TRNG I HC NGOI THNG
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI
KHO LUN TT NGHIP TI:
NHNG QUYN THNG MI TRONG BI CNH
TON CU HểA - IU KIN V KH NNG PHT TRIN
VIT NAM TRONG THI GIAN TI
H v tờn sinh viờn
Lp
Khoỏ
Giỏo viờn hng dn
: Nguyễn Thị Hải Hà
: Anh 7
: 44
: PGS.TS. Phạm Duy Liên
1.3.2. Tiêu chuẩn hóa quy trình đồng bộ 21
1.3.3. Lựa chọn đối tác phù hợp 22
1.3.4. Nỗ lực tiếp thị 23
1.3.5. Chiến lược dài hạn 24
1.4. KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA Ở MỘT SỐ NƢỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG KHU VỰC 24
1.4.1. Hoa Kỳ 24
1.4.2. Singapore 30
1.4.3. Thái Lan 33 Chƣơng 2 : ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN
NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN
TỚI 39
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 39
2.1.1. Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam 41
2.1.2. Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp nước
ngoài tại Việt Nam 45
2.2. NHỮNG TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 49
2.3. ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM 54
2.3.1. Điều kiện pháp luật 54
2.3.2. Điều kiện kinh tế 58
2.3.3. Điều kiện chính trị 62
2.3.4. Điều kiện văn hóa, xã hội 64
2.3.5. Hội thảo và triển lãm về franchise 66
2.4. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG
Diễn đàn kinh tế khu vực châu Á -
Thái Bình Dương
ASEAN
Association of South East Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
ASEM
The Asia-Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á-Âu
FLA
Franchising and Licensing
Association
Hiệp hội Nhượng quyền Singapore
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
IES
International Enterprise
Singapore
Hiệp hội các doanh nghiệp quốc tế
Singapore
IMF
International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
ITPC
Investment & Trade Promotion
Uniform Franchise Offering
Circular
Tài liệu công bố về nhượng quyền
thương mại cho khách hàng
UNCTAD
United Nations Conference on
Trade and Development
Hội nghị Thương mại và Phát triển
của Liên hợp quốc
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
WFC
World Franchise Council
Hội đồng Nhượng quyền thương
mại thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại thế giới iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Ưu điểm của Franchise 16
Bảng 1.2: Yếu tố cơ bản tạo nên tính đồng bộ 22
Bảng 1.3: Franchise Business Economic Outlook, 2006-2009 26
Bảng 1.4: Mười hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ 29
Bảng 1.5: Doanh thu nhượng quyền thương mại ở Thái Lan (triệu USD) 38
trong lĩnh vực họat động kinh tế xã hội của Việt Nam nói chung, lĩnh vực nhượng
quyền thương mại nói riêng đều có những biến chuyển rõ rệt. Đặc biệt, sự kiện Việt
Nam chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới WTO (11/1/2007)
đã tạo điều kiện thuận lợi cho phương thức này phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, bắt kịp
xu thế thời đại.
Cho đến nay nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về nhượng quyền thương
mại vẫn chưa thực sự sâu sắc và cặn kẽ. Do vậy, để hoạt động nhượng quyền thương
mại đi vào hoạt động một cách quy củ, bài bản và chuyên nghiệp, các doanh nghiệp
Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng về mô hình này trước khi áp dụng, phải xuất
phát từ thực tiễn tìm hiểu và nghiên cứu để từ đó tìm ra giải pháp thúc đẩy hoạt động
này phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Người viết đã mạnh dạn chọn đề tài: " Nhượng quyền thương mại trong bối
cảnh toàn cầu hóa: điều kiện và khả năng phát triển ở Việt Nam trong thời gian tới"
2
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu những nhân tố giúp
hoạt động nhượng quyền thương mại thành công kết hợp với thực tiễn triển khai ở Việt
Nam và khả năng phát triển trong thời gian tới, người viết mạnh dạn nêu ra một số giải
pháp thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hóa.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung vào việc tìm hiểu một số kiến thức cơ bản về nhượng quyền
thương mại cũng như kinh nghiệm xây dựng và phát triển mô hình này của một số
nước trên thế giới và trong khu vực. Từ đó, áp dụng vào tìm hiểu thực trạng hoạt động
nhượng quyền thương mại Việt Nam cũng như rút ra bài học cho sự phát triển của
nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Đặc biệt, người viết chú trọng tới việc nghiên
cứu những điều kiện và khả năng phát triển của phương thức này tại Việt Nam trong
bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Chƣơng 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ
NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
1.1. TOÀN CẦU HÓA VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN
THƢƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm
Toàn cầu hóa là một quá trình lịch sử, là kết quả sáng tạo của con người và tiến
bộ công nghệ. Thuật ngữ toàn cầu hóa (tiếng Anh là Globalization) xuất hiện lần đầu
tiên trong từ điển của Anh năm 1961, và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập
niên 1980 trở lại đây. Tuy nhiên, cho đến hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về
khái niệm này, song nói chung, có hai cách hiểu toàn cầu hóa theo nghĩa rộng và theo
nghĩa hẹp
Toàn cầu hóa theo nghĩa rộng:
Theo quan niệm rộng, toàn cầu hóa được xác định như một hiện tượng hay một
quá trình trong quan hệ quốc tế, làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên
nhiều mặt của đời sống xã hội( từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi
trường ). Ban thư ký của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng “ toàn cầu
hóa là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị
và các hậu quả của sự phân phối” [19,tr.64 ]. Còn theo tác giả Lê Hữu Nghĩa “toàn
cầu hóa xét về bản chất là một quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những
sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã
hội của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới” [7,tr.56 ].
Như vậy, theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa có thể hiểu là một quá trình, theo đó sự
ảnh hưởng cũng như sự tác động mọi mặt của đời sống từng quốc gia, từng nước trở
nên không có giới hạn, không bị ràng buộc bởi khoảng cách lãnh thổ, địa lý, khu vực,
5
vùng hay từng nước. Đối với toàn cầu hóa theo nghĩa rộng, những gì được gọi là giới
hạn, rào cản hầu như dần dần đều mất tác dụng.
Toàn cầu hóa theo nghĩa hẹp
- Mục đích của toàn cầu hóa là nhằm phát triển kinh tế, do đó toàn cầu hóa kinh tế
đóng vai trò chủ yếu trong quá trình toàn cầu hóa.
1.1.2. Sơ lƣợc quá trình hình thành của toàn cầu hóa
Quan niệm cổ điển cho rằng toàn cầu hóa bắt đầu vào khoảng thế kỷ 15 sau khi
có những cuộc thám hiểm hàng hải quy mô lớn, đánh dấu bởi sự kiện Christopher
Columbus đi tìm Ấn Độ nhưng lại phát hiện ra Châu Mỹ. Theo Thomas Friedman, tác
giả cuốn "Thế giới phẳng" toàn cầu hóa 1.0 ( hay là làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên) kéo
dài từ 1492 khi Columbus dương buồm, mở ra sự giao thương giữa Thế giới Cũ và Thế
giới Mới cho đến khoảng 1800. Trong Toàn cầu hoá 1.0 tác nhân then chốt của sự thay
đổi, động lực thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu là sức mạnh của mỗi quốc gia.
Trong kỉ nguyên này, các nước và các Chính phủ (thường được tôn giáo hay chủ nghĩa
đế quốc hay sự kết hợp của cả hai xúi giục) đã dẫn đường phá bỏ các bức tường và nối
chặt thế giới lại với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu.
Kỉ nguyên lớn thứ hai, Toàn cầu hoá 2.0, kéo dài từ 1800 đến 2000, bị gián đoạn
bởi Đại Khủng hoảng và Chiến tranh Thế giới I và II. Trong Toàn cầu hoá 2.0, nhân tố
then chốt của thay đổi, động lực thúc đẩy hội nhập toàn cầu là các công ty đa quốc gia.
Các công ty đa quốc gia này tiến hành toàn cầu hoá vì thị trường và lao động, đầu tiên
do sự bành trướng của các công ty cổ phần Hà Lan và Anh và Cách mạng Công nghiệp
làm mũi nhọn. Trong nửa đầu của thời đại này, hội nhập toàn cầu được cấp lực bởi sự
sụt giảm chi phí chuyên chở, nhờ động cơ hơi nước và đường sắt, và trong nửa sau bởi
7
sự sụt giảm các chi phí liên lạc - nhờ sự phổ biến của điện tín, điện thoại, PC, vệ tinh,
cáp quang, và phiên bản ban đầu của World Wide Web (WWW). Chính trong thời đại
này mà chúng ta thực sự thấy sự ra đời và trưởng thành của một nền kinh tế toàn cầu,
theo nghĩa rằng đã có sự dịch chuyển đủ của hàng hoá và thông tin từ lục địa này sang
lục địa khác để ở đó có một thị trường toàn cầu, với sự chênh lệch giá về các sản phẩm
và lao động.
Vào khoảng năm 2000 chúng ta đã bước vào một kỉ nguyên mới hoàn toàn: Toàn
phát triển và xã hội hoá các lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao (nửa
đầu thế kỷ XX, GDP thế giới tăng 2,7 lần, nửa cuối thế kỷ tăng 5,2 lần). Toàn cầu hoá
góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt tăng mạnh tỷ trọng các sản phẩm
chế tác (hiện chiếm 21,4%) và các dịch vụ (hiện đã chiếm đến 62,4%) trong cơ cấu
kinh tế thế giới [4, tr.6].
Toàn cầu hoá truyền bá và chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành
quả mới mẻ, những đột phá sáng tạo về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý,
về sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm đến với các dân tộc, tại nhiều
nước, đến từng gia đình, từng người dân, dọn đường cho công nghiệp hoá và hiện đại
hoá. Do đó, tạo thêm khả năng phát triển rút ngắn và mang lại những nguồn lực rất
quan trọng, rất cần thiết cho các nước đang phát triển, từ các nguồn vốn vật chất đến
các nguồn tri thức và kinh nghiệm cả về chiến lược dài hạn và về tổ chức tiến hành, cả
ở tầm vĩ mô của quốc gia và ở tầm vi mô của từng doanh nghiệp và từng hộ.
Toàn cầu hoá một mặt gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về sức cạnh tranh và hiệu
quả của mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, chỉ rõ vị trí hàng đầu của yếu tố chất
lượng, yếu tố thời gian, yếu tố nâng cao giá trị gia tăng để có sức cạnh tranh và hiệu
quả. Mặt khác, toàn cầu hoá mở ra những địa bàn và cách thức hoạt động mới, những
thị trường mới, những đối tác mới cho từng nước, nhất là các nước đang phát triển.
9
Tuy nhiên, tiến trình toàn cầu hóa đặc biệt đặt các nước đang phát triển trước
những thách thức to lớn của việc hội nhập và phát triển. Do yêu cầu của toàn cầu hóa là
đòi hỏi các nước phải phá vỡ các hàng rào bảo hộ quốc gia, dỡ bỏ các biện pháp thuế
quan và phi thuế quan cũng như các rào cản khác nên ở nền kinh tế đang phát triển, sản
xuất kinh doanh trong nước luôn chịu sức ép nặng nề của các dòng hàng hóa - dịch vụ,
công nghệ nhập khẩu và những chấn động khu vực và toàn cầu , trong đó nguy cơ lớn
nhất là những chấn động về tài chính - tiền tệ thường sẽ ngay lập tức có tác động mạnh
mẽ đến nền kinh tế của mọi quốc gia. Toàn cầu hóa cũng làm cho hiện tượng "chảy
máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn "săn đầu
Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận
trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận
hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên
giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn
vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình"[22,tr.19].
Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade Commission -
FTC) định nghĩa một hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng theo đó Bên
giao:
(i) hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm
soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận.
(ii) li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo
nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và
(iii) yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu [22,tr.19].
1
Hiệp hội lớn nhất Hoa Kỳ và thế giới được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồm các
doanh nghiệp bán, mua franchise
11
Liên minh Châu Âu (EU) định nghĩa “quyền thương mại là một tập hợp những
quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên
thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí
quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới
người sử dụng cuối cùng". Nhượng quyền thương mại có nghĩa là việc chuyển nhượng
quyền kinh doanh được Khái niệm ở trên [22,tr.20].
Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định:
"Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một
thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để
một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với
Phí nhƣợng quyền ( Initial fee or Franchise fee) là khoản phí không hoàn lại mà
nhà nhận quyền phải trả cho nhà nhượng quyền để gia nhập hệ thống nhượng quyền
cho việc kinh doanh ở một địa điểm hoặc khu vực xác định trong một khoảng thời gian
nhất định được hai bên thống nhất trong hợp đồng nhượng quyền. Tùy vào chiến lược
kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và uy tín trên thương trường của nhà nhượng
quyền mà mức phí này có giá trị khác nhau. Đôi khi mức phí này cũng thay đổi tùy
theo vùng miền địa lý của từng hệ thống nhượng quyền thương mại.
Phí hoạt động hay phí vận hành (Royalty fee) là khoản phí mà nhà nhận quyền
phải trả hàng tháng hoặc quý hoặc năm cho nhà nhượng quyền, được căn cứ trên doanh
thu thu được tại địa điểm hoạt động của mình. Mức phí này có thể là tỷ lệ phần trăm
doanh thu của tất cả sản phẩm được bán tại cửa hàng hoặc là một mức phí cố định mà
nhà nhận quyền phải trả cho nhà nhượng quyền khi tham gia vào hệ thống. Cũng như
trường hợp phí nhượng quyền, tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh, ngành nghề kinh
13
doanh, vùng miền kinh doanh hay uy tín của nhà nhượng quyền mà mức phí này có giá
trị khác nhau. Thông thường phí hoạt động này được nhà nhượng quyền tái đầu tư lại
hệ thống thông qua các chương trình xúc tiến bán hàng hoặc các chương trình đào tạo,
khen thưởng cho hệ thống nhượng quyền của mình.
Cẩm nang nhƣợng quyền (Franchise operation manuals) là tài liệu do nhà
nhượng quyền biên soạn, trong đó bao gồm toàn bộ các yếu tố chuyển giao của hệ
thống, các định hướng, tôn chỉ hoạt động cũng như những chuẩn mực tạo tiền đề để các
yếu tố quan hệ được hình thành và phát triển. Nhà nhận quyền sẽ hoạt động tuân theo
cẩm nang nhượng quyền này.
1.2.2. Đặc điểm
Theo các định nghĩa được nêu ra ở trên, chúng ta có thể khái quát nhượng quyền
thương mại có 4 đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại trong đó có
việc sử dụng chung thương hiệu. Hàng hóa trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
chất lượng, hỗ trợ ban đầu và trong quá trình hoạt động Một trong những rủi ro của
công việc kinh doanh nhượng quyền thương mại đó chính là làm phá vỡ hệ thống kinh
doanh. Nếu như chỉ một mắt xích trong hệ thống đó làm ăn không có hiệu quả gây ảnh
hưởng xấu đến uy tín của thương hiệu. Do đó “tính đồng bộ của một thương hiệu là
một trong những chìa khóa thành công khi xây dựng mô hình kinh doanh nhượng
quyền” [23, tr.38]. Để tránh và đối phó với hậu quả này, người nhượng quyền phải
giám sát chặt chẽ tới cách thức hoạt động của nhà nhận quyền.
Thứ ba, trong hệ thống nhượng quyền thương mại giữa bên nhượng quyền và bên
nhận quyền có sự độc lập về tài chính và địa vị pháp lý. Đây là đặc điểm đặc thù của
hệ thống kinh doanh này nhằm phân biệt hình thức kinh doanh này với các hình thức
gần giống khác như đại lý, chi nhánh thương mại, chuỗi cửa hàng. Tuy rằng trong hệ
thống franchising có sự hỗ trợ và giám sát một cách đáng kể của bên nhượng quyền
cho bên nhận quyền nhưng theo luật pháp của các nước thì bên nhận quyền lại là các cá
nhân độc lập hoặc các pháp nhân độc lập về mặt tổ chức lẫn tài chính, không phụ thuộc
15
vào bên nhượng quyền. Trên thế giới, người nhượng quyền thường đóng vai trò là cầu
nối giúp người “mua franchise” mượn tiền ngân hàng hoặc chính mình đứng ra cho vay
nhằm phát triển và nhân rộng mô hình kinh doanh nhanh hơn. Trước khi khai trương,
bên nhận quyền thường được bên nhượng quyền hỗ trợ về đào tạo, thiết kế, chọn địa
điểm, nguồn hàng, quảng cáo Những điều này không có nghĩa là bên nhận quyền bị
phụ thuộc vào bên nhượng quyền, áp đặt hoàn toàn theo ý của bên nhượng quyền. Tất
cả quyền cũng như nghĩa vụ của hai bên đều phải được cụ thể hóa trong hợp đồng mà
chủ thể của hợp đồng là những cá nhân, pháp nhân độc lập.
Thứ tƣ, trong phương thức kinh doanh này bên nhận quyền phải trả phí cho bên
nhượng quyền. Nhượng quyền thương mại xét cho cùng cũng giống như hoạt động
dịch vụ thuê-mượn. Người nhượng quyền cho người nhận quyền thuê sử dụng thương
hiệu, công thức kinh doanh của mình đổi lại họ được nhận một khoản phí từ người
nhận quyền. Phí này có thể là trọn gói nhưng cũng có thể trả làm nhiều lần gồm phí
của chủ thương hiệu.
1.2.3.1 Phân loại theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại
Theo căn cứ này, nhượng quyền thương mại được phân thành hai loại: nhượng
quyền phân phối và nhượng quyền công thức kinh doanh
17
Nhƣợng quyền phân phối (Product distribution franchise) : là hình thức nhượng
quyền thương mại theo hệ thống nhượng quyền nhằm mục đích phân phối một sản
phẩm hay một tập hợp các sản phẩm. Nhượng quyền phân phối sản phẩm tạo nên một
cơ cấu trực tiếp cho phép đưa sản phẩm từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Ngoài việc
được phép sử dụng tên nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, logo, khẩu hiệu và phân
phối sản phẩm hay dịch vụ của bên nhượng quyền trong một phạm vi địa lý và trong
một thời hạn nhất định thì bên nhận quyền hầu như không được nhận bất cứ sự hỗ trợ
đáng kể nào từ phía chủ thương hiệu. Bên nhận quyền sẽ quản lý cửa hàng của mình
một cách khá độc lập và ít bị ràng buộc bởi những quy định của chủ thương hiệu. Hình
thức nhượng quyền này thường được sử dụng trong việc phân phối nước ngọt (Coca-
cola, Pepsi), các đại lý bán ôtô (Ford motor company), các trạm xăng dầu (Exxon
mobil). Tại Việt Nam, mô hình nhượng quyền của cà phê Trung Nguyên, công ty Kinh
Đô được xem là thuộc loại này. Tuy hình thức nhượng quyền phân phối được sử dụng
khá phổ biến ở các dịch vụ bán lẻ, song mô hình này chưa thể hiện đầy đủ bản chất của
hoạt động nhượng quyền thương mại.
Nhƣợng quyền công thức kinh doanh (Business format franchise) : là hình thức
nhượng quyền thương mại mà theo đó bên nhận quyền sẽ sản xuất sản phẩm, dịch vụ
theo chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán những sản phẩm đó dưới nhãn hiệu của bên
nhượng quyền. Bên nhượng quyền sẽ chuyển giao cho bên nhận quyền bí quyết kinh
doanh thường là các công thức sản xuất, quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và công
thức điều hành quản lý. Theo phương thức này thì các chuẩn mực của mô hình kinh
doanh phải tuân thủ một cách tuyệt đối. Thực chất nhượng quyền công thức kinh
doanh là bước phát triển cao hơn của nhượng quyền phân phối sản phẩm, nó thể hiện
quyền. Ví dụ: Công ty Aptech của Ấn Độ nhượng quyền độc quyền cho Tập đoàn FPT
tại thị trường Việt Nam.