BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN BÀO CHỮA CỦA
CÔNG DÂN
PHAN TRUNG HOÀI
Thạc sĩ , Trưởng Văn phòng luật sư thuộc Đoàn Luật
sư TPHCM, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc
tế Việt Nam (V.I.A.C), Nghiên cứu sinh Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần
thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1991 đã
được chứng minh về tính đúng đắn và tính định
hướng, làm cho mọi người nhận thức rõ hơn con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nền tảng
của Cương lĩnh này của Đảng chính là chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội ở nước ta gắn liền với công lao vô cùng to lớn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo tiên
phong của Đảng cộng sản Việt Nam. Trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta
đã nhận thức ngày càng rõ hơn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lê-nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là
“một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết
quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa
và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”1. Trong hệ
thống quan điểm đó, có tư tưởng về việc xây dựng
liên quan đến cả một quá trình lịch sử của dân tộc; là
sự chuyển hóa nhận thức đó vào trong các thể chế,
các văn bản pháp luật.
Bài viết này bước đầu góp phần làm sáng tỏ các đặc
điểm và nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về bảo đảm quyền bào chữa của công dân, xem
xét ảnh hưởng chi phối của tư tưởng đó trong tiến
trình cải cách tư pháp và hoàn thiện chế định luật sư
ở nước ta hiện nay.
1. Bối cảnh hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo
đảm quyền bào chữa của công dân
Cho đến hiện nay, thời điểm hình thành nghề luật sư
trên thế giới đang còn nhiều tranh cãi, nhưng xuất
phát điểm của việc hình thành nghề nghiệp luật sư có
căn nguyên sâu xa từ những áp bức và bất công trong
xã hội. Đánh giá về cội nguồn lịch sử sâu xa của
những bất công này, Lê-nin đã viết: “Tất cả các sách
giáo khoa về lịch sử thời cổ, tất cả các bài giảng nói
về vấn đề đó sẽ trình bày cho các đồng chí thấy cuộc
đấu tranh giữa các Nhà nước quân chủ và cộng hòa;
nhưng điểm căn bản là người nô lệ lúc ấy không được
coi là người; không những không được coi là công
dân, mà còn không được coi là người nữa. Luật pháp
La Mã coi họ là các đồ vật. Không nói đến các luật lệ
khác để bảo vệ cá nhân con người, ngay các luật lệ về
tội giết người cũng không áp dụng cho người nô lệ”2.
Tinh thần cao thượng, nghĩa hiệp của những hiệp sĩ
thời xưa - những người không chỉ dùng tài hùng biện
mà cả sự tinh thông về cổ luật để bênh vực cho
những người bị áp bức bất công- phản ánh ước vọng
Về phần mình, trước khi đến với chủ nghĩa Mác-
Lênin, có thể khẳng định rằng, Nguyễn Ái Quốc đã
có điều kiện trực tiếp tiếp cận với các trào lưu tư
tưởng pháp lý tiến bộ của giai cấp tư sản mới hình
thành, trong đó phải kể đến Tuyên ngôn độc lập của
Mỹ (1776) và Tuyên ngôn về nhân quyền và dân
quyền của Pháp (1789), cùng các tư tưởng và học
thuyết về Nhà nước và pháp luật của giai cấp tư sản.
Cơ sở để khẳng định điều này chính là sự phản ánh
trong các bài viết, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc
đăng trên báo chí và sự vận dụng nhuần nhuyễn
những tư tưởng pháp lý tiến bộ này được nâng lên từ
quyền tự do dân chủ và nhân quyền của cá nhân
thành quyền của các dân tộc trên thế giới.
Sau cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn
Ái Quốc tích cực hoạt động phong trào công nhân,
gia nhập Đảng Xã hội Pháp và hướng về nước Nga
Xô viết, về chủ nghĩa Lênin. Sự tiếp thu tư tưởng nói
trên đã đưa Nguyễn Ái Quốc đứng hẳn về phía Quốc
tế cộng sản và trở thành người tham gia sáng lập
Đảng cộng sản Pháp; tiếp thu và dành nhiều thời gian
nghiên cứu lý luận Mác-Lênin về cách mạng thuộc
địa và xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân
tộc. Có thể nói, “hệ thống quan điểm lý luận về con
đường cách mạng thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc là
sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết cách
mạng của Mác, Ăngghen, Lênin với triết lý lịch sử
phương Đông trở thành tư tưởng cách mạng chủ yếu
hướng đạo phong trào dân tộc và các tổ chức chính trị
theo khuynh hướng vô sản dẫn đến sự ra đời của các
dân tộc thuộc địa. Người khẳng định: “Trong con mắt
của các dân tộc thuộc địa, trong lịch sử cuộc đời khổ
đau và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin
là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đăng
chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể
nhân loại bị áp bức”8. Điều này cũng có nghĩa là sự
thống nhất giữa mục tiêu giành độc lập dân tộc và
thực hiện các quyền tự do dân chủ của nhân dân là
đặc điểm chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối của Đảng ta. Không có độc lập dân tộc thì
không thể có quyền tự do dân chủ của nhân dân và
ngược lại, không có quyền tự do dân chủ của nhân
dân thì cuộc cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo và tiến hành mất
đi động lực chủ yếu của nó. Nhờ có sự dìu dắt của
Đảng, các tầng lớp nhân dân bị áp bức bóc lột không
chỉ đi theo Đảng để đánh đổ đế quốc Pháp, phong
kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng, làm
cho nước An Nam độc lập mà còn “đem lại mọi
quyền tự do cho nhân dân”9.
Trải nghiệm qua thực tiễn của đất nước trong thời kỳ
Pháp thuộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thấu hiểu
hơn ai hết nỗi đau của người dân sống trong kiếp nô
lệ và Người nhận ra chân lý là quyền và tự do của cá
nhân, trong đó có quyền được hưởng sự công bằng về
pháp luật và sự trợ giúp về mặt pháp lý, chỉ có thể
được thể hiện một cách thực chất nhất khi dân tộc có
được nền độc lập và tự do. Chính Người đã chuyển
hóa một cách tài tình quan điểm về quyền và tự do cá
nhân trong tư tưởng pháp lý tư sản thành quyền của
cái kiếm để chém giết. Bà chém giết đến cả người vô
tội, và nhất là người vô tội”13.
Tuy nhiên, với nhãn quan chính trị và pháp lý sắc
bén, sau khi giành được chính quyền dân chủ nhân
dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm quyền bào
chữa là một trong những quyền tự do cơ bản của
công dân, nên cần thiết phải duy trì tổ chức luật sư cũ
do Pháp thiết lập từ năm 1864, có sửa đổi cho phù
hợp với yêu cầu mới của cách mạng. Trong hoàn
cảnh chính quyền cách mạng non trẻ mới thành lập,
phải chống chọi với thù trong giặc ngoài, thực hiện
nhiều nhiệm vụ quan trọng khác, nhưng chỉ sau 01
tháng 8 ngày kể từ khi công bố Tuyên ngôn độc lập,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày
10-10-1945, trong đó tạm thời cho duy trì các tổ chức
đoàn thể luật sư theo Sắc lệnh ngày 25-5-1930 của
Toàn quyền Đông Dương.
Với việc ban hành Sắc lệnh số 46/SL, Hồ Chí Minh
đã quán triệt chủ nghĩa Mác- Lênin về tính kế thừa
cách mạng, trong đó có sự vận dụng mang tính sách
lược các quy định pháp luật cũ, miễn là nội dung
không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân
chủ cộng hòa. Chính ở khía cạnh này, tư tưởng Hồ
Chí Minh đã phát triển biện chứng ở chỗ Người luôn
phân biệt một cách rành mạch giữa thứ “khai hóa
pháp lý” mang tính nô dịch của chế định luật sư thời
Pháp thuộc, với giá trị tư tưởng pháp lý và nhân
quyền tiến bộ mà Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền Pháp 1789 đã khẳng định.
2.3. Đưa nguyên tắc “bảo đảm quyền bào chữa của
đạo cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân của Đảng
ta. Điều 67 của Hiến pháp năm 1946 quy định:
“Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc
mượn luật sư”. Sau này, Điều 101 Hiến pháp 1959
cũng khẳng định nguyên tắc: “Quyền bào chữa của
người bị cáo được bảo đảm”.
Đây là một trong những quyền tự do cơ bản của công
dân và từ đây, chế định luật sư đã trở thành chế định
Hiến pháp- làm nền tảng cho toàn bộ hoạt động của
luật sư trong chế độ XHCN và có được sự đảm bảo
bởi đạo luật cơ bản của nước nhà và vai trò của luật
sư trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân cũng đã được khẳng định.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã
đặt ra những thách thức “ngàn cân treo sợi tóc” với
chính quyền cách mạng còn non trẻ. Trong giai đoạn
này, một trong những vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta quan tâm là làm thế nào bảo đảm
được các quyền và tự do dân chủ của nhân dân trong
điều kiện chiến tranh? Chế định luật sư trong thời
chiến sẽ được thực hiện như thế nào?
Ngày 18-6-1949, trong điều kiện cuộc chiến tranh
chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn hết sức quyết
liệt, giữa bộn bề công việc của chính quyền cách
mạng, trong khi tổ chức hành nghề luật sư như quy
định trước đây chưa có điều kiện thực tế để hoạt
động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số
69/SL, quy định về chế định bào chữa viên nhân dân:
“Từ nay đến khi nào có thể lệ khác, trước các tòa án
thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại
dụng đầy đủ quyền chọn người bào chữa của mình,
chưa có một “danh sách những người bào chữa” mà
mình có thể lựa chọn. Hơn nữa, việc tổ chức phiên
tòa và xét xử trong điều kiện thời chiến là cực kỳ khó
khăn, “có khi phải xử án ngay trong lòng địch bằng
những hình thức phiên tòa lưu động, lanh lẹ, những
thủ tục đơn giản thích hợp”19. Bối cảnh thực tế đó là
nguyên nhân khách quan dẫn đến việc Chủ tịch Hồ
Chí Minh quyết định “biện pháp tình thế” là cho phép
những người không phải là luật sư, nhưng do bị can
lựa chọn hoặc Chánh án chỉ định được quyền bào
chữa trước Tòa án.
Từ đây, có thể đi đến kết luận rằng, chế định bào
chữa viên nhân dân hoạt động trong thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp và kéo dài cho đến năm
1987, đã kịp thời phát huy tác dụng tích cực của nó
trong việc tham gia và bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân trước Tòa án và đó là nét đặc sắc
chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nghề nghiệp luật sư
trên thế giới.
2.4. Đấu tranh bảo đảm trên thực tế quyền bào chữa
của công dân:
Mặc dù quyền bào chữa của công dân đã trở thành
nguyên tắc Hiến định và tổ chức luật sư- bào chữa
viên nhân dân đã được duy trì và hoạt động, nhưng
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy trong điều kiện
chiến tranh, quyền này không được coi trọng cả về
quan điểm lẫn thực tế từ phía các cơ quan tư pháp,
trong đó nổi lên là việc “chưa nhận thấy một cách sâu
sắc tầm quan trọng của quyền tự do bào chữa trong
một nguyên tắc tố tụng căn bản phải được tôn trọng
và triệt để thực hiện. Xâm phạm đến quyền tự do bào
chữa thì không thể nào thực hiện được các quyền tự
do dân chủ khác, “mặc nhiên thủ tiêu các quyền tự do
đó”. Hơn nữa, chế độ bào chữa là một chế độ trọng
yếu trong tố tụng, giúp cho công tác xét xử tiến hành
được toàn diện và khách quan, xét xử được chính
xác, bênh vực được quyền lợi hợp pháp cho bị can và
bảo vệ pháp luật Nhà nước. Từ nhận thức đó, Bộ Tư
pháp đã ban hành Thông tư số 2225-HCTP ngày 24-
10-1956 khẳng định “nếu bị can không được sử dụng
đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý”
và xác lập nguyên tắc tranh tụng bình đẳng giữa công
tố viên và người bào chữa trong việc làm sáng tỏ sự
việc, mới bảo đảm nguyên tắc tố tụng quan trọng là
“trước khi tuyên án bị can phải được coi như người
vô tội”.
Ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về bảo đảm quyền bào chữa của công dân chính
là ở chỗ coi tư tưởng này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá
trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về luật sư ở
nước ta hiện nay, vạch ra con đường tương lai sáng
sủa và rộng rãi cho nghề nghiệp luật sư phát triển
trong bối cảnh đổi mới của đất nước và hội nhập kinh
tế quốc tế. Không những thế, những giá trị tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta là không thể
thay thế được trong tiến trình cải cách tư pháp hiện
nay, là hạt nhân cho sự nghiệp đổi mới hệ thống
chính trị và là kim chỉ nam cho những định hướng
phát triển đi lên CNXH của đất nước ta.