫn nội hàm, chúng ta thấy phạm trù
triết học khác về căn bản so với phạm trù của các khoa học cụ thể. Sự khác
biệt đó thể hiện:
- Phạm trù trong các khoa học cụ thể chỉ khái quát một khía cạnh, một
mặt nhất định nào đó tương đối hẹp của hiện thực khách quan. Ví dụ, trong
14
kinh tế chính trị, phạm trù hàng hoá chỉ phản ánh những vật phẩm được đem
trao đổi, mua bán trên thị trường, còn nếu các vật phẩm đó sản xuất ra nhằm
để tiêu dùng thì không phải là hàng hoá. Trong sinh vật học, đồng hoá và dị
thống tri thức của mình, trước hết cần phải có một hệ thống phạm trù.
Phạm trù với tư cách là sản phẩm của quá trình nhận thức.
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, phạm trù là kết quả, là sản
phẩm quá trình nhận thức của con người. Bởi vậy, muốn tiếp cận đúng vấn đề
các nguyên tắc xây dựng phạm trù, trước hết chúng ta phải bắt đầu tư việc tìm
hiểu bản chất của quá trình nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo
nên phạm trù.
Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó bắt đầu từ việc xem xét hiện
thực một cách sinh động, trực tiếp và hơn nữa sự xem xét đó không phải là
tiêu cực, thụ động, mà loà tích cực, sáng tạo, được tiến hành trên cơ sở hoạt
động thực tiễn. Nhận thức khoa học bao giờ cũng hàm chứa tính biện chứng,
trong ý thức những khách thể nhận thức của con người dưới dạng ý niệm và
biểu tượng. Ở đây hoạt động thực tiễn đóng vai trò quyết định.
Luận điểm sau đây của Lênin trong “Bút ký triết học” đã khắc hoạ một
cách cô đọng bản chất của nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng
của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [56,179].
Theo quan điểm đó thì nhận thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai
giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư
duy trừu tượng). Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng giai đoạn cụ thể từ đó có
thể rút ra kết luận về bản chất cuả nhận thức và vai trò của nó trong việc giúp
con người sáng tạo nên các phạm trù.
16
- Nhận thức cảm tính đó là khái niệm phản ánh trình độ đầu tiên của
quá trình nhận thức do sự tác động trực tiếp của các khách thể nhận thức lên
các giác quan của con người như thính giác, thị giác, xúc giác v.v. Nó được
thể hiện dưới ba nấc thang cơ bản sau đây: Cảm giác, tri giác, biểu hiện.
Nhận thức bắt đầu từ cảm giác. Cảm giác là một trong những năng lực,
đặc tính của thế giới động vật. Năng lực đó gắn liền một cách trực tiếp với tác
gồm ba hình thức: Khái niệm, phán đoán, suy luận.
Khái niệm pảh ánh những mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến
của một lớp các sự vật, hiện tượng nào đó. Khái niệm là những dữ liệu cơ bản
để tạo thành nội dung của ý thức, tư duy con người, là những phương tiện để
con người có thể trao đổi thông tin với nhau. Nếu chúng ta hình tượng hoá hệ
thống tri thức khoa học của nhân loại như một toà lâu đài lớn thì khái niệm
đóng vai trò như là viên gạch xây nên lâu đài đó, và như đã nói, những kái
niệm chung, cơ bản, chính là phạm trù.
Phán đoán là sự liên kết các khái niệm tạo thành một mệnh đề có cấu
trúc ngôn ngữ chặt chẽ nhằm khẳng định hay phủ định một thuộc tính hay
mối liên hệ nào đó của hiện thực khách quan. Phán đoán giúp chúng ta nhận
biết về một đặc tính, một phương diện nào đó của đối tượng. Sự liên kết giữa
các phán đoán sẽ tạo nên suy luận.
Suy luận phản ánh quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã
biết đến việc nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. Nếu chúng ta
xuất phát từ những tri thức đúng và tiến hành theo một quy tắc logic chặt chẽ,
suy luận sẽ đưa lại cho chúng ta tri thức đúng và ngược lại. Suy luận là đậc
trưng của tư duy, nó tồn tại dưới hai dạng cơ bản là quy nạp va diễn dịch.
18
Như vậy nhận thức lý tính là nấc thang cao của quá trình nhận thức
được hình thành trên cơ sở tri thức cảm tính. Kết quả của nhận thức lý tính
được thể hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quy luật, nguyênlý, v.v
chúng là những trừu tượng khoa học phản ánh các mặt, các mối liên hệ bản
chất, tất yếu của thế giới hiện thực.
Trong tác phẩm “Bút ký triết học”, khi bàn về bản chất của nhận thức
và cơ chế hình thành khái niệm, phạm trù, quy luật, Lênin viết: “nhận thức là
sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người. Nhưng đó không phải là sự phản ánh
đơn giản, trực tiếp, hoàn chỉnh, mà là một quá trình cả một chuỗi những sự
trừu tượng, sự cấu thành, sự hình thành ra các khái niệm, quy luật etc – và
trù là cả một giai đoạn phức tạp, lâu dài tuân thủ theo nguyên tắc thống nhất
giữa logic và lịch sử. Nói cách khác, thứ tự xuất hiện các phạm trù trong hệ
thống phạm trù mà hiện nay triết học và các khoa học đang có là thứ tự có
tính logic, tính quy luật phát triển nội tại của tư duy nhân loại. Vậy bản chất
của quy luật đó là gì? chúng ta hãy cùng nhau tiếp cận vấn đề dựa trên luận
điểm nổi tiếng sau đây của Lênin: “Trước con người có màng lưới những hiện
tượng tự nhiên. Con người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới
tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù là những
giai đoạn của sự tách rời đó, tức là của sự nhận thức thế giới, chúng là những
điểm nút của màng lưới, giúp chúng ta nhận thức và nắm vững được màng
lưới” [56,102].
Các phạm trù là những điểm nút, những nấc thang của quá trình
nhận thức.
Luận điểm nêu trên của Lênin thực ra không phải mới, nó đã được
Hegen đề cập tới trong “Khoa học logic” Hêghen cho rằng, giữa lịch sử phát
triển của tư duy (lịch sử triết học) và lịch sử hiện thực có những điểm tương
20
đồng. “Bước đầu tiên trong khoa học – Hêghen viết – cần phải thể hiện mình
là cái đầu tiên về phương diện lịch sử” [dẫn đến 144,203]. Mệnh đề này của
Hêghen là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho nguyên tắc thống nhất giữa
logic và lịch sử, nguyên tắc mà Mác vận dụng một cách sáng tạo xuyên suốt
toàn bộ cuốn “tư bản”. Enghen đánh giá cao quan điểm này của Hêghen, ông
coi đó là một phương pháp cơ bản khi tiếp cận vấn đề lịch sử triết học, trong
đó chủ yếu là việc khảo sát quá trình xuất hiện của các phạm trù. Trong bài
báo “Các Mác, góp phần phê phán khoa kinh tế – chính trị” Enghen viết:
“Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó và sự vận
động tiếp tục cảu nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh đã được uốn nắn lại, nhưng
uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử hiện thực đã cung
cấp” [67,134].
do trình độ thấp kém của sản xuất và đời sống, sự non yếu, ngây thơ về nhận
thức.
Khái niệm và phạm trù không phải là kết quả của tư duy thuần tuý,
chúng còn là kết quả hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo
giới tự nhiên để phục vụ mục đích mưu sinh của mình. Những điểm nút mà
Lênin đề cập tới vừa có ý nghĩa thực tiễn, vừa có ý nghĩa lý luận.
Nếu thực tiễn của con người càng phong phú, đa dạng, sâu sắc và hoàn
thiện thì con người càng có khẳ năng phát triển, vạch rõ mối liên hệ bản chất
của các sự vật, hiện tượng, do dó càng có nhiều khả năng thiết lập những khái
niệm, phạm trù mới có ngoại diện rộng hơn, nội hàm sâu hơn so với những
khái niệm, phạm trù mà con người đã có - đó chính là ý nghĩa thực tiễn của
vấn đề. Ý nghĩa lý luận thể hiện ở chỗ, các phạm trù là chỗ dựa, là công cụ và
phương tiện của nhận thức. Nhờ có chúng mà con người có thể tiếp cạn và
22
nhận thức thế giới một cách gián tiếp, bao quát được các sự vật, hiện tượng đa
dạng phong phú của thế giới . Do vậy con người mới nhận thức được bản chất
của đối tượng trong sự vận động không ngừng của chúng. Với nghĩa như vậy,
Lênin cho rằng muốn nhận thức được sự vật thì phải làm “chết cứng cái đang
sống” [65,275] – sự xuất hiện của các phạm trù chính là thời điểm con người
làm “chết cứng cái đang sống”.
Trở lại vấn đề đã nêu trên, chúng ta thấy những người nguyên thuỷ
bước đầu tiên trên con đường chinh phục tự nhiên, họ nhận thức thế giới bàng
cảm tính nhiều hơn là tư duy trừu tượng. Con người trong các thế hệ sau dần
dần tách khỏi giới tự nhiên, không phục tùng nó một cách mù quáng, không
thích ứng với nó một cách bản năng – tất yếu, mà tích cực chủ động nhận thức
giới tự nhiên, bắt nó phục vụ các mục đích mưu sinh của mình một cách tự
do. Nhưng để nắm bắt được quy luât vận động và bản chất của giới tự nhiên,
như đã nói, con người cần phải được trang bị bằng một hệ thống các phạm
trù. Theo nghĩa như vậy, Lênin nói rằng phạm trù thực ra là những trình độ
ngày càng sâu vào thế giới hiện tượng đã vạch ra những mặt, những yếu tố
mới,. những mặt và những yếu tố mới đó không thể thêm vào ngoại diên và
bổ sung vào nội hàm của những phạm trù cũ hiện có mà buộc con người phải
tạo nên những phạm trù mới để biểu hiện và xác định chúng, làm cho chi
thức nhân loại trở nên phong phú hơn. Chính vì thế, sau khi xuất hiện, bất cứ
phạm trù mới nào cũng đều ở trong mối quan hệ tất yếu với những phạm trù
hiện có, các phạm trù mới đó đồng thời cũng chiếm một vị trí nhất định trong
hệ thống chung của phạm trù.
Vấn đề hệ thống phạm trù, vị trí của mỗi phạm trù trong hệ thống đó là
một vấn đề quan trọng khí tiếp cận vấn đề phạm trù trong triết học Mác –
Lênin.