ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN
T¸c ®éng cña toµn cÇu ho¸ ®Õn
truyÒn th«ng hiÕu häc cña d©n téc viÖt nam
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá là hoàn toàn tất yếu. Xu thế toàn cầu
hoá diễn ra trong sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, sự áp dụng rộng rãi các thành tựu công nghệ hiện đại, sự bùng
nổ cách mạng thông tin trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hoá đã có khả
năng bao trùm lên mọi ngõ nhỏ nhất, hẻo lánh nhất, xa xôi nhất của hành
tinh chúng ta. Nó là cầu nối mọi quốc gia, dân tộc, nó phá vỡ rào cản không
gian giữa người với người, giữa các quốc gia với nhau. Thế nhưng, bên
cạnh đó, ta không thể hiểu một cách đơn giản, phiến diện như vậy về toàn
2
cầu hoá. Toàn cầu hoá là một quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn, có tính
chất hai mặt, bao chứa cả các yếu tố tích cực và tiêu cực, cả thời cơ và
thách thức đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt là với các nước đang phát
triển và chậm phát triển.
Dân tộc Việt Nam đang mở cửa đón nhận những cơ hội, những chân
trời mới mà toàn cầu hoá đưa lại cho chúng ta. Chúng ta đã chủ động hội
nhập với khu vực và thế giới, ra nhập các tổ chức khu vực và quốc tế như
ASEAN, APEC, ASEM, WTO… Kết quả của quá trình mở cửa, hội nhập
đã làm thay đổi diện mạo đất nước, đời sống nhân dân được cải thiện, vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Nhưng chúng ta cũng
đang phải băn khoăn rất nhiều về cái được và cái mất khi tham gia hội nhập
vào quá trình đó. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, toàn cầu hoá là cơ hội
để bạn bè quốc tế biết đến Việt Nam với một nền văn hoá lâu đời, là cơ hội
cho nền văn hoá và các giá trị truyền thống của dân tộc được học hỏi, phát
huy. Song, chúng ta cũng lo lắng rằng những thách thức của toàn cầu hoá
sẽ làm biến đổi hệ giá trị truyền thống của dân tộc ra sao?
Toàn cầu hoá có khả năng làm năng động hoá các giá trị truyền
thống của dân tộc, phát huy và kế thừa các giá trị ấy trong bối cảnh mới, bộ
mặt mới của dân tộc. Toàn cầu hoá cũng có khả năng đưa các giá trị truyền
thống của cha ông trong quá khứ về phục vụ cho đất nước ở hiện tại và
tin, sách báo khác nhau. Trong đó, trước tiên phải nói đến thông điệp mà
Thomas Friedman - tác giả của hai cuốn sách nổi tiếng “Chiếc Lexus và cây Ô
liu” và “Thế giới phẳng” - đã đưa đến cho tất cả chúng ta. Trong hai cuốn
sách, tác giả đã đưa ra một nhận định mới mẻ và táo bạo rằng toàn cầu hóa là
một thế lực không gì ngăn cản nổi, được thúc đẩy bởi những bước tiến dài
trong các lĩnh vực công nghệ, truyền thông, tài chính… Đó là quá trình thế
4
giới dường như “phẳng ra”. Thomas Friedman đã dùng những hình ảnh rất
độc đáo và thú vị để nói về quá trình toàn cầu hóa. Trong các cuốn sách của
mình, ông đã trình bày những vấn đề toàn cầu hóa hết sức súc tích và sinh
động. Ông trình bày những vấn đề khô khan khó hiểu đó một cách sáng sủa,
dí dỏm để giúp chúng ta lĩnh hội một cách dễ dàng.
Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đã có nhiều công trình bàn đến
toàn cầu hóa và các tác động của nó đối với đất nước. Công trình “Toàn cầu
hóa - Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu” của tập thể
tác giả Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Xuân Sầm (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001), đã tập hợp những bài viết về phương pháp luận,
phương pháp tiếp cận vấn đề toàn cầu hóa; đi vào khái niệm, bản chất,
nguồn gốc, tính tất yếu của toàn cầu hóa. Từ đó, các tác giả chỉ ra những
thuộc tính, tính hai mặt của toàn cầu hóa và những vấn đề đặt ra đối với các
nước đang phát triển trong quá trình hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa
hiện nay.
Công trình “Toàn cầu hóa - cơ hội và thách thức đối với các nước
đang phát triển” của Đường Vinh Sường (Nxb. Thế giới, 2004), là công
trình nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phân tích quá trình phát triển,
những đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa kinh tế, những cơ hội và thách
thức đặt ra với các nước đang phát triển và liên hệ với Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới.
Hai tác giả Lê Hữu Nghĩa và Lê Ngọc Tòng đã đồng chủ biên cuốn
Thế giới, Hà Nội, 1999), đã đi tìm những giá trị truyền thống trong con người
Việt Nam hiện đại, đi tìm mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại đặc biệt
trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cũng với tinh thần
đó, tập thể tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý với
6
công trình “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) đã phản ánh rõ
những nét cơ bản về giá trị và giá trị truyền thống được thể hiện trong mối
quan hệ giữa văn hóa truyền thống với sự phát triển. Trong đó, các tác giả
nhấn mạnh vị thế chủ thể của văn hóa nội sinh trong hội nhập, khai thác các
giá trị, những yếu tố tích cực của Nho giáo Việt Nam phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Truyền thống hiếu học của dân tộc đã được nghiên cứu ở rất nhiều
công trình cũng như các bài báo, tạp chí, trong đó phải kể đến tác giả
Nguyễn Thế Long trong bộ công trình nghiên cứu về “Truyền thống gia
đình và bản sắc dân tộc Việt Nam” đã dành tập hai để nói về “Truyền
thống hiếu học và tôn sư trọng đạo” (Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,
2003). Ở đây, tác giả đã tập hợp rất nhiều bài viết về truyền thống hiếu học
và tôn sư trọng đạo, truyền thống ấy đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa
truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Công trình “Truyền thống tôn sư trọng đạo” (Nxb. Trẻ, Tp.HCM,
1998) của tác giả Hứa Văn Ân và tập thể các tác giả đã “trao đổi về truyền
thống tôn sư trọng đạo xưa và nay”, men theo những chặng đường khác
nhau của lịch sử giáo dục Việt Nam để hiểu được những tư tưởng, tình
cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của cộng đồng
người Việt với việc học hành, thi cử trong tiến trình lịch sử của nền giáo
dục nước nhà.
Đối với nước ta hiện nay, cùng với việc đổi mới đất nước, mở cửa giao
lưu hợp tác, chúng ta đón nhận xu thế toàn cầu hoá không phải đã có một sự
Nam và sự biến đổi của giá trị đó trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Luận
văn chỉ rõ sự tác động của toàn cầu hoá đối với truyền thống hiếu học, từ
đó đề ra các giải pháp nhằm gìn giữ, kế thừa và phát huy truyền thống hiếu
học của dân tộc.
8
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Phân tích đặc điểm của toàn cầu hóa và tác động của toàn cầu hóa
đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích diện mạo của truyền thống hiếu học Việt Nam và tác
động của toàn cầu hóa đến truyền thống hiếu học của dân tộc. Trên cơ sở
đó, đề ra phương hướng và các giải pháp phát huy truyền thống hiếu học
của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở làm rõ sự tác động của toàn cầu hóa đến truyền thống
hiếu học của dân tộc, luận văn nghiên cứu việc phát huy truyền thống hiếu
học của dân tộc trong toàn cầu hóa.
Luận văn nghiên cứu vấn đề toàn cầu hóa một cách chỉnh thể và khái
quát, nhằm làm rõ hơn thực chất của quá trình toàn cầu hóa. Từ đó, làm rõ
sự tác động của toàn cầu hóa đến truyền thống hiếu học của dân tộc Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cở sở lý luận của luận văn là những quan điểm lý luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước; tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng
thời, luận văn cũng kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó.
Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, logic - lịch sử…
6. Đóng góp mới của luận văn
Ở luận văn này, tác giả tiếp tục nghiên cứu các vấn đề đặt ra đối với
HIẾU HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Về vấn đề toàn cầu hóa
1.1.1. Khái niệm và những nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa
* Khái niệm toàn cầu hóa
Từ nửa sau thế kỷ XX cho tới nay, thế giới bước vào thời kỳ phát
triển đột biến với rất nhiều sự kiện nổi bật. Một trong những nguyên nhân
đưa đến sự thay đổi ấy là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
(KH&CN) và sự ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng đó vào
cuộc sống. “Nếu cuộc cách mạng KH&CN là một trong những khởi phát
dẫn tới chủ nghĩa tư bản hiện đại thì cũng chính cuộc cách mạng đó đã làm
xuất hiện xu thế toàn cầu hóa chi phối sự phát triển, biến đổi của thế giới
đương đại ngày nay” [10, 79].
Vài thập niên gần đây, thuật ngữ toàn cầu hóa được nhắc đến rất phổ
biến. Toàn cầu hóa trước hết là toàn cầu hóa kinh tế, nhưng ảnh hưởng và
tác động của nó thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở
từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu. Thật ra, quá trình này đã được dự
báo từ rất sớm, khi chủ nghĩa tư bản mới ra đời. Lúc đó, người ta gọi là quá
trình quốc tế hóa. Cách đây 150 năm, C.Mác và Ph.Ăngghen trong “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” đã viết: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường
thế giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương, dân tộc
vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc
phổ biến của các dân tộc” [58, 543 - 602]. Quá trình đó không ngừng phát
triển và hiện nay, nó được gọi bằng cái tên mới: Toàn cầu hóa.
Khái niệm toàn cầu hóa (globalization) xuất hiện lần đầu vào năm
1961, trong từ điển của Anh và được phổ biến từ khoảng cuối thập niên
11
1980 trở lại đây. Người ta lĩnh hội, lý giải và đánh giá nó theo các cách
khác nhau, thậm chí là loại trừ nhau. Vậy, toàn cầu hóa là gì và đâu là nội
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên nhiều mặt của đời sống xã
hội. Ban thư ký Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng toàn cầu
hóa là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã
hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối [Xem 02].
Theo tác giả Lê Hữu Nghĩa, “toàn cầu hóa xét về bản chất là quá
trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn
nhau, phụ thuộc nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên
toàn thế giới” [64, 7].
Báo cáo phát triển con người năm 1999 của UNDP cho rằng: “Toàn
cầu hóa không mới, nhưng thời đại hiện nay của toàn cầu hóa có những
tính chất riêng biệt. Sự hẹp lại của không gian, sự biến mất của các đường
biên giới đang gắn kết cuộc sống của mọi người lại với nhau một cách sâu
sắc, chặt chẽ và trực tiếp hơn bao giờ hết” [64, 123].
Theo quan niệm hẹp, cốt lõi của toàn cầu hóa hiện nay là toàn cầu
hóa kinh tế. Đó thực chất là quá trình mở rộng thị trường và lôi kéo vào đó
tất cả các tập đoàn sản xuất, các chính phủ, các nước giàu và cả những
nước nghèo. Quá trình ấy diễn ra theo xu thế phương thức sản xuất và sinh
hoạt của con người thay đổi theo sự xuất hiện tri thức, trí tuệ.
Theo quan niệm của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD):
“toàn cầu hóa là sự vận động tự do của các yếu tố sản xuất nhằm phân bổ
tối ưu các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu, rút ngắn khoảng cách kinh tế
giữa các nước và khu vực” [64, 123].
Trong cuốn sách “Chiếc Lexus và cây Ôliu”, tác giả Thomas
Friedman cho rằng toàn cầu hóa “là một sự hội nhập không thể đảo ngược
giữa những thị trường, quốc gia và công nghệ tới mức chưa từng có - theo
phương cách tạo điều kiện cho các cá nhân, tập đoàn công ty và nhà nước
13
vươn quan hệ đến nhiều nơi trên thế giới xa hơn, sâu hơn với chi phí thấp
hơn bao giờ hết…” [33, 46].
T.Friedman dùng thuật ngữ mang tính hiện đại hơn là “Toàn cầu hóa 1.0,
2.0, 3.0”. Các quá trình này là quá trình hội tụ dần từng nhân tố làm phẳng
thế giới (theo ông có 10 nhân tố và 3 sự hội tụ). Toàn cầu hóa 1.0 làm thế
giới co lại từ kích thước lớn về kích thước trung bình (từ năm 1492 - 1800).
Khi đó, các quốc gia và chính phủ kết nối lại với nhau, thúc đẩy sự hội
nhập toàn cầu. Toàn cầu hóa 2.0 (từ năm 1800 - 2000), làm thế giới co lại
từ cỡ trung bình xuống cỡ nhỏ, mở đầu cho nền kinh tế toàn cầu. Toàn cầu
hóa 3.0 từ khoảng năm 2000, làm thế giới co xuống cỡ siêu nhỏ, san bằng
sân chơi toàn cầu, làm phẳng thế giới và trao quyền cho các cá nhân từ mọi
ngõ ngách trên thế giới.
Thế nhưng có một sự thật là thế giới phẳng ra đối với tất cả mọi
người, với tất cả mọi lĩnh vực trên toàn thế giới hay chỉ phẳng ra đối với
một số người, một số lĩnh vực, một số quốc gia tồn tại lênh đênh trên mặt
nước mà “các làn sóng” đã nhấn chìm những phần gồ ghề “không phẳng”?
Rõ ràng, ở đây, toàn cầu hóa là một xu hướng mở rộng quan hệ giữa người
với người trên phạm vi toàn cầu.
Trên cơ sở những quan điểm khác nhau đó, để hiểu toàn cầu hóa một
cách khái quát, chúng tôi cho rằng: toàn cầu hóa là một khái niệm chỉ quá
trình vận động của lịch sử xã hội loài người từ những bộ phận, quốc gia
riêng lẻ và tương đối tách biệt đến những mối quan hệ chặt chẽ, tác động
qua lại và ràng buộc lẫn nhau trong mọi mặt của đời sống xã hội trên
phạm vi toàn cầu mà nền tảng là từ các quan hệ kinh tế.
Tuy nhiên ở đây, chúng ta cần phân biệt toàn cầu hóa với quốc tế hóa
và khu vực hóa. Quốc tế hóa với tư cách là con đẻ và sản phẩm của thời đại
công nghiệp là sự xuất hiện xu hướng tương tác quốc tế phát triển và thâm
nhập lẫn nhau về lợi ích, quan hệ kinh tế và thương mại. Xu hướng này đã
15
có tính chất tích cực và có định hướng rõ ràng ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp. Như vậy, quốc tế
cầu hóa, chúng ta thấy toàn cầu hóa không phải là một sự kiện nhất thời mà
là một xu thế tất yếu, khách quan, phổ biến. Sự xuất hiện của xu thế toàn
cầu hóa nằm ngay trong sự vận động, phát triển của LLSX thế giới dưới tác
động của cuộc cách mạng KH&CN. Nó là một quá trình hợp lôgic của sự
phát triển lịch sử. Cần phải thừa nhận một thực tế là tri thức, khoa học và
công nghệ với tư cách là LLSX trực tiếp, như dự báo của C.Mác, đã trở
thành một nhân tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu không chỉ đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội mà đối với cả những thay đổi về chính trị và phát
triển văn hóa trong thời đại hiện nay. Tuy nhiên, bản thân sự phát triển của
cuộc cách mạng KH&CN hiện đại và việc áp dụng những thành tựu của nó
ở đầu thế kỷ XXI lại đang đe dọa phá hủy hàng loạt ngành sản xuất hiện
vẫn rất cần thiết cho sự sống còn của nhiều người. KH&CN hiện đại cùng
với sự phát triển kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đang đặt con
người trước những vấn đề toàn cầu cấp bách. Trong bối cảnh đó, vai trò
định hướng của triết học với việc nhận thức và giải quyết các vấn đề mà
toàn cầu hóa đặt ra trên mọi phương diện ngày càng trở nên quan trọng và
cấp thiết.
Về phương diện kinh tế, toàn cầu hóa làm gia tăng các mối liên kết
và phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia, tạo nên một sự thay đổi căn bản
các hoạt động kinh tế của con người.
Về phương diện chính trị, toàn cầu hóa dẫn đến những sự biến đổi
nhất định và làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn về mặt chính trị
giữa các nước trên thế giới. Tính chủ động của quá trình dẫn đến toàn cầu
hóa rõ ràng đang thuộc về Mỹ. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà có người
gọi toàn cầu hóa hiện nay là do Mỹ khởi đầu.
17
Về phương diện xã hội, toàn cầu hóa dẫn đến hàng loạt các vấn đề
như: bệnh tật, nghèo đói, an ninh, thất nghiệp, bất bình đẳng, tệ nạn xã hội,
tội phạm quốc tế…
đồng thời cũng là quá trình mở rộng QHSX TBCN trên phạm vi thế giới.
Phân tích bản chất toàn cầu hóa, lại một lần nữa chúng ta phải quán triệt
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa LLSX và
QHSX dưới tác động của cuộc cách mạng KH&CN. Trong thời đại của
chúng ta, cuộc cách mạng KH&CN làm đậm nét hơn những chênh lệch và
bất bình đẳng giữa các quốc gia, nhất là các nước tư bản phát triển với các
quốc gia đang phát triển. Toàn cầu hóa hiện nay dường như là “toàn cầu
hóa TBCN” hay “Mỹ hóa” và thực chất nó cũng là toàn cầu hóa của mâu
thuẫn vốn có giữa LLSX và QHSX về mặt giai cấp, xã hội [10, 161-162].
Đặc trưng thứ hai, nhịp độ, phạm vi và các lĩnh vực của toàn cầu hóa
hiện nay đang phát triển rất mạnh mẽ cả chiều rộng và chiều sâu. Từ kinh
tế, toàn cầu hóa đã lan sang cả lĩnh vực chính trị, xã hội và văn hóa, làm
thay đổi mọi mặt của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Từ góc độ “đối thoại giữa các nền văn hóa” với một góc nhìn từ Việt
Nam, tác giả Phạm Xuân Nam đã nêu ra những đặc trưng của toàn cầu hóa hiện
nay: Thứ nhất, các tổ chức liên kết khu vực và quốc tế về kinh tế, văn hóa, cũng
như về các lĩnh vực khác ngày càng có vai trò quan trọng. Thứ hai, đó là sự trỗi
dậy của các nước đang phát triển trong một trật tự thế giới mới đa cực. Đặc biệt
là sự vươn lên mạnh mẽ trong thời gian gần đây của một số nước như Ấn Độ,
Trung Quốc, của những con rồng châu Á… Thứ ba, cuộc cách mạng KH&CN
hiện đại là động lực thúc đẩy kinh tế tri thức ra đời, cái văn hóa và cái kinh tế
đan quyện vào nhau, trí tuệ trở thành yếu tố ngày càng quan trọng để tạo nên
diện mạo của một sản phẩm, một con người, một quốc gia.
Như vậy, nghiên cứu lịch sử toàn cầu hóa từ khi ra đời cho đến nay,
chúng ta phải thừa nhận một điều đó là xu thế tất yếu, khách quan, theo
19
đúng quy luật phát triển của xã hội loài người, một quá trình phát triển biện
chứng với rất nhiều giai đoạn phát triển khác nhau.
* Những nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa
chính lao động trí tuệ của mình. Như vậy, KTTT đã đánh dấu một bước
phát triển về chất trong quá trình con người vận dụng tri thức của mình vào
hoạt động lao động sản xuất. Đặc biệt, trong nền kinh tế tri thức với sự
bùng nổ và phát triển của các xa lộ thông tin, sự xuất hiện của mạng toàn
cầu - “web” - cho phép người ta giao lưu, hợp tác và tìm hiểu về nhau một
cách dễ dàng hơn, cạnh tranh cũng trở nên khốc liệt hơn. Thế giới rộng lớn
dường như không còn khoảng cách về không gian, thậm chí cả ngôn ngữ,
lối sống và văn hóa. Thế giới bị co lại về cỡ siêu nhỏ và trở nên “phẳng” ra
với một bộ phận dân cư trên toàn cầu.
Thứ ba, nhân tố chính trị - xã hội: Toàn cầu hóa mặc dù mang tính
khách quan song không thể không chịu sự chi phối của những quốc gia tư
bản chủ nghĩa lớn mạnh. Thời kỳ lịch sử nào cũng có một giai cấp đứng ở
vị trí trung tâm, có ảnh hưởng quyết định đến mô hình thể chế chính trị, xã
hội. Trong thời đại hiện nay, vai trò ảnh hưởng to lớn ấy thuộc về giai cấp
tư sản, bởi họ đang nắm giữ phần lớn của cải công nghệ và quá trình sản
xuất của xã hội. Các nước muốn phát triển kinh tế phải tham gia vào sân
chơi chung và phải tuân theo những luật chơi chung do các nước lớn đặt ra.
Trong bối cảnh đó, các nước không thể khép kín, cô lập hay bảo thủ trong
đường lối phát triển mà tất cả phải đi theo hướng đa phương hóa, đa dạng
hóa trong đường lối đối ngoại, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hướng tới
một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển. Toàn cầu hóa có thể được coi
là một bước tiến lớn lao của loài người và chúng ta phải tìm cách để đón
nhận, thích nghi với toàn cầu hóa vì mục tiêu phát triển đất nước, vì lợi ích
lâu dài của dân tộc.
21
1.1.2. Tính hai mặt của toàn cầu hóa
Là sản phẩm của sự phát triển trình độ của LLSX, quá trình toàn cầu
hóa đương nhiên sẽ có cả những tác động tích cực và tiêu cực đến xã hội
loài người. Toàn cầu hóa sẽ liên kết thế giới lại dưới những biến đổi trong
quản lý. KH&CN sẽ có điều kiện tốt nhất để được nghiên cứu, chuyển giao,
phổ biến và vận dụng trong quá trình sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển,
tăng năng suất lao động và tạo ra một khối lượng sản phẩm khổng lồ, đáp
ứng nhu cầu mọi mặt của con người.
Thứ hai, khi tham gia vào toàn cầu hóa, tất cả các nước phải điều chỉnh
cơ cấu sản xuất cho hợp lý, sử dụng tốt nhất các nguồn tài nguyên, đặc biệt là
nguồn lực con người. Đó là yếu tố đưa đến sự phân công lao động một cách
hợp lý trên phạm vi toàn thế giới. Tất cả các quốc gia đều tham gia vào quá
trình sản xuất toàn cầu. Mỗi nước sẽ phát huy lợi thế riêng, hình thành nên
quá trình chuyên môn hóa sản xuất trên thế giới. Đồng thời, qua đó sẽ thúc
đẩy xu hướng xích lại gần nhau, hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia. Tuy
nhiên, mỗi quốc gia sẽ đón nhận những cơ hội của toàn cầu hóa theo cách
riêng và phù hợp với sự phát triển của mình.
Các nước phát triển được hưởng lợi nhiều nhất từ quá trình toàn cầu
hóa. Đó là cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa; cơ hội đổi mới,
nâng cấp công nghệ thông qua việc bán công nghệ lỗi thời cho các nước
khác; cơ hội thu được những nguồn lợi khổng lồ thông qua việc đầu tư trực
tiếp cả vốn, cả khoa học, công nghệ từ đó có thể áp đặt và nâng tầm ảnh
hưởng đối với các nước yếu hơn.
Các nước đang phát triển cũng có cơ hội thuận lợi cho sự phát triển
nhờ việc tham gia vào quá trình toàn cầu hóa. Đó là khả năng và cơ hội
tranh thủ được vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển
để khai thác tiềm năng của mình. Các nước này, từ cơ hội học tập và ứng
dụng thành tựu KH&CN sẽ có điều kiện phát triển LLSX nhanh, hiện đại
23
và nâng cao năng lực của nền kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo
hướng thích nghi với yêu cầu của thị trường hiện đại và phát huy, tranh thủ
được các lợi thế cho mình. Chính vì vậy mà trong thời gian gần đây, chúng
ta được chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ và nhanh chóng của các nền kinh
trị văn hóa nhân loại. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848),
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói về vai trò của thành tựu tinh thần của dân
tộc: “thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản
chung của tất cả các dân tộc khác. Tính đơn phương và phiến diện của dân
tộc ngày càng không tồn tại được nữa và từ những nền văn hóa dân tộc và
địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở nền văn hóa chung toàn thế
giới… Một nước có thể và phải học hỏi kinh nghiệm lịch sử của dân tộc
khác” [58, 602]. Tuy nhiên, quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến giá trị
chung, giá trị nhân loại và thừa nhận sự khác biệt giữa các nền văn hóa.
Đó là những mặt tích cực của toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay,
những yếu tố đó tác động đến tất cả các lĩnh vực và tất cả các nước trên thế
giới. Điều quan trọng là việc nhận thức và tranh thủ những yếu tố tích cực
ấy cho phù hợp với điều kiện của mỗi một quốc gia, mỗi dân tộc.
* Mặt tiêu cực của toàn cầu hóa
Bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng bao chứa cả những mặt tiêu cực, đặt
ra rất nhiều nguy cơ, thách thức cho các nước khi tham gia vào toàn cầu
hóa nhất là đối với những nước nghèo và chậm phát triển.
Trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa thu hút tất cả các nước vào
guồng máy kinh tế chung của các khu vực hay thế giới, nhờ vậy các nước
nghèo có cơ hội sử dụng các khả năng để phát triển và mở rộng các quan hệ
kinh tế. Song, chính trong quá trình này lại chứa đựng những thách thức và
hàng loạt nguy cơ được biểu hiện trên những mặt sau đây:
Trước hết là nguy cơ tụt hậu nhất là tụt hậu về kinh tế vì bị áp đặt
bởi những quy định từ các nước lớn. Các nước nghèo, kém phát triển nếu
không nhanh chóng tạo ra được thiết chế kinh tế tương hợp với thiết chế