Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô - một số quan điểm lý luận chủ yếu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VIỆN TRIẾT HỌC LÊ THỊ CHIÊN SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ -
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN CHỦ YẾU

Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TSKH. Lương Đình Hải
HÀ NỘI - 2009.
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 11
Chương1: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC Ở LIÊN XÔ 11

xã hội ở Liên Xô 80
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Có thể nói, một trong những đặc điểm nổi bật nhất của thế kỷ XX là sự
thành công của cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Năm 1922, Liên
bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết được thành lập. Từ một nước tư bản
chủ nghĩa có trình độ phát triển trung bình, bị chiến tranh tàn phá nặng nề lại

những người luôn ủng hộ chủ nghĩa xã hội, trong đó có một số học giả ở Việt
Nam. Những người luôn phản đối chủ nghĩa xã hội được dịp lên tiếng phê
phán, bài xích những khuyết điểm mà Liên Xô đã mắc phải. Họ cho rằng sự
sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũng chính là sự cáo chung của cả hệ
thống xã hội chủ nghĩa nói chung. Vì vậy, thế giới cần tiếp tục con đường phát
triển theo hướng tư bản chủ nghĩa. Những người vốn trung thành với chủ
nghĩa xã hội lại càng hoang mang, mất niềm tin, dao động lập trường tư
tưởng.
Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi Việt Nam đang tăng
cường hợp tác với các nước trên thế giới, nhất là các nước tư bản và từng
bước gia nhập các tổ chức quốc tế, nhiều người cũng nghi ngờ về mục tiêu
xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã đặt ra và nhân dân ta đang tích cực
xây dựng. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay cũng
đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ
quá độ. Muốn vậy, chúng ta phải tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sự sụp
đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, thực chất của sự sụp đổ ấy để rút ra những
bài học kinh nghiệm và tìm ra những cách thức, bước đi, những phương pháp
hợp lý trong việc xây dựng chủ nghĩa ở nước ta đồng thời có thể tránh lặp lại
những thiếu sót mà Liên Xô đã từng mắc phải.
Gần hai thập kỷ qua, sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô đã trở thành đề tài thảo luận sôi nổi được nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước quan tâm. Tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu, họ đã tìm hiểu sự sụp 5

đổ này ở những góc độ khác nhau, với những mục đích khác nhau. Từ góc độ
triết học, chúng tôi cũng quan tâm đến nguyên nhân của sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội ở Liên Xô nhằm tìm ra bản chất của sự sụp ấy để đưa ra được
một số bài học kinh nghiệm lịch sử. Ý nghĩa của việc tìm hiểu những nguyên

sử.
+ Luận án PTS KH Lịch sử: Nguyên nhân và tác động của sự sụp đổ
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô tới tiến trình cách mạng thế giới hiện nay của
Ngô Hoan, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 1995). Vì đây là
một luận án khoa học lịch sử nên tác giả đã tiếp cận nguyên nhân sụp đổ của
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô dưới góc độ lịch sử bằng việc chia ra nguyên nhân
bên trong, bên ngoài; nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp.
+ Các cuốn sách của các học giả vốn là những nhà lãnh đạo, những Đảng
viên Đảng cộng sản Liên Xô như: V.I. Bôndim: Sự sụp đổ của thần tượng:
Những nét chấm phá về chân dung M.X. Goócbachốp, V.A. Métvêđép: Ê
kíp Goócbachốp nhìn từ bên trong, V.Páplốp - A. Lukianốp -V.Griuscốp:
Goócbachốp - Sự kiện tháng Tám nhìn từ bên trong, Víchto Iliukhin: Tổng
thống bị kết tội. Vốn là những người trong cuộc, các tác giả đã đưa ra những
thông tin rất “nội bộ” về diễn biến của sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô và những nguyên nhân “bên trong” của sự sụp đổ ấy.
+ Những cuốn sách viết về chủ nghĩa xã hội như “Chủ nghĩa xã hội từ lý
luận đến thực tiễn” của GS.TS, Lê Hữu Tầng (chủ biên) và “Những vấn đề
lý luận của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam” do PGS.TS Nguyễn Duy Quý và một số bài báo trong các tạp chí, tập
san như: Góp phần tìm hiểu nguyên nhân khủng hoảng của chủ nghĩa xã
hội - TS. Nguyễn Văn Thức (Tạp chí triết học số 3, 1990), Tìm hiểu nguyên
nhân sụp đổ của Liên bang Xôviết - GS.TS Phạm Ngọc Quang (Tạp chí triết
học, 1992), Chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời hay là sự lỗi thời về một cách nhìn
về chủ nghĩa xã hội - TS. Nhị Lê (Tạp chí khoa học xã hội số 18 (9/1998), Vì 7

sao Đảng cộng sản Liên Xô tan rã - Nguyễn Phú Trọng (Tạp chí Cộng sản,
số 4, 1992) … Tuỳ vào mức độ khác nhau, các tác giả cũng bàn đến sự sụp đổ

Xôviết.
- Do sức ép của việc phải chạy đua vũ trang và phải thực hiện nghĩa vụ
quốc tế nặng nề nên nền kinh tế của Liên Xô phải chịu tải trọng nặng quá sức
mình trong cả một thời gian dài, khả năng phục hồi và phát triển không cao
khiến cho khi có những tác động bất lợi thì nhanh chóng bị suy sụp.
- Do Liên Xô luôn bị chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài
nước.
Do xuất phát điểm khác nhau nên những nguyên nhân trên được trình bày
theo mức độ đậm nhạt khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chưa có
cuốn sách hay công trình nghiên cứu nào tập hợp được cùng một lúc nhiều
loại ý kiến của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề này một cách có hệ
thống. Bên cạnh đó, cũng chưa ai dành sự quan tâm xác đáng cho những ý
kiến của những người vốn là một trong những mắt xích quan trọng trong ê-
kíp chính quyền của Đảng và Nhà nước Liên Xô bấy giờ. Nhận thấy điểm
khuyết ấy, chúng tôi tiến hành tổng quan những quan điểm lý luận chủ yếu
bàn về sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quan điểm bàn về sụp đổ
của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô như nguyên nhân, thực chất của sự sụp đổ,
những bài học kinh nghiệm lịch sử Chúng tôi cố gắng tổng quan những
quan điểm của nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau để có một cái
nhìn toàn diện, nhiều chiều về vấn đề này.
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một đề tài rộng lớn. Trong
phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào vấn đề: nguyên nhân, thực
chất của sự sụp đổ và những bài học kinh nghiệm rút ra từ sự sụp đổ của chủ 9

nghĩa xã hội ở Liên Xô. Các quan điểm mà chúng tôi lựa chọn để tổng quan

hội ở Liên Xô. Chúng tôi cũng đã đưa ra những đánh giá về sự sụp đổ ấy để
khẳng định thêm rằng: Sự sụp đổ đó là tất yếu khách quan, song đó chỉ là sự
sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể chứ không phải là sự sụp đổ
của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một hình thái kinh tế - xã hội nói chung.
Điều này góp phần quan trọng vào việc phản bác lại những quan điểm xuyên
tạc về chủ nghĩa xã hội đồng thời củng cố niềm tin cho chúng ta về công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên
cao học các ngành triết học, sử học, chính trị học… và cho những ai quan tâm
đến vấn đề này.
7. Đóng góp mới về khoa học của luận văn.
Luận văn tiến hành tổng quan những quan điểm lý luận chủ yếu về sự sụp
đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, trong đó người viết tiến hành phân tích, so
sánh, tổng hợp những quan điểm đó một cách có hệ thống. Đôi khi, người viết
cũng mạnh dạn trình bày ý kiến của mình về những quan điểm được nêu ra.
Điều đó giúp cho người đọc có thể thấy được những quan điểm khác nhau và
hiểu rõ hơn nguyên nhân, thực chất của sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô.
8. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.

11



1.1.1 Giai đoạn 1917 - 1941.
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã đánh dấu một mốc son lịch sử
trong tiến trình phát triển của nhân loại, khiến chủ nghĩa xã hội từ lý luận đã
trở thành hiện thực. Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời khiến cho chủ nghĩa tư
bản không còn là một hệ thống duy nhất trên toàn cầu.
Cuộc cách mạng tháng Mười cũng đã làm thay đổi căn bản tình hình và
tính chất hoạt động của Đảng cộng sản Nga và các nước thuộc Liên bang
Xôviết. Đảng Cộng sản đã trở thành một Đảng chấp chính của nhà nước xã
hội chủ nghĩa công nông đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời kỳ này,
nước Nga đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách mà nhiệm vụ đầu tiên là
phải tổ chức và quản lý lại nền kinh tế, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ xã hội xã
hội chủ nghĩa.
Với tư cách là người đứng đầu Đảng cộng sản Liên Xô, V.I. Lênin đã
vạch ra mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa của Liên Xô trong những tác phẩm:
Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết, Chính sách cộng sản
thời chiến và đặc biệt là Chính sách kinh tế mới (NEP). Những nét chính
yếu trong mô hình chủ nghĩa xã hội mà Lênin vạch ra cho Liên Xô lúc này là:
Xác định Liên Xô đang bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; thừa
nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu
(cho phép chủ nghĩa tư bản tồn tại dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước);
khuyến khích sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Nhờ những định
hướng đúng đắn đó, Đảng cộng sản Liên Xô đã từng bước đưa đất nước thoát
khỏi những hậu quả nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ nhất và đạt được
những thành tựu rất to lớn.
 Về kinh tế: 13



nền kinh tế quốc dân. Hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa trở thành hệ thống
duy nhất thống trị trong công nghiệp, thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa đã
hoàn toàn bị thủ tiêu. Liên Xô đã xây dựng được một số ngành công nghiệp
mũi nhọn với mức tăng trưởng đáng kể. Điều đó được thể hiện rõ nét qua
bảng thống kê một số sản phẩm công nghiệp của Liên Xô với những số liệu
cụ thể sau:
BẢNG THỐNG KÊ MỘT SỐ SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CỦA LIÊN XÔ
(Giai đoạn 1929 - 1938)
Đơn vị: triệu tấn

Năm 1929
Năm 1938
Than
40,1
132,9
Gang
8,0
26,3
Thép
4,9
18,0
(Nguồn trích: Lịch sử thế giới hiện đại ( 1917-1945), Nxb Giáo dục,
Nguyễn Anh Thái chủ biên)
Dựa vào bảng số liệu trên, chúng ta có thể nhận thấy tốc độ tăng trưởng
của một số ngành công nghiệp nặng của Liên Xô tăng rất nhanh. Chỉ chưa đến
10 năm, ngành than và sản xuất gang tăng hơn 3 lần, ngành thép tăng hơn 4
lần. Sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã làm cho thu nhập
quốc dân đầu những năm 40 tăng 2,1 lần so với những năm 20. Liên Xô từng
bước trở thành một cường quốc công nghiệp xã hội chủ nghĩa với nền công

phản động đã ra sức kích động tầng lớp trung nông, tung tin đồn nhảm, xúi
giục nông dân đứng lên chống chính phủ. Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước đã
nhanh chóng đề ra các biện pháp khắc phục, đưa phong trào tập thể hoá tiếp
tục phát triển.
 Về văn hoá - tư tưởng:
Cùng với công cuộc khôi phục và xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,
Nhà nước Xôviết đã thi hành mọi biện pháp nhằm tiến hành từng bước cuộc 16

cách mạng văn hoá đầy khó khăn. Nhiệm vụ trước mắt là nâng cao trình độ
văn hoá cho nhân dân, đào tạo nhanh chóng đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ
thuật phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Năm 1923,
Hội đả đảo nạn mù chữ ra đời nhằm thanh toán nạn mù chữ trong nhân dân.
Hội đã tổ chức nhiều lớp học lôi cuốn nhiều quần chúng nhân dân tham gia,
kế hoạch xoá nạn mù chữ đã được hoàn thành nhanh chóng. Tiếp đó, Nhà
nước đã tổ chức và xây dựng nhiều trường học, trường dạy nghề. Năm 1932,
chế độ giáo dục bậc tiểu học đã được phổ cập, trình độ dân trí vì thế đã được
nâng cao.
Đời sống văn hoá - tư tưởng của Liên Xô trong thời kỳ này đạt được
những thành tựu đáng kể như từng bước xoá được những tàn dư của chế độ cũ
để lại, nâng cao trình độ học vấn cho các tầng lớp nhân dân, cải thiện đáng kể
nền giáo dục quốc dân, đào tạo được đội ngũ cán bộ phục vụ cho sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó cũng góp phần to lớn trong việc thể hiện
tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. So với chế độ chủ nghĩa tư bản trước đó -
đúng như nhận định của V.I.Lênin - chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã làm được
những điều mà chủ nghĩa tư bản “không bao giờ có được”.
1.2.1. Giai đoạn 1945 - 1970.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân Liên Xô đã đóng một vai trò

ngành công nghiệp quan trọng là: Điện lực: 440 tỉ kw/h (gấp 352 lần năm
1913 và bằng sản lượng điện của bốn nước lớn là Anh, Pháp, Tây Đức, Ý
cộng lại); dầu mỏ: 353 triệu tấn; than: 624 triệu tấn; thép: 121 triệu tấn, vượt
hẳn Mỹ. Nhờ đó, Liên Xô đã trở thành một trong những cường quốc đứng
đầu về tốc độ phát triển công nghiệp.
Ngành công nghiệp quốc phòng của Liên Xô cũng đạt được những thành
tựu to lớn. Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử, đánh dấu
sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật quân sự Xôviết đồng thời phá vỡ
thế độc quyền bom nguyên tử của Mỹ. Tháng 10/1957, Liên Xô đã phóng 18

thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên. Tháng 4/1961, công dân đầu tiên của
Liên Xô - Iuri Gagarin đã bay vào vũ trụ mở ra kỷ nguyên chinh phục vũ trụ
của loài người.
+ Nông nghiệp: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô đã thi hành
đường lối tập trung hoá trong sản xuất nông nghiệp, coi đó là đòn bẩy để phát
triển nông nghiệp và củng cố nông trang. Do nông nghiệp không được ưu tiên
phát triển như công nghiệp nên từng bước lạc hậu. Khoảng cách giữa công
nghiệp và nông nghiệp ngày một gia tăng.
Từ sau năm 1953, Liên Xô đã từng bước áp dụng những chính sách cải
cách trong nông nghiệp với việc thực hiện đường lối khai hoang để nâng cao
diện tích đất gieo trồng nhằm giải quyết một cách cấp bách vấn đề tăng nhanh
sản lượng ngũ cốc. Trong giai đoạn này, Liên Xô đã áp dụng một số biện
pháp trong lĩnh vực nông nghiệp là:
- Nâng cao đáng kể giá cả thu mua nông sản.
- Xoá bỏ nợ nghĩa vụ của các năm trước còn tồn đọng.
- Tăng ngân sách nhà nước cho nông thôn.
- Xoá bỏ thuế kinh tế phụ và nâng mức khởi điểm tính thuế lên 5 lần so

Tháng 3/1953, J.Stalin qua đời, chính quyền nhà nước chuyển sang cho
Malencốp và Bêria. Tuy nhiên, ngay tháng 12/1953, Bêria đã bị xử tử vì tội
tổ chức “đàn áp tập thể” sau khi J. Stalin mất. Đại hội lần thứ XX của Đảng
cộng sản (tháng 2/1956) đã đưa ra cảnh báo về “tệ sùng bái cá nhân và những
hậu quả của nó”.
Tháng 10/1961, tại Đại hội lần thứ XXII Đảng cộng sản Liên Xô, cương
lĩnh mới đã được thông qua. Xuất phát từ chỗ cho rằng chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô đã thắng lợi “hoàn toàn và vững chắc”, đất nước đã bước vào giai
đoạn “xây dựng chủ nghĩa cộng sản”, Đại hội đã đưa ra ba định hướng cơ bản
sau : 20

Thứ nhất, trong lĩnh vực kinh tế: Xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa
cộng sản, phấn đấu đứng đầu thế giới về sản phẩm theo đầu người và đảm bảo
mức sống cao nhất thế giới cho nhân dân.
Thứ hai, trong lĩnh vực chính trị - xã hội: Tiến tới tự quản chủ nghĩa
cộng sản.
Thứ ba, trong lĩnh vực tư tưởng - tinh thần: Xây dựng con người mới xã
hội chủ nghĩa, phát triển toàn diện.
Với ba định hướng đó, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của Liên Xô có
nhiều thay đổi. Trong thời kỳ này, với tư cách là một trong những nước sáng
lập ra Liên Hợp Quốc, Liên Xô đã đề xuất nhiều sáng kiến quan trọng góp
phần vào việc củng cố hoà bình, tôn trọng chủ quyền của các dân tộc và phát
triển sự hợp tác quốc tế. Nhiều sáng kiến của Liên Xô đã trở thành những văn
kiện quan trọng của Liên Hợp Quốc như: Tuyên ngôn về việc thủ tiêu hoàn
toàn chủ nghĩa thực dân và trao trả độc lập cho các quốc gia và các dân tộc
thuộc địa (1960), Tuyên ngôn về việc cấm sử dụng vũ khí hạt nhân (1961),
Tuyên ngôn về việc thủ tiêu các hình thức của chế độ phân biệt chủng tộc

nhập quốc dân giảm 2,5 lần, sản xuất công nghiệp giảm 2,5 lần, sản xuất nông
nghiệp giảm 3,5 lần, thu nhập quốc dân tính theo đầu người giảm 3,5 lần so
với cuối những năm 50, đầu những năm 60 khi thực hiện kế hoạch 5 năm lần
thứ VI (1956 -1960) và kế hoạch 5 năm lần thứ VII (1961 – 1965). Tốc độ
phát triển tụt xuống tới mức báo động đỏ, bắt đầu có những biểu hiện tiền
khủng hoảng. Kế hoạch 5 năm lần thứ XI (1976 - 1980) không được hoàn
thành. Trong lịch sử các kế hoạch 5 năm của Liên Xô, đây là trường hợp đầu
tiên kế hoạch bị phá vỡ. Trong những năm 80, Liên Xô đã không đạt được vị
trí số một thế giới về tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người cũng như
về năng suất lao động. Vì vậy, Liên Xô đã không thể trở thành nước có “mức
sống cao nhất thế giới” như tuyên bố năm 1961.Tình hình giảm sút của nền 22

kinh tế đất nước không chỉ ảnh hưởng tới tâm trạng của nhân dân mà còn gây
ra sự hoài nghi, dao động làm giảm sút uy tín của Đảng và Nhà nước.
 Chính trị - xã hội:
Đầu thập niên 70, trong đời sống chính trị của Liên Xô tồn tại khái niệm
“chủ nghĩa xã hội phát triển”. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến việc nhận
thức về quá trình và kết quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô bởi rất nhiều người cho rằng Liên Xô đã xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội, bước qua thời kỳ quá độ và cần phải tiếp tục tiến đến một chế độ xã
hội khác cao hơn.
Từ nửa sau những năm 70, trong giới văn nghệ sĩ và trí thức xuất hiện
các tư tưởng chống Đảng công khai trong đó có tạp chí “Thế giới mới” khiến
giám đốc của tạp chí A. Trađôpxki bị đuổi việc. Những người có tư tưởng đối
lập đã tập hợp vào một phong trào chung gọi là “Aixiđen” (những người cự
tuyệt hệ tư tưởng nhà nước). Quan điểm của họ là “chống Liên Xô”, “chống
cộng”. Họ không chỉ đơn giản phê phán J. Stalin mà còn đấu tranh chống chủ

Tây Đức

1 490
1 515
1 356
1 058

502
565

135
135
88
88

42
52
(Nguồn trích: Điều tra kinh tế Đông và Tây, J. Xniecki)
Qua bảng so sánh trên, chúng ta có thể nhận thấy sự chênh lệch rất lớn
trong việc tiêu thụ năng lượng của khối Xôviết nhất là Liên Xô so với các
nước trong khối Tây Âu. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cả Pháp và Đức đều
bị thiệt hại nặng nề, nền kinh tế bị suy kiệt và phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ.
Tuy nhiên nhờ áp dụng những thành tựu khoa kọc kỹ thuật vào sản xuất, nền
kinh tế của những nước này đã từng bước được phục hồi nhanh chóng. Bởi
vậy, việc tiêu thụ năng lượng chỉ bằng khoảng 1/5 lần của Liên Xô. Việc tiêu
tốn nhiều năng lượng đã cho thấy sự lạc hậu về mặt khoa học kỹ thuật của
Liên Xô so với các nước phương Tây.
Đầu những năm 80, tình hình chính trị của Liên Xô cũng có nhiều diễn
biến phức tạp trong đó một trong những nguyên nhân quan trọng là sự thay
đổi liên tục những lãnh đạo cấp cao trong tổ chức Đảng và Nhà nước. Điều đó

Đảng đã kêu gọi sử dụng tối đa công suất máy móc, tiến hành làm 2,3 đến 4
ca một ngày, củng cố kỉ luật lao động.
Năm 1987, Ban lãnh đạo Liên Xô quyết định thay chiến lược “tăng tốc”
bằng biện pháp “cải tổ”. Tăng tốc trở thành mục đích, còn cải tổ được xem

Trích đoạn Sự tan vỡ của Liên bang Xôviết Về chính trị Về đối ngoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status