ĐẠI HỌC QUỐC (ỈIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỤC XÃ HỘI VÀ NHẢN VĂN
LƯ Ơ N G M IN H H Ạ N H
Tư TƯỞNG HỔ CHÍ MINH
VỀ ĐẢNG CẦM QUYỂN
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHÚNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH s ử
M Ã SỐ 5.01.02
L U Ậ N V Ẫ N T H Ạ C SỸ T R IẾ T H Ọ C
Người hướng dẩn khoa học: P(ỈS Bùi Thanh Quất
HÀ NỘI - 2005
MỤC LỤC
Lời nói đâu Trang
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Tinh hình nghiên cứu đe tài 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
6. Đóng góp của luận văn 6
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
8. Kết cấu của luận vãn 6
('hương 1. Cơ sở lý luận và thực tiền hình thành tư tưững
Hổ Chí Minh vè Đảng cầm quvền.
1.1. Quan điểm của chú nghĩa Mác - Lènin về Đảng cộng sản 7
1.1.1 Quan điểm của c. Mác và Ph. Ảng ghen 7
1.1.2. Quan điểm của V.I. Lênin 14
1.2. Thực tiễn cách mạng Việt Nam, thế giới cuối thế kỷ XIX 22
đầu thê ký XX đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đảng cầm quyền
1.2.1. Thụt' tiền đáu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam 22
cuối thê kỷ XIX đầu thế ký XX
đát nưóe, Đáng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đáng ta lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tương Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tướng và kim chi nam cho hành
động” 112,127].
Chủ tịch Hổ Chí Minh đã đê lại cho chúng ta một di sản vỏ gía về tư
tương, đạo đức, lối sống; về phương thức lãnh đạo, tác phong công tác. Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hổ Chí Minh thể
hiện ở rất nhiều lĩnh vực. trong đó tư tướng Hồ Chí Minh về Đảng cộng
sản, đặc biệt là trong giai đoạn Đảng cộng sản cầm quyền, lãnh đạo quá
trình xây dựng đất nước là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản
tư tưứng của Người về con đường cách mạng Việt Nam .
Chúng ta có thể thấy, tư tưởng về xây dựng Đáng cộng sản Việt Nam -
tổ chức chính trị đại diện cho lợi ích của của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của dân tộc - được thê hiện đậm nél trong nhiều bài nói, bài viết
của Hổ Chí Minh .
Vấn đề đặt ra là tại sao tư tưứng của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
cộng sản trong sạch, vững mạnh đú sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam lại
đậm nét như vậy. Tư tưởng đó được hình thành trên những cơ sở nhũng tiền
đề lý luận và thực tiễn nào?. Việc khảo sát và nghiên cứu để tìm ra lời giải
đáp cho những câu hỏi đó không những góp phấn vào việc làm sáng tỏ hơn
3
tư tưởng Hổ Chí Minh vé Đáng cầm quyền mà còn có thê gợi mớ nhiéu vân
đề cho thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay.
Kinh nghiệm lịch sử thế giới đã cho thấy, hất kỳ một giai cấp nào
muôn làm cách mạng thành công đều phái tìm ra hoặc xây dựng cho mình
một hệ tư tưởng tiên tiến. Hệ tư tưởng đó vừa là cơ sơ định hướng cho các
chiến lược cách mạng vừa là vũ khí tinh thần của lực lưựng cách mạng. Đặc
hiệt, khi vũ khí tinh thần ấy được thâm nhập vào lực lượng quần chúng thì
nó cũng trở thành một lực lượng vật chất tham gia trực tiếp vào quá trình cải
tạo xã hội.
dung và phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước; nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Đáng.
Về góc độ tiếp cận, hầu hết các công trình trên đều tiếp cận tư tưưng
Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền dưới góc độ các khoa học chuyên hiệt
như chính trị học, xây dựng Đáng. Mặt khác, tư tướng Hồ Chí Minh về
Đáng cầm quyền cũng đã được tiếp cận dưới góc độ của các khoa học liên
ngành như Hồ Chí Minh học, quán lý học
Trong công trình này, chúng tôi vẫn muôn một lần nữa đề cập tới tư
tướng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền nhưng dưới góc độ tiếp cận của
triết học - một góc độ vẫn còn mờ nếu không muôn nói là còn bỏ ngỏ trong
việc nghiên cứu tư tương Hổ Chí Minh vế Đảng cầm quyền.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN c ú u
Mục đích của luận văn là từ góc độ của triết học trình bày một cách
có hệ thống những tư tướng cơ hản của Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền
và chỉ ra ý nghĩa của những tư tưởng đỏ đôi với cách mạng Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
Đê đạt được mục đích trên, luận vãn có những nhiệm vụ :
1. Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng của Hồ Chí
Minh về Đảng cầm quyền.
2. Làm rõ một sô nội dung cơ bản trong tư tướng Người về Đáng cầm
quyến.
3. Chi ra sự vận dụng của tư tướng Hổ Chí Minh về Đáng cầm quyền
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ SỎ LÝ LUẬN VÀ PHI ONG PHÁP NGHIÊN cúu
Luận văn được triển khai nghiên cứu trên cơ sỏ quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và Đáng cộng sản Việt Nam về chính Đảng cùa giai cáp
vô sán, luận văn cững kê thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình
đi trước về Đáng cầm quyền.
Luận văn được triển khai, nghiên cứu dựa trên các nguyên tắc phưưng
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và của chú nghĩa duy vật lịch
quyền, chúng tôi khảo sát quan điểm của c. Mác, Ph Ảngghen trên 3
phương diện:
Quan điểm của c. Mác, Ph Ángghen vé sứ mệnh lịch sử của giai
cáp vô sấn :
Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở châu Âu vào cuối thê kỷ
XVIli đầu thê ký XIX đã đưa lại một nền sản xuất công nghiệp cơ khí và
cùng với nó là sự xuất hiện giai cấp vô sản - giai cấp khác hẳn với tất cả các
giai cấp bị nô dịch trước đây trong lịch sử. Cuộc cách mạng công nghiệp
diễn ra mạnh mẽ ở Anh, Pháp, Đức đã góp phần thúc đẩy chủ nghĩa tư
bán phát triển, đổng thời cũng làm bộc lộ một cách rõ nét những mâu thuẫn
nội tại của chủ nghĩa tư bản mà trước hết và chủ yếu là mâu thuẫn giữa giai
cấp vô sản và giai cấp tư sản .
Phong trào đấu tranh của công nhân dưới hình thức “công liên” đã ra
đời, phong trào này đã chịu ảnh hưởng của rất nhiều quan điểm của các nhà
khổng tướng đương thời như H. Xanh xi mông, s. Phuriê, R. Ôoen.
Vào những năm 30 - 40 của thế ký XIX phong trào đấu tranh của
giai cấp vô sản ngày càng phát triển mạnh mẽ, có thê kế tên một số phong
trào diễn ra trong thời kỳ này: Cuộc đấu tranh của công nhân dệt thành phố
Lyông (Pháp) năm 1831 và 1834. cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt thành
phố Xilêdi (Đức) năm 1844 và đính cao là phong trào Hiến chương ờ Anh
(1838 - 1848). Phong trào của giai cấp công nhân giai đoạn này tuy đã mờ
7
rộng về quy mỏ liên vùng, liên quốc gia nhưng về bản chất vẫn là những
cuộc đâu tranh tự phát.
Qua thực tiễn những phong trào đấu tranh tự phát của giai cấp vỏ sản
chòng lại các chú tư bản, c. Mác. Ph Ảngghen đã nhìn thây sức mạnh to lớn
ẩn chứa bên trong những con người lao động này. Với phát kiến vĩ đại về giá
trị thặng dư. C.Mác đã có cư sớ khoa học để khảng định sứ mệnh lịch sử thế
giới của giai cấp vô sản và tính tất yếu ra đời của nền chuyên chính vô sán.
Đốn đầu thế ký XIX, trôn cơ sở phát triển của kinh tế- xã hội. nói
sự đồng tình và úne hộ của đại đa số nhân dân lao động. Sự đổng tình và
ủng hộ này làm cho giai cấp vô sản trở thành đại biêu của tuyệt đại đa số
nhân dân lao động và có khả năng thực hiện khối liên minh, đoàn kết xung
quanh mình tất cả những người lao động bị áp bức đấu tranh chống chủ
nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới.
Vì lẽ đó, c. Mác, Ph Ăngghen khẳng định phong trào của giai cấp vô
sán là phong trào của đa số vì “lợi ích của đa số” và “trong các giai đoạn
khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn đại biểu cho lựi
ích của toàn bộ phong trào” [5, 44].
Đổng thời, C.Mác và Ph.Ảng ghen cũng đi đến kháng định giai cấp
vô sán chi có thê tự giải phóng mình nếu đổng thời và vĩnh viễn giải phóng
cho toàn xã hội và họ chỉ có thể giành chiến thấng nếu thực hiện liên minh
với các tầng lớp nhân dân lao động mà trong đó lực lượng cơ bán là giai cấp
nông dân.
Bôn là, do ra đời gắn liền với nền sản xuất công nghiệp hiện đại, nên
giai cấp vô sán là giai cấp có ý thức tổ chức và ký luật cao nhất so với các
giai cấp hị trị khác, giai cấp này có khả năng lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp
cách mạng.
Từ việc xác định vai trò lịch sử thê giới của giai cấp vô sán. qua tổng
kết thực tiễn phong trào đâu tranh của giai cấp này, C.Mác và Ph.Ãngghen
đã thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của những phong
trào đấu tranh lúc này là giai cấp vô sản chưa được tập hợp trong một tổ
9
chức và hoạt động chưa tuân theo một đường lối đâu tranh thông nhất.
Đồng thời, chính thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản cũng dã làm náy
sinh một nhu cầu hức thiết phái có một tổ chức thông nhất chặt chẽ đê lãnh
đạo, phong trào phái có một lý luận tiên tiến soi đường, phái có một cương
lĩnh mang đấy đủ tính cách mạng và tính khoa học làm kim chỉ nam cho
hành động của quần chúng. Từ đó, các ông xác định sự cần thiết phái thành
lập một chính đáng cách mạng của giai cấp công nhân “Trong cuộc đấu
xuất tăng trướng mạnh mẽ; cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới. Đổng
thời, sự lãnh đạo của Đáng cộng sản là điều kiện tiên quyết bảo đám cho
cách mạng xã hội chú nghĩa thu được tháng lợi và thực hiện mục đích cuối
cùng là xoá bỏ giai cấp.
Quan điếm của C.Mác và Ph.Ảngghen vé Đảng cộng sản.
Một là: Sự ra đời của Đáng cộng sản là một tất yếu khách quan, là
sán phẩm lịch sử tự nhiên của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản
và giai cấp tư sản. Đảng là một tổ chức chính trị, là tổ chức đại diện cho
quyền lợi, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng cộng
sản là lực lượng lãnh đạo giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh
lịch sử.
Hai là: Đảng cộng sản mang bản chất giai cấp vô sản, đứng trên lập
trường của giai cấp vô sản.
Ba là: c. Mác đã nêu lên những nguyên tắc để phân hiệt giữa Đảng
cộng sản và giai cấp vô sản. về mặt thực tiễn những người cộng sản là bộ
phận tiên tiến nhất, là bộ phận thúc đẩy phong trào tiến lên. về mặt lý luận,
Đáng cộng sản là đội tiên phong có tổ chức, toàn hộ đời sống và sự hoạt
động của Đáng cộng sản đều được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa xã hội khoa học. Nói cách khác, Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở
tư tướng của Đảng cộng sản.
Đáng cộng sán phải là một tổ chức chiến đấu cách mạng, nhằm mục
tiêu lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và thiết lập chuyên chính vô sản.
Mục đích trước tiên của Đảng cộng sản là lãnh đạo giai cấp vô sán và dân
tộc đấu tranh lật đổ sự thòng trị của giai cấp tư sản giành lấy chính quyền
11
VC tay mình. Đáng cộng sán phải trớ thành lực lượng đại diện cho dân tộc.
Mục đích cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản
Bốn là: Tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thê mà mỗi Đáng cộng
sán đề ra đường lòi chính trị phù hợp với hoàn cảnh cua nước mình.
Quan điếm của C.Mác và Ph.Ângghen vé:táy dựng Đáng
tát cả những người vi phạm ký luật của Đáng cộng sản. C.Mác và
Ph.Ảngghen đã chứng minh ràng, củng cô hàng ngũ của Đáng cộng sản,
đuổi ra khỏi Đảng cộng sản những phần tử thù địch và cơ hội là quy luật
phát triển của Đảng.
C.Mác và Ph.Ăng ghen khắng định rằng, phong trào vô sán nhất định
phải trái qua những hước phát triển khác nhau, trong mồi bước đều có một
số người dừng lại. họ không đi xa hơn được nữa. Vì vậy, các ông đã nhấn
mạnh: Ngày nay chúng ta nhất thiết phải duy trì ký luật của Đảng cộng sản,
nếu không mọi cái sẽ mất hết.
Một vấn đề nữa thuộc về cơ cấu tổ chức của Đảng cộng sản là vấn đề
thành phần xã hội của Đảng cộng sản, rằng nếu các đại biểu của các giai
cấp muốn tham gia vào phong trào công nhân thì trước hết họ phải vứt bỏ
những tàn tích của giai cấp tư sản và tiểu tư sản và những thành kiến khác
tơưng tự và phải nám vững một cách không điều kiện thê giới quan của giai
cấp công nhân. Như vậy, hai ông đã chi rõ thành phần xã hội của Đảng
cộng sản không phái là điều quyết định tính chất của một Đảng, mà điều
quyết định là ở lập trường tư tướng, ở thế giới quan giai cấp công nhân của
Đáng cộng sản đó. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với những Đảng cộng
sán mà thành viên đa sô là những nông dân, tiểu tư sản, thì vân đề cần phải
chú trọng là giáo dục về lập trường tư tưởng, thế giới quan của giai cấp
công nhân đê hảo đám tính chất giai cấp công nhân của Đảng cộng sán.
Chu nghĩa quốc tê vô sản của giai cấp công nhân là một trong những
nguyên tắc xây dựng Đảng cộng sản quan trọng nhất mà C.Mác và
Ph.Ăngghen đã đề ra. Ngay trong “Tuyên ngôn của Đáng cộng sán" hai ông
đã nêu ra kháu hiệu: “Vớ sẩn tất cả các nước, đoàn kết lại!". Kháu hiệu đó
13
đã trớ thành kháu hiệu chung cua phong trào cộng sán và phong trào công
nhân quốc tế. Giai cấp công nhân phái lây sự thống nhất quốc tế của mình
chống lại sức mạnh quốc tế cửa giai cấp tư sản. Theo quan điểm của C.Mác,
không làm như vậy thì giai cấp công nhán không thế giành được thắng lợi
sung và phát triển lý luận của chú nghĩa Mác. xây dựng học thuyết về đáng
kiểu mới của giai cấp công nhân.
Kế thừa tư tướng của chủ nghla Mác về Đáng cộng sán. trong các tác
phẩm của mình, V.I.Lê nin đã kháng định tính tất yếu phải có sự lãnh đạo
của Đàng cộng sản, cũng như chi ra vai trò. nhiệm vụ của Đáng cộng sản
trong quá trình lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh giành chính quyén và
xây dựng chủ nghĩa xã hội
Vê tư tưởng: Trong tác phẩm “ Làm gì” Lênin đã khảng định mọi sự
xa rời hệ tư tướng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tướng
tư sán. Lênin nhấn mạnh ý thức xã hội chủ nghía không phái phát sinh từ
phong trào tự phát của giai cấp công nhàn mà là do Đảng mác xít cách
mạng truyền bá vào phong trào công nhân. Đảng ấy phái được vũ trang
bằng lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, phải nâng mình lên ở tầm vóc lý
luận tiên tiến của thời đại bơi vì “không có lý luận cách mạng thì cũng
không thể có phong trào cách mạng” 130,30] và “Chỉ Đảng nào được một lý
luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền
phong” [30. 32 ]. Đồng thời, Lênin cũng chí ra nhiệm vụ của những người
cộng sản là “phải học tập ngày càng nhiều hơn, tất cả các vấn đề lý luận;
phải tự giải thoát, ngày càng nhiều hơn, khỏi ảnh hướng của những câu cổ
truyền của thê giới quan cũ và không bao giờ được quên rằng chủ nghĩa xã
hội từ khi trở thành khoa học, đòi hỏi phải được coi là một khoa học, nghĩa
là phải được nghiên cúru”[30,34].
về chính trị: Đảng phải tố cáo, vạch trần ách áp hức, bóc lột của chế
độ phong kiến chuyên chế. chê độ tư sán. phải nắm vững quan điểm giai
cấp, không chi hạn chê trong đấu tranh kinh tế. đấu tranh nghề nghiệp. Tất
cá những hình thức đấu tranh cống liên chi đưa phong trào của công nhãn đi
đến chỗ phụ thuộc vào hệ tư tướng của giai cấp tư sán và chính trị tư sán.
V.I.Lenin đã nêu và luận chứng luận điểm quan trọng nhất của chủ nghĩa
Mác về ý nghĩa hàng đầu của đấu tranh chính trị trong sự phát triên xã hội
và trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản với giai cấp tư sán. đảm bảo cho
tổ chức vững vàng gồm những người lãnh đạo đê háo đám cho sự liên tục
công tác. thì không thê có phong trào cách mạng vững chác được.
Trong các tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi”(1904), “Bệnh ấu
trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”, “Nhiệm vụ trước mắt cùa chính
quyền Xô viết” ( 1918) hay trong tác phám “Kinh tế và chính trị trong thời
đại chuyên chính vô sản”,“Sáng kiến vĩ đại”( 1919) V.I.Lênin đã đưa ra
những quan điểm của mình về xây dựng một đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân, đặc biệt trong điều kiện đảng cầm quyền lãnh đạo quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ nhất, Đảng cộng sản là đội tiên phong chính trị có tô chức và
lủ dội ngũ có tố chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công
nhân. Đây là tư tưởng đã được C.Mác và Ph.Ảng ghen đề cập tới trong
tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” năm 1848. Lúc này, để
chông lại tư tưởng của phái Mensêvíc chủ trương nhàm xoá nhoà ranh giới
giữa đảng và giai cấp. Lênin đã khẳng định lại “ Không được lẫn lộn đảng,
tức là đội tiên phong của giai cấp công nhân với toàn bộ giai cấp”[31,289].
Đảng chí kết nạp vào hàng ngũ của mình những đại biểu ưu tú nhất, giác
ngộ nhất và có tinh thần kỷ luật nhất của giai cấp công nhân. Sơ dĩ, đảng có
trách nhiệm và khả năng lãnh đạo và hướng tất cả các tổ chức của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động vào một mục đích chung là thủ tiêu chế độ
hóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa vì đảng bao gồm những phần tử
tiên tiến giác ngộ nhất, được vũ trang bằng lý luận khoa học và có tổ chức
chặt chẽ.
Điều đó có nghĩa. Đang cộng sản là một chính the cố kết vững chắc,
có ký luật nghiêm minh chặt chẽ, có qui định rõ nững mối quan hệ giữa cá
nhân với tổ chức, giữa hộ phận này với bộ phận khác. Trong tác phàm “Một
hước tiên, hai bước lùi” V.I.Lênin nhân mạnh “trong cuộc đấu tranh đế giành
chính quyền, giai cấp vô sán không có vũ khí nào tốt hơn là sự tổ chức"
ĐAI HOC QUỐC GIA HÀ N ỏi
!jy. ING TÂM THÒNG Tin thự Viện
[35. 245] và đó chính là nguồn gốc sức mạnh chủ yếu, vô địch và vô tận của
18
Đáng cộng sán. là điều kiện để đoàn kết giai cấp. Người coi mục tiêu của công
tác xây dựng và củng cô Đáng cộng sản là nhằm xây dựng và củng cô sự
thống nhất của đội ngũ.
Đảng cộng sản là đội tiên phong giác ngộ tổ chức chặt chẽ nhất của
giai cấp. do đó, trong hệ thông chính trị cùa xã hội - xã hội chủ nghĩa chi có
Đáng cộng sản mới đú phám chất chính trị và nãng lực, xứng đáng là người
lãnh đạo. V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩa Mác giáo dục đảng công nhân, là giáo
dục đội tiên phong của giai cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm
chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chú nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo
và tổ chức môt chê đô mới. đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh
tụ của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ
chức đời sống xã hội của họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại
giai cấp tư sản”[34, 33]. Người còn nhấn mạnh: “Về nguyên tắc, Đảng cộng
sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì
nữa”[33,453].
Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” V.I.Lênin đã khẳng định:
Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản là điều kiện tiên quyết bảo đảm
xây dựng thành công chú nghĩa xã hội. Buông lỏng sự lãnh đạo của Đáng
cộng sản là sai lầm về nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của nhà nước và của
cả hệ thống chính trị trong chủ nghĩa xã hội; là mở đường cho những phần
tử phản động phá hoại chính quyền, đưa đất nước trở lại con đường tư bản
chủ nghĩa.
Đảng gắn bó chặt chẽ với quần chúng, kiên quyết đấu tranh để ngãn
ngừa và khắc phục bệnh quan liêu xa ròi quần chúng.
Đê đảm hảo sự thống nhất trong đảng luôn luôn được củng cố và phát
triển, đáng cần phải thường xuyên và nghiêm chinh thực hiện tự phê bình và
phê hình. V.I.Lênin chí ra rằng: “Thái độ của một chính đáng trước những
sai lầm của mình là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chác
cụ mới thuận lợi cho việc tăng cường môi liên hệ giữa đảng và quần chúng.
Tuy nhicn. trong đáng cũng dẻ nảy sinh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, làm cho
một bộ phận cán bộ, đáng viên thiếu rèn luyện có thê rơi vào tình trạng
20
thoái hoá, biến chất, xa rời quần chúng. Vì thế, V.I.Lênin yêu cầu trong
công tác xây dựng đáng phải kiên quyết chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa
quan liêu.
Đáng cộng sản phải tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai
cấp công nhân và nhân dân lao dộng, phái thường xuyên đưa những người
đủ tiêu chuán và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng cộng sản.
Đáng là đội tiên phong của giai cấp. Đảng chi có thế làm tròn vai trò
ấy nếu trong đáng có những chiếu sĩ tiên phong. Kết nạp những đại biêu ưu
tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là biện pháp quan trọng
nhằm nâng cao chất lượng của đảng, là điều kiện vô cùng trọng yếu để nâng
cao uy tín và giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng.
Tuy nhiên, ớ mỗi thời kỳ cách mạng, do nhiều nguyên nhân khác
nhau, sẽ không tránh khỏi có một bộ phận đảng viên không còn giữ được
vai trò của chiến sĩ tiên phong: có người do trình độ nhận thức, năng lực
hoạt động thực tiễn; có người do thiếu kiên định về chính trị, thiếu ý thức tổ
chức kỷ luật, thoái hoá, biến chất trở thành quan liêu, tham nhũng, ức hiếp
quần chúng Đặc biệt là trong điểu kiện đảng cầm quyền, không tránh
khỏi có những phần tử cơ hội tìm mọi cách chui vào đảng với mưu đổ đặc
quyền, đặc lợi, phá hoại sự thống nhất đội ngũ trong đảng, làm giảm niềm
tin của quần chúng đối với đảng. Qua thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Nga, V.I.Lênin trước khi qua đời đã nhấn mạnh rằng: “Phải đuổi ra khỏi
đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hoá,
không trung thực, nhu nhược ” [42,154].
Đế đội ngũ của đảng luôn luôn trong sạch, chỉ bao gồm những chiến
sĩ tiên phong, được quần chúng tin yêu thì đảng phải thường xuyên đưa
những người không đũ tiêu chuấn và những phần tử cơ hội ra khỏi đảng. Đó
1.2. THỤC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI c u ố i THẾ
KỶ XIX - ĐẨU THẾ KỶ XX Đối VỚI sự HÌNH THÀNH TƯ
TIÒNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CAM QUYEN
22
1.2.1. Cuộc đau tranh giành độc lập dán tộc của nhan dán Việt Nam
cuối thê kỷ XIX - đấu thê kỷ XX
Xã hội Việt Nam trước năm 1858 là một xã hội phong kiến độc lập
với nền nồng nghiệp lạc hậu. Chính quyền nhà Nguyễn thi hành chính sách
“ Bé quan toả cảng” không tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp xúc và bắt nhịp với
thế giới. Do đó, nhà Nguyền không phái huy được sức mạnh cu ả dân tộc,
không đủ tiềm lực về vật chất để chông lại sự xâm lược từ hên ngoài.
Sau khi hiệp ước Patơnổt được ký kết, xã hội Việt Nam chuyến sang một
giai đoạn mới và trớ thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Bên cạnh
những mâu thuẫn giai cấp xã hội Việt Nam đã xuất hiện thêm một mâu thuẫn
mới: Máu thuẫn giữa toàn thế dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp.
Vào lúc này, vân đề dân tộc và giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã trớ thành một
vân đề có tính chất sông còn đối với vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của
đất nước. Đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại chủ quyền của dân tộc là mục
đích lớn nhất của tất cả những người yêu nước Việt Nam.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên vào lúc thực dân Pháp đã hoàn thành
cuộc xâm lược Việt Nam và đang trong thời kỳ bình định đê bước vào giai
đoạn khai thác thuộc địa trên qui mô lớn. Tuy nhiên, dấu ấn của những
cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam chống xâm lược và sự ươn
hèn của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã in đậm trong tâm thức Hổ
Chí Minh và đã cung cấp cho Người những bài học quí giá. Đó chính là chủ
nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cuờng để bảo vệ độc lập
dân tộc. Đồng thời, đây cũng là hành trang theo Hổ Chí Minh trong suốt
quá trình bôn ba tìm đường cứu nước.
Không cam chịu thân phận nô lệ, nhân dân ta ở cả ba miền Bắc,
Trung, Nam đã nổi dậy chông thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn. Nổi
trong khuôn khổ nền kinh tế tự cung tự cấp nghèo nàn và lạc hậu. Thất hại
của phong trào Cần vương và khởi nghĩa nông dân là sự thất bại và phá sán
của một thứ chủ nghĩa dân tộc cô độc trước một thế lực tư sản quốc tế.
Đầu thế ký XX, tình hình thế giới và khu vực đã có những ảnh hướng
mạnh đến xã hội Việt Nam: Nhật Bán nhờ Duy tân âu hóa đã phát triển
24