Vận dụng quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vào phát triển các thành phần kinh tế ở tỉnh Nghệ An hiện nay - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
trung tâm đào tạo bồi d-ỡng giảng viên lý luận chính trị


hồ thị hà
vận dụng quan hệ Biện chứng giữa lực l-ợng sản xuất và quan hệ
sản xuất vào phát triển các thành phần kinh tế
ở tỉnh nghệ an hiện nay Luận văn thạc sĩ khoa học triết học LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TRỌNG TUẤN HÀ NỘI - 2008

MỤC LỤC Trang
Mở đầu

1
Chương 1:
Nội dung và yêu cầu của quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất.
6
1.1.
Nội dung của quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản
xuất với trình độ của lực lượng sản xuất.
6

68
Chương 3:
Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
các thành phần kinh tế ở Nghệ An trong thời gian tới.

3.1.
Mục tiêu và phương hướng tổng quát:
70
3.1.1.
Phương hướng và quan điểm phát triển.
70
3.1.2.
Mục tiêu tổng quát.
70
3.1.3.
Nhiệm vụ chủ yếu:
72
3.2.
Những giải pháp cơ bản
79
3.2.1.
Phát huy vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối
với quan hệ sản xuất trong nền kinh tế nhiều thành phần
ở Nghệ An
82
3.2.2.
Đẩy nhanh ứng dụng KHCN.

quốc lần thứ VI, VII). Đó là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình
kinh tế - xã hội nước ta cũng như điều kiện quốc tế hiện nay.
Trong quá trình vận hành nền kinh tế theo cơ chế mới, vấn đề chúng ta
cần quan tâm là vai trò con người, sự phát triển của công cụ lao động, trình độ
quản lý sản xuất, phân công lao động và trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật
của người lao động trong quá trình sản xuất Đặc biệt, đối với Nghệ An, một
tỉnh nghèo nằm ở miền Trung Việt Nam, luôn chịu sự ảnh hưởng khắc nghiệt
của tự nhiên (nắng lắm mưa nhiều, bão lụt thường xuyên xẩy ra), đời sống
kinh tế còn thấp kém lạc hậu, trình độ, kỹ năng của người lao động còn chậm
phát triển, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật còn gặp nhiều khó khăn. Do
đó, việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Nghệ An là một yêu cầu cấp thiết để nhanh chóng đưa tỉnh
nhà tiến kịp với sự phát triển của cả nước.
Qua hơn 20 năm đổi mới, cả nước nói chung, Nghệ An nói riêng đã thu
được nhiều thành tựu to lớn, quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất, do đó mở ra khả năng mới, điều kiện mới cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tiếp tục phát triển. Có được
những thành tựu đó, là do Đảng bộ tỉnh đã nhận thức đúng và bước đầu biết
vận dụng sát hợp hơn quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ của lực lượng sản xuất vào đặc điểm kinh tế - xã hội địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc nhận thức và vận
dụng quy luật này còn có những hạn chế nhất định: việc huy động và sử dụng

2
các nguồn lực còn kém hiệu quả và chưa tương xứng với tiềm năng, trình độ
công nghệ vẫn lạc hậu so với nhiều tỉnh xung quanh. Sức cạnh tranh của nền
kinh tế, chất lượng và tính bền vững của sự phát triển còn kém. Kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển. Hội nhập kinh tế
quốc tế còn hạn chế Thực trạng trên đặt ra yêu cầu phải nhận thức sâu sắc
và vận dụng quy luật sao cho đúng đắn hơn, phù hợp hơn với tình hình thực

“Quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp” của PTS
Hoàng Bính và Nguyễn Kim Lai; “ Về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
lực lượng sản xuất xét từ tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất” của
Trương Hữu Toàn; "Nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp nước ta
thời kỳ đổi mới” của tiến sĩ Nguyễn Trọng Tuấn.
Các công trình khoa học trên thường nghiên cứu toàn diện quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất và
trong phạm vi tác động của quy luật khá rộng bao gồm trên nhiều lĩnh vực,
trên địa bàn nhiều tỉnh hoặc trên địa bàn cả nước.
Ở Nghệ An, cũng có một số công trình, bài viết về sự vận động của quy
luật này, song mới chỉ nghiên cứu một mặt hay một số mặt nào đó của lực
lượng sản xuất hoặc quan hệ sản xuất.
Luận văn này cố gắng tiếp cận các kết quả của các công trình khoa học,
các bài viết, các đề tài khoa học của địa phương để tổng kết, phân tích thực
tiễn nhằm làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất, quan hệ
sản xuất với các thành phần kinh tế ở địa bàn một tỉnh, đồng thời vạch ra
những giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ này ở Nghệ An.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
* Mục đích:
- Trên cơ sở phân tích quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, luận văn làm rõ sự cần thiết của việc vận dụng quy luật lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, đánh giá thực trạng vận dụng quy luật

4
này ở Nghệ An hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các
thành phần kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế Nghệ An phát triển.
* Nhiệm vụ:
Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Làm rõ sự cần thiết của việc vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa

quy luật lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nhằm phát triển các thành
phần kinh tế ở Nghệ An.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc
nghiên cứu và giảng dạy triết học tại các trường đại học, cao đẳng, trường
chính trị, cũng như cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP
GIỮA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ CỦA
LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT
1.1. Nội dung của quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với
trình độ của lực lƣợng sản xuất
Xã hội loài người trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, cũng là một hệ
thống rất phức tạp bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiều mối liên hệ. Các nhà tư
tưởng trước C. Mác đã có nhiều đóng góp trong hoạt động nghiên cứu xã hội
và con người với mục tiêu là tìm ra bản chất và quy luật phát triển của xã hội
loài người. Nhưng do những hạn chế về mặt quan điểm, lập trường, về mặt
lịch sử, về trình độ của khoa học tự nhiên và xã hội, nên họ đã không vượt
khỏi chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình trong nghiên cứu xã hội và
xem xét lịch sử.
Từ quá trình sản xuất vật chất của con người, C.Mác đã khám phá ra
các quy luật chi phối sự vận động, biến đổi và phát triển của xã hội, trong đó

6
có quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Như vậy, lần đầu tiên C.Mác đã phát hiện ra quy luật
QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX. Đó là quy luật cơ bản chi
phối toàn bộ quá trình lịch sử loài người. Nó quyết định sự thay thế các

qua lại lẫn nhau, trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất là
hình thức xã hội của sản xuất. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất, đến lượt nó, quan hệ sản xuất tác động tích cực trở lại lực lượng sản xuất
tạo thành quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
Theo nguyên lý của phép biện chứng duy vật, sự phù hợp, sự thống
nhất của các mặt đối lập chỉ là tương đối tạm thời, thoáng qua và có điều kiện,
còn đấu tranh, sự không phù hợp của các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Chính
sự không phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là nguồn gốc
tạo nên sự vận động phát triển trong mâu thuẫn của phương thức sản xuất.
Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
thì nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại nếu quan hệ sản xuất
“không phù hợp” với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Trên đây là toàn bộ nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất. Đây là quy luật khách quan, nên nó chi phối
sự vận động và phát triển của toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Như vậy,
nghiên cứu nội dung quy luật này sẽ giúp chúng ta khắc phục tư tưởng chủ
quan nóng vội, duy ý chí trong việc thiết lập mối quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa trong điều kiện của một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
công cụ lao động chủ yếu còn ở trình độ thủ công. Việc nắm vững và vận
dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là
cơ sở nền tảng quan trọng cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
1.2. Yêu cầu của quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất
và trình độ của LLSX.
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là

8
mối quan hệ cơ bản biểu hiện của quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính
chất và trình độ của LLSX. Quy luật này mang tính khách quan, chi phối toàn

đường biên dài 92,6 km; phía Tây giáp nước bạn Lào với đường biên dài 419
km, đã có lịch sử quan hệ hữu nghị lâu đời, là điều kiện thuận lợi để mở rộng
hợp tác quốc tế và khai thác những tiềm năng phát triển của nước bạn Lào;
phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 82 km; Diện tích đất tự nhiên:
1.648.729 ha; Nghệ An có 1 thành phố loại một, 1 thị xã và 17 huyện, thành
phố Vinh, Thị xã Cửa Lò, 10 huyện miền núi…
Về địa hình: Nghệ An là tỉnh nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa
hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi hệ thống các đồi núi, sông suối. Về
khí hậu - Thời tiết: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Nghệ An chịu
sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng và gió mùa Đông
Bắc lạnh, ẩm ướt, Độ ẩm trung bình hàng năm là: 84%.
Sông ngòi: Cả tỉnh có tổng chiều dài sông suối là 9.828 km, mật độ
trung bình là 0,7 km/km
2
. Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m
3
.

9
Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ
cho đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Biển, bờ biển: Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, đáy biển tương đối
bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát. Vùng biển Nghệ
An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao. Bãi biển Cửa Lò
là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn.
Tài nguyên đất: Tổng quỹ đất đã sử dụng là 956.250 ha/tổng diện tích
đất tự nhiên: 1.648.729 ha, chiếm 58%. Trong đó đất nông nghiệp chiếm gần
196.000 ha chiếm 11,9%, đất lâm nghiệp trên 685.000 ha, chiếm 41,8%, đất
chuyên dùng trên 59.000 ha chiếm 3,6%, đất ở gần 15.000 ha chiếm 0,9%.
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất có rừng trên 685.000 ha. Tổng trữ

số, gia đình và trẻ em có nhiều tiến bộ. Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh từ
tỉnh đến xã từng bước được củng cố nâng cấp. Chất lượng khám và điều trị
bệnh được cải thiện. Công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm. Tỷ lệ
trạm xã xã phường có bác sĩ đạt 70%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ
41% năm 2000 xuống còn 28% năm 2005 [22 - tr 17].
Tóm lại, những đặc điểm về kinh tế - xã hội nói trên có ảnh hưởng rất
lớn đến sự vận dụng quy luật phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của
LLSX vào phát triển các thành phần kinh tế ở Nghệ An nói riêng cũng như cả
nước nói chung.
2.2. Thực trạng vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và
QHSX vào việc phát triển các thành phần kinh tế ở Nghệ An trƣớc thời
kỳ đổi mới.
Trước năm 1986, cả nước nói chung, Nghệ An nói riêng đều có những
quan niệm cứng nhắc về CNXH, đó là quan niệm cho rằng cần phải đưa đất
nước tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH. Thiết lập và duy trì quá lâu kiểu
QHSX với những đặc trưng như vậy làm cho các hiện tượng tiêu cực nảy sinh
ngay trong lòng kinh tế quốc doanh và Hợp tác xã ngày càng phổ biến, các
cấp lãnh đạo và đơn vị cơ sở đều ra sức khắc phục trong nhiều năm, song vẫn
không giảm bớt. Chúng ta đã đồng nhất tư hữu tư liệu sản xuất (mà tư hữu đó
được sử dụng vào việc bóc lột lao động của người khác) với sở hữu cá nhân
của các thành viên, do đó khi đưa lao động vào làm ăn tập thể là xoá ngay sở
hữu cá nhân đối với các tư liệu sản xuất của họ.
Vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế vĩ mô và vai trò quản lý sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, Hợp tác xã không được tách
bạch rõ ràng.

11
Tất cả những tiêu cực nảy sinh trong lòng kinh tế quốc doanh, tập thể
và những vướng mắc nan giải trong cơ chế quản lý, phân công, phân cấp quản
lý, trong xác định phương hướng kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, phương

2.3.1. Thành tựu đạt được và nguyên nhân.
* Thành tựu:
Nhờ thực tiễn tháo gỡ khó khăn để phát triển sản xuất của người lao
động trong tỉnh, đồng thời với một số chủ trương tháo gỡ những vướng mắc
trên một số lĩnh vực kinh tế của Trung ương đối với đất nước, Đảng bộ Nghệ
An cũng đã đề ra những chủ trương, chính sách về đổi mới kinh tế địa
phương. Do đó trong những năm gần đây, nền kinh tế của tỉnh đạt được tốc
độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm 2001 - 2005 đạt 10,3%
(vượt chỉ tiêu kế hoạch), GDP bình quân đạt 5,59 triệu đồng/người/năm, tăng
hơn 2 lần so với năm 2000.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: Tăng tỷ trọng Công
nghiệp - Xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản.
Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 44,3% năm 2000 xuống 34,2% năm 2005 và
31,03% năm 2007, tỷ trọng nghành công nghiệp, xây dựng tăng từ 18,6% lên
30,4% và 32,01% năm 2007; khu vực dịch vụ từ 36,57% năm 2006 lên 36,96
năm 2007.
Từ một tỉnh trước đây thiếu đói triền miên, đến nay Nghệ An đã cơ bản
giải quyết và cân đối được lương thực cho nhân dân. Năm 2006, sản lượng
lương thực đạt 1,142 triệu tấn. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi phát triển khá
nhanh; Nông, lâm, ngư nghiệp có bước phát triển khá; Công nghiệp và xây
dựng tiếp tục tăng trưởng: giá trị sản xuất công nghiệp tăng gấp 4 lần so với
đầu nhiệm kỳ.
Việc tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện
tích cực, nhất là cổ phần hoá, nhờ vậy các doanh nghiệp đã hoạt động ổn định
và hiệu quả hơn. Các loại hình kinh tế tư nhân phát triển khá nhanh, đóng vai
trò ngày càng quan trọng trong tăng thu ngân sách của tỉnh.

13
Dịch vụ có chuyển biến theo hướng đa dạng hoá. Ngành thương mại

không ngừng được tăng cường.
Trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng dần tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ đã tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao
đời sống nhân dân, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống 23% (năm 2006, theo chuẩn mới).
* Nguyên nhân của thực trạng đó.
Nền kinh tế - xã hội của Nghệ An trong những năm gần đây bên cạnh
những mặt hạn chế đã có nhiều bước phát triển rõ rệt, có được những kết quả
đó là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa LLSX và
QHSX vào việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh ngày càng đúng đắn hơn.
Hai là, Đảng bộ tỉnh đã nhận thức và hiểu rõ nguồn gốc, bản chất và tác
hại của chủ nghĩa chủ quan, bệnh giáo điều, máy móc và tư tưởng ỷ lại. Từ
đó, Đảng bộ Nghệ An đã ban hành những chủ trương phù hợp, điều chỉnh, đổi
mới cả ba mối quan hệ của quan hệ sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển
Ba là, thấy được sự tất yếu phải thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế
nhiều thành phần trong một nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu
sản xuất, nhiều hình thức tổ chức quản lý và phân phối khác nhau.
Bốn là, đảng bộ tỉnh đã nhận ra những sai lầm khuyết điểm của mình và
kịp thời đề ra những chủ trương, chính sách đổi mới phù hợp với tình hình
thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Do những nguyên nhân trên nên những năm gần đây, nền kinh tế - xã
hội của Nghệ An đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, Nghệ An hiện nay vẫn là
một tỉnh còn nhiều khó khăn, nhiều vướng mắc cần được giải quyết để đưa
Nghệ An sớm trở thành một tỉnh khá nhất ở miền Bắc như chủ tịch Hồ Chí
Minh hằng mong muốn.
2.3.2. Những khuyết điểm yếu kém.
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu quan trọng song nhìn chung Nghệ
An vẫn còn là một tỉnh nghèo, mức tăng trưởng kinh tế dưới tiềm năng, khai

15

nhiều khó khăn vướng mắc về thuê đất và giao quyền sử dụng đất, về vay
vốn, về đầu tư chưa được tháo gỡ kịp thời.
Lĩnh vực văn hoá - xã hội còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết tốt.
Các cơ sở khám chữa bệnh, nhất là tuyến huyện chậm được đầu tư nâng cấp.
Vấn đề việc làm cho người lao động, tai nạn giao thông, ma tuý, lây nhiễm
HIV… chưa được giải quyết, ngăn chặn có hiệu quả. Tỷ lệ tăng dân số ở vùng
ven biển, vùng giáo, vùng dân tộc vẫn cao, lực lượng lao động tăng gây sức
ép mạnh về vấn đề giải quyết việc làm.
*Những tồn taị yếu kém mà hiện nay Nghệ An đang mắc phải là do
những nguyên nhân sau:
- Nghệ An là tỉnh có diện tích miền núi rộng lớn (chiếm 83,3%), địa
hình hiểm trở và chia cắt, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, lại là một tỉnh nằm xa
các cực tăng trưởng và các trung tâm kinh tế văn hoá lớn của cả nước, xuất
phát điểm của nền kinh tế. Bên cạnh đó tỉnh nhà chưa có sự nỗ lực thật cao,
hơn nữa, trong thời gian qua, sự đầu tư của nhà nước cho vùng đất này để đẩy
mạnh sản xuất ở một địa phương trọng yếu là chưa đúng mức.
- Năng lực sản xuất còn yếu, thiếu vốn, trình độ khoa học công nghệ
còn lạc hậu, do đó quy mô và năng lực cạnh tranh kinh tế còn thấp; tệ quan
liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi, thiên tai, dịch bệnh vẫn diễn
biến hết sức phức tạp.
- Sản xuất hàng hoá trên địa bàn tỉnh ta chưa phát triển, một số chương
trình, đề án phục vụ xuất khẩu triển khai không đảm bảo tốc độ hoặc thấp so
với mục tiêu đề ra.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp làm công tác nhập khẩu của tỉnh đều là
doanh nghiệp nhỏ, chưa có doanh nghiệp đầu tàu, nguồn nhân lực chưa đáp
ứng yêu cầu hội nhập, thiếu cán bộ giỏi nghiệp vụ, ngoại ngữ, thiếu đội ngũ
thợ lành nghề, cán bộ quản lý năng động…
- Giá cả biến động, nguồn nguyên liệu không ổn định và trên thị trường
cả nước sự cạnh tranh gay gắt.


18
nghành, nghề kinh tế - kỹ thuật. Có chính sách thích hợp để thu hút cán bộ,
nhân tài góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Chƣơng 3:
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở NGHỆ AN TRONG
THỜI GIAN TỚI.

3.1. Mục tiêu và phƣơng hƣớng tổng quát:
3.1.1. Phương hướng và quan điểm phát triển.
Huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, ưu tiên cho đầu tư
khai thác tiềm năng miền Tây và vùng Biển. Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp.
Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tạo các mũi đột phá trong
phát triển công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp; chủ động hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế; giữ gìn và phát huy các truyền thống, bản sắc văn hoá xứ
Nghệ; kiểm soát, kìm giữ, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và tội phạm; giữ vững ổn
định chính trị, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội. Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Xây dựng Đảng bộ,
Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày càng vững mạnh.
Để thực hiện quan điểm trên cần quán triệt các quan điểm sau:
- Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với bảo vệ và làm giàu thêm môi
trường để đảm bảo phát triển bền vững.
- Phát triển kinh tế phải gắn với chăm lo tốt các vấn đề xã hội, thực
hiện công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền.
- Phát triển phải gắn với xã hội hoá, hiện đại hoá, đi lên từ nền tảng văn
hoá, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ mới.
3.1.2. Mục tiêu tổng quát.


20
KẾT LUẬN
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất là quy luật cơ bản của xã hội, nhận thức và vận dụng quy luật
nhằm giải phóng sức lao động, không ngừng phát triển sản xuất là nhiệm vụ
thường xuyên sống còn của xã hội loài người.
Cũng như cả nước nói chung, Nghệ An trong một thời gian nhất định,
do nóng vội chủ quan khi vận dụng quy luật, Đảng bộ tỉnh đã mắc phải một số
sai lầm khuyết điểm, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và
khoa học kỹ thuật, làm cho năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp, đời
sống vật chất, văn hoá của nhân dân chậm được cải thiện, đời sống tinh thần
của mọi người không có điều kiện phát triển, khủng hoảng kinh tế - xã hội
xẩy ra làm cho niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng bị giảm sút. Song
với bản chất năng động và cách mạng, Đảng bộ tỉnh đã kịp thời đề ra những
chủ trương chính sách phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của tỉnh nhà, đặc biệt
là việc nhận thức và vận dụng đúng đắn hơn quy luật về sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Điều đó được thể
hiện ở những thành tựu mà Nghệ An đạt được về kinh tế - xã hội trong những
năm gần đây.
Để theo kịp với sự phát triển của đất nước, đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải phải nhận thức rõ tình hình cụ thể
của tỉnh nhà để từ đó phát huy những mặt tích cực, khắc phục những mặt khó
khăn, vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất để đề ra những chủ trương, chính sách phù
hợp sớm đưa nền kinh tế của tỉnh ra khỏi tình trạng kém phát triển, “trở
thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc” như Bác Hồ từng mong
đợi. Đồng thời phải luôn tổng kết thực tiễn để thấy rõ vai trò, tác dụng của
quy luật cũng như phải tiếp tục nghiên cứu tìm tòi, phát hiện những mâu
thuẫn mới trong khi vận dụng quy luật ở địa phương để có các giải pháp phù
hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển có hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status