ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM THANH TÙNG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO ĐỨC CỦA CHỦ NGHĨA
HẬU HIỆN ĐẠI QUA HAI TRIẾT GIA TIÊU BIỂU
LYOTARD VÀ DERRIDA
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
2.3.1. Giá trị của triết học đạo đức hậu hiện đại chủ nghĩa 70
2.3.2. Hạn chế của triết học đạo đức hậu hiện đại chủ nghĩa 74
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta
không thể không tiếp thu những thành tựu của xã hội hiện đại, song chúng ta
cũng không thể không biết đến những mặt trái của xã hội hiện đại, đặc biệt là
xét trên phương diện những giá trị đạo đức, văn hóa nhân văn, nhằm có được
những biện pháp kịp thời để phòng ngừa và né tránh những hệ quả mà nó
mang lại, đồng thời đưa chúng ta đạt tới mục tiêu cao cả của phát triển xã hội
“dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Tư tưởng triết học đạo
đức của chủ nghĩa hậu hiện đại cung cấp cho chúng ta chính nhãn quan như
vậy về xã hội hiện đại.
Chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism) là một trào lưu văn hóa có nội
dung rất phong phú, ra đời vào những năm 70 thế kỷ XX ở Tây Âu và Bắc
Mỹ, sau đó được phổ biến vào các khu vực khác trên thế giới. Một điều đáng
lưu ý là chủ nghĩa hậu hiện đại có ảnh hưởng, bọc lộ ra ở nhiều lĩnh vực, như
triết học, khoa học, nghệ thuật, thực tiễn xã hội, v.v Nếu tra từ khóa
“postmodernism” trên trang Google, thì sau khoảng 0,05 giây, chúng ta sẽ
thấy khoảng 2.670.000 địa chỉ có liên quan được tìm thấy. Điều này cho thấy
sự quan tâm tới chủ nghĩa hậu hiện đại là rất đáng kể và rất đa dạng.
Trong lĩnh vực triết học, ngay từ khi xuất hiện cho tới nay, chủ nghĩa
hội nhập với thế giới về mọi mặt, chúng ta cần phải tích cực nghiên cứu lý
luận của các trào lưu triết học mới.
Trong buổi làm việc với Hội đồng Lý luận Trung ương ngày 29 tháng 2
năm 2002, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã chỉ rõ: “Đổi mới công tác lý luận,
công tác giảng dạy lý luận là đòi hỏi bức xúc của Đảng. Công tác lý luận phải
gắn với sự hiểu biết lý luận Việt Nam và những vấn đề mới của thế giới, tổng
kết những kinh nghiệm thực tiễn và nghiên cứu khoa học của ta và tiếp thu có
chọn lọc những thành tựu nghiên cứu khoa học của nhân loại; nhận thức đúng 3
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời nghiên cứu để hiểu
biết thực chất các học thuyết ngoài mác xít”.
Có thể khẳng định rằng, đạo đức học hậu hiện đại đã và đang có những
tác động rất lớn đến tới nhân sinh quan, lối sống của nhiều người tại các xã
hội phát triển và các xã hội đang phát triển, nó có những biểu hiện phong phú
trong hoạt động thực tiễn, như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, nghệ
thuật, giải trí, và trên các phương tiện thông tin đại chúng v.v Trong điều
kiện tiếp biến văn hóa toàn cầu, hội nhập ngày một sâu rộng vào đời sống văn
hóa, kinh tế, giáo dục, chính trị toàn cầu như vậy thì quan điểm đạo đức của
chủ nghĩa hậu hiện đại tất yếu có ảnh hưởng ở một chừng mực nhất định đến
nếp sống của không ít người Việt .
Triết học hậu hiện đại nói chung và đặc biệt là tư tưởng đạo đức học
của nó nói riêng chưa được nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc ở ta, do vậy việc tìm
hiểu nó trở thành một nhiệm vụ tất yếu và quan trọng đối với những người
nghiên cứu và giảng dạy triết học.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Tư tưởng triết
hoá. Đây là xã hội hậu công nghiệp” [14, tr.139]. Tiếp theo, tác giả nêu bật
những định hướng giá trị đạo đức cơ bản của tư duy hậu hiện đại và nhấn
mạnh những khác biệt cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại so với chủ nghĩa
hiện đại xét trên phương diện xã hội tính: “Xã hội hậu hiện đại dường như
hợp nhất các đặc điểm của xã hội hiện đại và của xã hội truyền thống, là một
sự tổng hợp độc đáo của chúng. Xã hội hậu hiện đại thay đổi triệt để thái độ
đối với quá khứ, đối với truyền thống, đối với cái "không hiện đại" - chúng
không bị bác bỏ mà lại tích cực tham gia vào thành phần thời hiện đại, giữ
một vị trí xứng đáng trong đó Xã hội hậu hiện đại bao gồm định hướng vào
cái mới khi có tính đến truyền thống; sử dụng truyền thống như tiền đề cho
hiện đại hóa; tổ chức đời sống xã hội theo lối thế tục nhưng lại coi trọng vai
trò của tôn giáo và thần thoại trong lĩnh vực tinh thần; vai trò của cá nhân nổi
bật và đồng thời cũng bằng lòng và sử dụng các hình thức sinh hoạt hiện có;
kết hợp giữa các giá trị thế giới quan và các giá trị công cụ; tính chất dân chủ
của quyền lực nhưng thừa nhận quyền uy trong chính trị; sản xuất có hiệu quả
nhưng hạn chế giới hạn tăng trưởng; dung hợp giữa các đặc trưng tâm lý của
con người truyền thống và con người hiện đại; sử dụng có hiệu quả khoa học
5
khi thực hiện thể chế hoá các tính quy định về mặt giá trị truyền thống cuả sự
lựa chọn xã hội. Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại đối lập với chủ nghĩa hiện
đại trong thái độ của mình đối với xã hội truyền thống, chưa hiện đại hóa
Phương thức tư duy hậu hiện đại không chấp nhận nhiều khuôn mẫu đã hình
thành ở thời đại Khai sáng và trở thành chỗ dựa cho chủ nghĩa hiện đại Chủ
nghĩa hậu hiện đại né tránh thái độ phủ định dữ dội đối với thời trung cổ, tôn
giáo, quyền uy, các nền văn hóa không căn cứ trên những thành tựu phương
Tây, lối sống nông thôn, v.v ” [14, tr.140-141].
Về quan điểm đạo đức học của chủ nghĩa hậu hiện đại của Nguyễn
đại sang thời hậu hiện đại.
Đạo đức học hậu hiện đại (Postmodern Ethics) của Zygmunt Bauman
(Nxb. Blackwell, 1993) làm sáng tỏ ảnh hưởng của nhận thức luận hậu hiện
đại đến đạo đức học, nhấn mạnh việc xây dựng các chuẩn tắc đạo đức được
chủ nghĩa hậu hiện đại gắn liền với hoàn cảnh cụ thể, với thái độ tôn trọng
những sự khác biệt về giá trị đạo giữa các xã hội khác nhau, chú trọng tới tính
cởi mở, thường xuyên cách tân của các chuẩn tắc đạo đức.
Ngoài ra, một lượng tài liệu đáng kể được dành để nghiên cứu nhận
thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại. Đó là các công trình nghiên cứu về lập
trường nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại, như Cuộc sống thí nghiệm:
Kiến tạo xã hội trong các sự kiện khoa học (Laboratory Life: the Social
Construction of Scientific Facts) của Bruno Latour và Steve Woolgar (Nxb.
Princeton University Press, 1986) mô tả phương thức thực hiện công trình
nghiên cứu khoa học, Khoa học như tri thức xã hội: các giá trị và tính khách
quan trong điều tra khoa học (Science as Social Knowledge: Values and
Objectivity in Scientific Inquiry) của Helen Longino (Nxb. Princeton
University Press, 1990) phân tích quan hệ giữa các giá trị xã hội như một bộ
phận của điều kiện nghiên cứu khoa học với tính khách quan của tri thức khoa
học, Kiến tạo hiện thực xã hội (The Construction of Social Reality) của John
Searle (Nxb. The Free Press, 1995) phân biệt các loại kiến tạo xã hội.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung làm sáng
tỏ diện mạo chung của chủ nghĩa hậu hiện đại như một trào lưu triết học có
ảnh hưởng trên thế giới, tuy nhiên tư tưởng triết học đạo đức của nó chưa
được phân tích có hệ thống và chuyên sâu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có mục đích trình bày và phân tích những nội dung cơ bản
trong tư tưởng triết học đạo đức của chủ nghĩa hậu hiện đại.
8
Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn là hệ thống phương pháp
nghiên cứu lịch sử triết học, như văn bản học, phân tích và tổng hợp, thống
nhất giữa lôgíc và lịch sử, nguyên tắc lịch sử, v.v…
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn khái quát những nội dung cơ bản của triết học hậu hiện đại
dựa trên việc phân tích những luận điểm tản mạn của các đại diện triết học
hậu hiện đại.
- Luận văn phân tích và trình bày dưới hình thức cô đọng những nội
dung cơ bản và thực chất của quan điểm đạo đức học hậu hiện đại thông qua
hai đại diện tiêu biểu của nó là Lyotard và Derrida.
- Luận văn đưa ra đánh giá chung về quan điểm đạo đức học của chủ
nghĩa hậu hiện đại.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.
Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa hậu hiện đại.
Chương 2: Tư tưởng triết học đạo đức của Lyotar và Derrida.
9
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
1.1. Những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và tiền đề tư tưởng cho sự
ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại
ra tinh thần phản kháng, phê phán như nền tảng chủ yếu, đã đưa tới chỗ mọi
hình thức sinh hoạt xã hội đều bị “phán xét” dưới ánh sáng của lý tính. Sự liên
kết giữa khoa học với công nghệ đã trở thành công cụ hữu hiệu cho việc nhận
thức và cải tạo thế giới. Song, chính thực tế này đã chia cắt hoàn toàn ba cái
“Đế” (Chân, Thiện, Mỹ) của tồn tại người. Khoa học, chân lý khoa học thay
thế cho chúng (chủ nghĩa duy khoa học).
Thời hiện đại công nghiệp đã làm cho các quan hệ xã hội của cá nhân
trong phạm vi nhà nước dân tộc có được tính chất toàn cầu nhờ quá trình trao
đổi hàng hóa - tiền tệ. Vốn được tạo dựng trên cơ sỏ nhà nước dân tộc, văn
minh phương Tây tạo ra các hình thức mới của thuyết phổ độ toàn thể
(universalism), triển khai “văn minh hóa” (khai hóa), thuộc địa hóa các nền
văn minh khác. Văn hóa thời hiện đại mang đậm tinh thần cách tân, khát vọng
liên tục tạo ra những kết quả mới trong mọi lĩnh vực đời sống của con người.
Các tư tưởng nhân văn, duy lý và tiến bộ lịch sử được đề cao. Thời hiện đại
kế tục tư tưởng Phục hưng về phẩm giá con người, về năng lực tự quyết định
số phận của nó. Lý tính có sứ mệnh nhận thức cấu trúc và trật tự của thế giới
và tạo dựng một trật tự xã hội hợp lý. Xã hội được tổ chức dựa trên tự chủ cá
nhân và các quy tắc hợp lý ở mọi tiểu hệ thống của nó, có định hướng cách
tân không ngừng. Những thành tựu của lý tính trở thành động lực thúc đẩy
tiến bộ của loài người.
Trong hơn 3 thế kỷ tồn tại, thời hiện đại công nghiệp đã đạt được
những thành tựu to lớn, nhân gấp bội lực lượng sản xuất, đáp ứng những nhu
cầu vật chất và tinh thần ngày một đa dạng hơn của con người, góp phần tạo
dựng diện mạo của văn minh nhân loại hiện đại, khẳng định sức mạnh của lý
tính con người như chủ nhân của thế giới tự nhiên và xã hội. Khoa học và
công nghệ căn cứ trên nó đã tạo ra xã hội công nghiệp (hiện đại) cùng với các
xu hướng chủ đạo là chuyên môn hóa, vật chất hóa, cá nhân hóa và hợp lý
(duy lý) hóa. Xã hội công nghiệp đặt niềm tin vào tiến bộ xã hội thể hiện ở tự
lập với chủ nghĩa hiện đại trong thái độ của mình đối với xã hội truyền thống,
chưa hiện đại hóa. Nhân đây phương thức tư duy hậu hiện đại không chấp
12
nhận nhiều khuôn mẫu đã hình thành ở thời đại Khai sáng và trở thành chỗ
dựa cho chủ nghĩa hiện đại. Thời đại hậu hiện đại cố gắng né tránh cái mà các
đại diện của chủ nghĩa hậu hiện đại coi là "chủ nghĩa cực đoan của thời Khai
sáng", cụ thể là những kỳ vọng cải tạo của phong trào Khai sáng và gắn liền
với chúng là "lôgíc thiết kế". Chủ nghĩa hậu hiện đại né tránh thái độ phủ định
dữ dội đối với thời trung cổ, tôn giáo, quyền uy, các nền văn hóa không căn
cứ trên những thành tựu phương Tây, lối sống nông thôn, v.v
Thời hậu hiện đại xuất hiện đã hình thành một khuôn mẫu phản tư mới,
khuôn mẫu này được xem là công cụ hữu hiệu cho việc phê phán những cơ sở
của tư duy duy lý cổ điển. Thời hậu hiện đại phủ định việc sử dụng lý tính
như công cụ trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, v.v , vì
cho rằng, điều đó sẽ đưa tới việc chia cắt hoàn toàn giữa thế giới văn hóa và
thế giới kỹ thuật. Dựa vào các thành tựu của điều khiển học, nó chủ trương
thiết lập mạng lưới giao tiếp ngôn ngữ giữa con người với thế giới và loại bỏ
hệ chuẩn “khách - chủ thể”. Thời hậu hiện đại phê phán dữ dội các lý thuyết
đại tự sự (meta-narratives) muốn đưa ra nhãn quan bao quát về thực tại.
Sự phản tư của thời hậu hiện đại đã triệt tiêu nhiều khuân mẫu của ý
thức hiện đại và đồng thời mở ra hướng tìm kiếm nhãn quan tích cực. Sự phản
tư về việc xóa bỏ mọi thiết kế “đại tự sự” cùng với tương lai không tưởng đặt
ra vấn đề về năng lực của lý tính trong việc tạo điều kiện cho đối thoại giữa
các nền văn hóa khác nhau, giữa các chiến lược diễn ngôn ở các nền văn minh
khác nhau. Đứng trước khủng hoảng của những quan điểm đơn tuyến cổ điển
về tiến bộ lịch sử, đối thoại giữa các nền văn minh khác nhau về không gian
và thời gian trở thành một vấn đề lý luận quan trọng, vì nó động chạm tới vấn
người cần phải ý thức đầy đủ phụ thuộc của mình vào khả năng của sinh
quyển trong việc duy trì sự ổn định và tiếp tục xây dựng cuộc sống theo
nguyên tắc đồng tiến hóa (coevolution). Đó là nội dung chủ yếu của những
chuyển biến đang bắt đầu diễn ra.
Cơ hội khắc phục khủng hoảng toàn cầu của loài người, trước hết, phụ
thuộc không hẳn vào khả năng tổ chức công nghệ của nền văn minh nhân loại,
mà chủ yếu vào diện mạo tinh thần, đạo đức của bản thân con người. Và,
dường như mọi cái đều phụ thuộc vào trình độ phát triển đạo đức của con
người - trình độ mà con người ý thức được thực chất của mệnh lệnh sinh thái
14
đó với tư cách một thành tố của hệ thống đạo đức chung. Nếu lĩnh vực đạo
đức trước kia chỉ bao quát những quan hệ ở bên trong hệ thống “xã hội loài
người”, thì hiện nay, nó đã được mở rộng ra cả những quan hệ “xã hội loài
người - tự nhiên”. Lời răn “Không được sát sinh” đã trực tiếp chuyển sang
những quan hệ ấy, bởi những quan hệ này, khi bối cảnh hình thành là bất lợi,
chúng có thể dẫn đến sự huỷ diệt của loài người trên trái Đất theo đúng nghĩa
của từ này.
Điều nói trên trở thành tâm điểm trong công trình nghiên cứu của
N.I.Moiseev. N.I.Moiseev đặt niềm tin vào con người và ông hy vọng rằng,
con người có khả năng tránh được thảm họa. Theo ông, “để nhận thức sâu sắc
hơn về tương lai của loài người, chúng ta cần phải chuyển từ những vấn đề
sinh thái học và chính trị học sang vấn đề tiến hóa trong thế giới nội tâm của
con người. Đây chính là chiếc chìa khóa để mở ra điều quan trọng nhất - bảo
tồn loài Homo Sapiens trên hành tinh” [9, tr.14]. Điều đó thực sự là như vậy,
bởi chúng ta đang phải trả lời cho một vấn đề nan giải: xét về phương diện
đạo đức, con người ở đầu thế kỷ XXI là gì, con người đó có khả năng nhận
thức được sự bắt đầu của khủng hoảng toàn cầu và tính cấp bách của mệnh
rằng thời hiện đại cùng với tất cả mọi cách tân của mình vẫn là sự kế tục hợp
lôgíc của lịch sử hiện đại. Trên thực tế, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
hiện đại đang chia tay với quá khứ theo những mức độ khác nhau. Chẳng hạn,
nếu các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội biến đổi đã ít nhiều cho thấy sự
xuất hiện của một chất lượng mới, thì quan niệm phi tôn giáo về thế giới vẫn
đang chứng tỏ mức độ khủng hoảng sâu sắc của thời hiện đại. Khủng hoảng
này đã được thể hiện ra như thế nào?
Người ta cho rằng, sự khủng hoảng của thời hiện đại đầu tiên xuất hiện
ở cuối thời Phục hưng. Nhà triết học người Pháp, B.Pascal (1623-1662) đã
đưa ra lời cảnh báo về các mối nguy hiểm của việc đề cao con người một cách
quá mức. Muộn hơn, nhà triết học người Đức, I.Kant (1724-1804) đã chĩa mũi
nhọn của chủ nghĩa phê phán của ông vào việc chống lại sự tự hoài nghi của
lý tính. Vào thế kỷ XIX, nhà triết học người Đan Mạch, S.Kierkegaard (1813-
1855) đã lên tiếng chống lại lôgíc học mang tính phi nhân cách hóa trong học
thuyết Hegel. Còn nhà văn, nhà triết học người Nga, M.Dostoesky (1821-
1882) đã đưa ra tư tưởng về mâu thuẫn của bản tính người, về những miền
sâu bí ẩn của nhân cách. Tư tưởng này của ông được coi là thù địch sâu sắc
16
với quan niệm thế tục về con người vốn đặc trưng cho thời hiện đại. Và, C.
Mác đưa ra tư tưởng về sự tha hóa của con người đối với bản chất xã hội của
nó mà theo đó, con người đứng đối lập với lực lượng thù địch - kết quả hoạt
động lao động của bản thân nó (tư bản). Nhà triết học người Đức, F.Nietzsche
(1844-1900) đã nói một cách khinh miệt về sự “hèn hạ” trên phương diện tinh
thần của con người hiện đại và kêu gọi khắc phục tình trạng này. Vào đầu thế
kỷ XX, xã hội Công nghiệp hậu kỳ đã bị phê phán một cách toàn diện. Về sự
phê phán này, chúng ta có thể kể đến sự phê phán của các nhà triết học lớn,
như Ortega y Gasset, Nietzsche, Spengler, v.v
con người và biến con người hoàn toàn thành khách thể, - “vật hóa” con
người. Theo Fromm, “con người bị xâm chiếm bởi tâm trạng bất an và mong
muốn cống hiến toàn bộ tự do của mình cho mọi kẻ độc tài đủ loại; hay con
người đánh mất tự do, biến mình thành cái đinh vít của cỗ máy: không phải là
con người tự do, mà là người máy được nuôi dưỡng tốt, được ăn mặc đẹp”
[12, tr.210].
Tillich nhận xét rằng, “những bảo đảm được đem lại nhờ các cơ chế
giám sát kỹ thuật một cách có hiệu quả đối với tự nhiên, những phương pháp
giám sát tâm lý đối với cá nhân và việc giám sát sự phát triển nhanh về mặt tổ
chức đối với xã hội, - tất cả những bảo đảm như vậy đều phải trả một giá đắt:
bản thân con người mà tất cả những bảo đảm đó được tạo ra như là những
phương tiện lại trở thành phương tiện bổ trợ cho những bảo đảm ấy” [10,
tr.24].
Từ những quan niệm đó, người ta cho rằng, cái đặc trưng cho nền văn
minh đang “nổi loạn” chống lại văn hóa là những hệ quả xã hội và tinh thần
sau đây: khi bị chuyển hóa thành một thành tố của hệ thống tổ chức phức tạp,
“con người đại chúng” tự thấy mình bất lực và cô độc. Con người đó hướng
đến những giải pháp đơn giản và thái quá, đến bạo lực và “tôn thờ thần
tượng”, khi mà những giá trị đích thực của nó (nhân văn) bị thay thế bằng
những hiện tượng xã hội, như nhà nước, dân tộc, kỹ thuật và thậm chí là thần
thoại (về chủng tộc, dòng họ, v.v ).
18
Với tư cách là cái trực tiếp thù địch với bản nguyên tinh thần trong con
người, “văn hóa đại chúng” đã khuôn mẫu hóa ý thức của con người đại chúng,
khuôn mẫu hóa lối sống, những nhu cầu và lối ứng xử của con người này.
Theo Ortega y Gasset, quá trình “chuyên môn hóa thái quá” đã diễn ra:
người lao động buộc phải trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực rất hẹp, xu
Đánh giá chung về thời đại công nghiệp, chúng ta dễ dàng nhận thấy xã
hội hiện đại đang làm nảy sinh các lực lượng thù địch với bản thân nhân cách
con người. Do vậy, hiện nay, bên cạnh nhiệm vụ giải phóng con người khỏi
sự áp bức bên ngoài, thực tiễn xã hội hiện đại còn đặt ra một cách gay gắt vấn
đề tự do nội tâm của con người. Sự giải phóng con người khỏi áp bức xã hội
chưa hẳn đã giải quyết được vấn đề tự do nội tâm của con người cùng với
toàn bộ dung lượng của nó. Sau khi được giải phóng khỏi xiềng xích của chế
độ áp bức, "con người nhỏ bé" lại bộc lộ khát vọng được giải phóng về mặt
tinh thần ngày một lớn hơn. Khi đó, các mặt đen tối của bản tính người bắt
đầu được xem xét không hẳn từ góc độ nhận thức, mà chủ yếu là từ góc độ
hiệu quả tẩy rửa, làm trong sạch bản tính ấy. Việc im lặng và che đậy sẽ sinh
ra tính hiếu chiến. Ngược lại, việc lôi con người đen tối ra ánh sáng sẽ có khả
năng loại bỏ được sự căng thẳng nội tâm. Thực tế này gắn liền với quá trình
phi thần thánh hoá văn hóa.
Nhận định này cần được làm sáng tỏ. Với những câu hỏi, như “con
người hiện đại là gì?”, “cái gì đang chờ đợi nó?”, trước hết cần phải thừa
nhận rằng, trả lời cho các câu hỏi như vậy không hề đơn giản. Sự nan giải ở
đây không chỉ vì dự báo tương lai bao giờ cũng khó, mà còn vì tính hợp lý
của bản thân các câu hỏi này luôn dẫn đến sự hoài nghi. Theo Chaadaev,
khi một nhà triết học nói ra danh từ “con người”, thì không phải bao giờ
ông ta cũng hiểu mình định nói gì. Sự hoài nghi đó của Chaadaev rất đáng
phải suy ngẫm. Tất nhiên, nếu cho rằng, con người hoàn toàn thuộc về thế
giới xã hội, thì có thể hạn chế số phận của họ một cách tuyệt đối ở bản thân
tính xã hội này. Khi đó, theo F.Fukuyama, thậm chí còn có thể nói đến “sự
cáo chung của lịch sử”.
Theo quan điểm nhân học triết học, những quan niệm như vậy là rất hời
hợt. Thực ra, sau hơn hai thế kỷ tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “con người
là gì?”, tư tưởng triết học phương Tây, mặc dù mắc phải những hạn chế mang
đã lên tiếng chống lại triết học duy lý truyền thống, chống lại xu hướng thống
trị của lý tính, thực chứng, mở ra các hướng mới trong nghiên cứu triết học.
21
Đó là các nhà triết học nổi tiếng như Nietzsche, Wittgenstein, Dewey, Kuhn,
v.v Học thuyết của họ ngay lập tức ảnh hưởng đến quá trình hình thành và
phát triển của triết học hậu hiện đại, đặc biệt là nội dung đạo đức của nó.
Không có điều kiện và khuôn khổ của luận văn không cho phép tìm hiểu tư
tưởng của tất cả các triết gia có ảnh hưởng tới chủ nghĩa hậu hiện đại, chúng
ta dừng lại ở hai triết gia quan trọng nhất trên phương diện này là Nietzsche
và Wittgenstein.
Fridrich Nietzsche (1844 - 1900) là nhà triết học khuấy đảo triết học
hiện đại nhờ định hướng chống chủ nghĩa nguyên giáo (foudamentalism). Tác
phẩm "Tính người, quá có tính người" (1878-1880) của Nietzsche đánh dấu
sự đoạn tuyệt của ông với nhiều ảnh hưởng trước đó và nó kêu gọi đánh giá
lại những giá trị một cách sâu sắc hơn, căn bản hơn đối với toàn bộ thời đại.
Nietzsche đã có đánh giá tiêu cực đối với quan điểm "hai thế giới" đặc
trưng cho nhiều trào lưu triết học, theo đó thì thế giới cuộc sống hiện thực
không dung hợp được với "thế giới cho chúng ta" là thế giới nhận được nhờ
những kết cấu khoa học và triết học. Trên thực tế, theo Nietzsche, thế giới
cuộc sống là một, là toàn vẹn, hơn nữa là nó vĩnh hằng, điều này không biểu
thị tính ổn định của nó mà, ngược lại, giả định dòng chảy, sự sinh thành, sự
quay lại vĩnh cửu. Ông coi cần phải bổ sung quan niệm về nhận thức, về chân
lý, về khoa học cho quan niệm xuất phát này về thế giới.
Theo Nietzsche, cần phải hiểu chân lý là công cụ của cuộc sống, là sự
thích nghi với hiện thực, còn nhận thức là công cụ của quyền lực. Chân lý
được chứng minh bằng bằng tính hữu ích, nhu cầu được đáp ứng, tức bằng
quyền lực tăng lên đối với tự nhiên và đối với người khác. Từ đó, ông rút ra
sạch khỏi con đường sinh thành liên tục của loài người. Cho tới nay, con
đường mà loài người đã trải qua với một chỉnh thể đặc thù, không thuần túy
tự nhiên, là rất ngắn ngủi xét trên quy mô lịch sử. Do vậy, một điều không
đáng ngạc nhiên là loài người đã mắc phải nhiều sai lầm tới mức con người và
loài người không tiến gần tới sự tự nhận thức về bản thân mình, về sứ mệnh
của mình trong quá trình sinh thành vĩ đại, trong vòng luân chuyển vĩnh hằng
của vũ trụ.
Nội dung tư tưởng triết học quan trọng tiếp theo của Nietzsche là chủ
nghĩa hư vô và là việc đánh giá lại giá trị. Nietszche thể hiện là một người
theo chủ nghĩa hư vô cấp tiến và đòi hỏi đánh giá lại một cách triệt để những
23
giá trị văn hóa, triết học, tôn giáo. Nietzsche quy chủ nghĩa hư vô châu Âu về
một số định đề cơ bản mà ông coi việc tuyên bố chúng một cách dữ dội,
không sợ hãi và không giả nhân giả nghĩa là bổn phận của mình. Đó là các
luận điểm sau đây: không còn cái gì là chân thực nữa; Chúa đã chết; không
có đạo đức; mọi thứ đều được cho phép. Nietzsche ông cố gắng quan tâm
không phải tới những lời giáo huấn và những mong muốn mang tính giáo lý
hoá, mà là mô tả tương lai không thể không xuất hiện. Theo niềm tin sâu sắc
nhất của ông, chủ nghĩa hư vô trở thành hiện thực ít nhất là đối với hai thế kỷ
sắp tới. Nền văn hóa châu Âu từ lâu đã phát triển dưới ách thống trị của tình
trạng căng thẳng tăng lên không ngừng, đang đưa nhân loại và thế giới đến
thảm họa. Chủ nghĩa hư vô trở thành dấu hiệu về sự suy thoái hoàn toàn của ý
chí đang chống lại tồn tại. Đây là "chủ nghĩa hư vô của những kẻ yếu đuối".
"Vậy cái gì là xấu xa? - tất cả những gì sinh ra từ sự yếu đuối" [58, tr.42]. Còn
"chủ nghĩa hư vô của những người mạnh mẽ có thể và cần phải trở thành dấu
hiệu về sự lành mạnh hóa, của sự thức tỉnh ý chí mới đến với tồn tại". Nitsê
tuyên bố thật thà rằng, ông có một sự nhạy cảm đặc biệt, lớn nhất đối với dấu