ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN TỐ HẢO
NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ CHUYỂN
BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT
NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN TỐ HẢO
Trần Tố Hảo
1
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ
CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỜI KỲ
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 13
1.1. Một số khái niệm cơ bản 13
1.2. Cơ cấu cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và sự cần thiết phải chuyển
biến cơ cấu thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 19
1.3. Vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp
công nhân Việt Nam 32
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI
SỰ CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM 44
2.1. Khái quát về giai cấp công nhân Việt Nam 44
2.2. Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam 51
2.3. Thực trạng vai trò của các nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến
cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và những vấn đề đặt ra 58
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ
Bảng 2.3: Sự chuyển biến cơ cấu GCCN theo trình độ học vấn
Bảng 2.4: sự chuyển biến cơ cấu GCCN theo trình độ chuyên môn nghề
nghiệp
Bảng 2.5: Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân phân theo tuổi đời
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo, giai cấp công nhân Việt Nam luôn là lực lượng tích
cực, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và hội nhập quốc tế, đóng góp to lớn vào những thành tựu phát
triển kinh tế xã hội của đất nước. Cùng với sự phát triển của đất nước, giai
cấp công nhân Việt Nam đã có những bước chuyển biến đáng kể về số
lượng, chất lượng, cơ cấu nghề nghiệp, xã hội. Trong điều kiện xu thế toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, giai cấp công nhân Việt
Nam sẽ tiếp tục biến đổi và phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Đặc biệt, sự chuyển
biến cơ cấu xã hội – giai cấp trong những năm qua diễn ra liên tiếp và ngày
càng đa dạng, tác động đến sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân theo cả
chiều hướng tích cực và tiêu cực. Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân
Việt Nam theo chiều hướng tích cực, từng bước hợp lý góp phần quan trọng
xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Tuy nhiên,
trước sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ và toàn cầu hóa diễn ra
như một xu thế khách quan, dưới tác động của kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về giai cấp công nhân trong đó có
vấn đề chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân đòi hỏi phải tập trung nghiên
cứu để có cơ sở đề ra những chủ trương, giải pháp đúng đắn nhằm chuyển
biến nhanh cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam theo hướng tích cực góp
phần xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong giai đoạn mới.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, sự chuyển biến về cơ cấu của giai
ngũ trí thức. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không
đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. Mặc dù
6
kinh tế phát triển, nhưng nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần cũng như
điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động của công nhân chưa được cải
thiện rõ rệt. Thực trạng đó đòi hỏi cần tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân
phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu hợp lý, đời sống ngày
càng được cải thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh
công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.
Tình hình trên đây cho thấy, việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu
để phát huy vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai
cấp công nhân Việt Nam ngày càng trở nên vô cùng cấp thiết đặc biệt là
trong quá trình hội nhập quốc tế.
Vì lẽ đó, tôi chọn vấn đề "Nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến
cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" làm
đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về giai cấp công nhân nói chung dưới góc độ lịch sử và lý
luận đã được nhiều nhà nghiên cứu, cán bộ khoa học ở Liên Xô (trước đây),
Trung Quốc quan tâm như cuốn “Phong trào công nhân quốc tế - những vấn
đề lịch sử và lý luận”gồm 8 tập của các nhà nghiên cứu lịch sử Xô Viết được
xem là bộ sách trình bày khái quát lịch sử phong trào công nhân quốc tế đầy
đủ nhất cho đến nay. Những bài học kinh nghiệm nêu ra trong bộ sách này rất
có ý nghĩa trong việc nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý luận và thực
tiễn về giai cấp công nhân nói chung và giai cấp công nhân Việt Nam nói
riêng.
Cuốn “Vị trí vai trò của giai cấp công nhân đương đại” do Nguyễn
Ngọc Lân dịch với các tác giả Liễu Khả Bạch, Vương Mai, Diêm Xuân Chi
có giá trị học thuật và ứng dụng khá quan trọng. Thông qua điều tra hiện trạng
8
đối với GCCN; những chủ trương, biện pháp, chính sách cơ bản và cấp bách
nhằm xây dựng GCCN Việt Nam ngang tầm với sứ mệnh lịch sử của nó.
Cuốn sách “Về thực trạng GCCN Việt Nam hiện nay” (2001) của các
tác giả: Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường đã đề cập đến
thực trạng GCCN Việt Nam trên một số phương diện: đời sống, nghề nghiệp,
điều kiện lao động, tâm tư nguyện vọng Cuốn sách “Xu hướng biến động
GCCN Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI” (2001), là kỷ yếu
Hội thảo khoa học, tập hợp bài viết của một số nhà khoa học, cán bộ lãnh
đạo, quản lý. Nội dung các bài viết chủ yếu đi sâu vào khía cạnh phân tích
luận giải những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến xu hướng biến
đổi và dự báo xu hướng biến đổi GCCN Việt Nam.
PGS.TS. Nguyễn Viết Vượng (chủ biên), trong cuốn “GCCN và tổ
chức công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”
(2003), đã đề cập đến sự chuyển biến của GCCN và tổ chức công đoàn Việt
Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; dự báo sự phát triển
của GCCN và tổ chức công đoàn, phương hướng xây dựng GCCN và tổ
chức công đoàn Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI. Kết quả nghiên
cứu của công trình khoa học này có thể tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu
đề tài.
PGS.TS. Dương Xuân Ngọc, trong cuốn sách “GCCN Việt Nam trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” (2004), đã đề cập đến: khái niệm GCCN;
những nhân tố tác động đến sự biến đổi GCCN Việt Nam trong sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước; quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải
pháp xây dựng GCCN Việt Nam trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.
Cuốn sách “Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò
GCCN Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH” (2004) của tập thể tác giả do
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự phát triển của giai cấp
công nhân, đưa ra những giải pháp nhằm phát triển giai cấp công nhân cả về
số lượng, chất lượng, cơ cấu để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của
thực tiễn đặt ra. Nhưng vấn đề về vai trò của các nhân tố chủ quan trong sự
chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế vẫn chưa được đề cập và phân tích cụ thể, cần phải được làm
sáng tỏ hơn. Những thành tựu nghiên cứu cũng như những giá trị khoa học
của các công trình trên là tài liệu quý cho chúng tôi tham khảo và kế thừa
trong quá trình viết luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Dựa trên cơ sở luận giải các vấn đề lý luận về giai cấp
công nhân, cơ cấu giai cấp công nhân, các nhân tố chủ quan tác động đến sự
chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân, phân tích thực trạng vai trò của các
nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt
Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố
chủ quan để chuyển biến cơ cấu GCCN Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Nhiệm vụ:
- Trình bày một số khái niệm cơ bản có liên quan đến cơ cấu giai cấp
công nhân Việt Nam, sự cần thiết phải chuyển biến cơ cấu giai cấp công
nhân Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của các nhân
tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam.
- Phân tích thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển
biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế tế
và những vấn đề đặt ra đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân
Việt Nam.
11
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố chủ
quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương và 10 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến
cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng vai trò của các nhân tố chủ quan đối với sự
chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp phát huy vai trò của nhân tố chủ quan đối với
sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế.
13
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ
CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 .Khái niệm giai cấp công nhân
Các Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên đưa chủ nghĩa duy vật
biện chứng và phương pháp biện chứng vào nghiên cứu lịch sử phát triển của
xã hội loài người, đi sâu nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,
nghiên cứu giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của họ. Trong Những
nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăng ghen chỉ rõ: “Giai cấp vô sản là
một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của
mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một
giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ
đều phụ thuộc vào số cầu về lao động…Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay là
giai cấp những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX”[15,
do họ tạo ra làm nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ
nghĩa.
Tiếp tục sự nghiệp của Mác - Ăngghen, V.I. Lênin đã nghiên cứu, bổ
sung làm hoàn chỉnh và phong phú thêm lý luận về giai cấp vô sản, với những
luận điểm mới về giai cấp vô sản trong điều kiện mới khi đã giành được chính
quyền. V.I. Lênin đã đưa ra khái niệm “giai cấp” tương đối hoàn chỉnh làm
cơ sở khoa học cho nghiên cứu các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có
GCCN. Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, Người viết: “Người ta gọi giai
cấp là tập đoàn người rộng rãi, những tập đoàn này khác nhau về địa vị trong
một hệ thống sản xuất xã hội nhất định do lịch sử quy định, khác nhau về
15
quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và
thừa nhận) với những tư liệu sản xuất và vai trò của họ trong tổ chức xã hội
về lao động, và như vậy là khác nhau về phương thức hưởng thụ và về phân
chia của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được sử dụng. Giai cấp là những tập
đoàn người, trong đó tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn
khác do các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ nhất định của
kinh tế - xã hội”[13, tr.206 – 207]. Theo Lênin, khi giai cấp vô sản giành
được chính quyền, thì công nhân không còn là người làm thuê cho chủ tư bản
nữa, mà đã là người làm chủ nhà nước, làm chủ tập thể đối với tư liệu sản
xuất được công hữu hóa.
Như vậy, quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đều
thống nhất khẳng định: giai cấp vô sản hay GCCN đều do nền đại công
nghiệp sinh ra, là những người trực tiếp vận hành các công cụ sản xuất công
nghiệp tạo ra của cải vật chất cho xã hội và tồn tại, phát triển cùng với sự phát
triển của nền đại công nghiệp. Dưới CNTB, công nhân là những người lao
động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê bán sức lao động cho nhà tư
bản để sống, bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, có lợi ích căn bản đối lập
với lợi ích của giai cấp tư sản.
Từ khái niệm về giai cấp công nhân hiện đại nêu trên, một vấn đề lý
luận và thực tiễn đặt ra là: giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay bao gồm
những ai? Cơ cấu và vai trò của nó ra sao?
Nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với
nhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ là tất yếu khách quan. Đó là
17
những vấn đề đã được các Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
IX, X và XI của Đảng khẳng định.
Từ thực tiễn đó và trên cơ sở định nghĩa về giai cấp công nhân hiện
đại, như đã nêu ở trên, có thể nêu lên khái niệm giai cấp công nhân Việt
Nam hiện nay như sau:
Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát
triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, bao gồm những
người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại
hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, trực tiếp tham gia vào
quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất; là giai cấp có sứ mệnh
lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam;
giai cấp đại diên cho lực lượng sản xuất tiên tiến; đội tiên phong trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Giai cấp công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH - HĐH
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực
lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, có đóng góp tích cực vào
phong trào công nhân quốc tế và tiến bộ xã hội của toàn thể nhân loại
1.1.3. Khái niệm cơ cấu và cơ cấu giai cấp công nhân
* Khái niệm cơ cấu:
Theo từ điển tiếng Việt, cơ cấu là sự sắp xếp của các yếu tố thành phần
19
Ở các nước đang phát triển, cơ cấu đội ngũ công nhân cũng có biến đổi song
lực lượng công nhân công nghiệp truyền thống vẫn là lực lượng chủ yếu.
Ở Việt Nam, tại Hội nghị trung ương Đảng lần thứ Bảy, Khoá VII, đồng
chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Ngày nay, đội
ngũ công nhân không chỉ là những người lao động sản xuất và dịch vụ công
nghiệp thuộc doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã mà còn bao gồm những
công nhân lao động khu vực tư nhân cá thể, hợp tác liên doanh với nước
ngoài… Xu hướng trí thức hoá công nhân, giảm bớt lao động chân tay nặng
nhọc, tăng cường yếu tố trí tuệ và lao động trí óc ngay trong dây chuyền công
nghiệp đang tăng lên”. Tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII, năm
1998, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã phát biểu: “Giai cấp công nhân có mặt
trong công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận
tải….”.
Từ lý luận về cơ cấu có thể hiểu khái niệm cơ cấu giai cấp công nhân là
khái niệm dùng để chỉ những người lao động hoạt động sản xuất trong các
ngành nghề và được xem xét dưới góc độ cấu trúc theo ngành nghề, thành
phần kinh tế, trình độ văn hóa, giới tính, độ tuổi…. Cơ cấu giai cấp công nhân
tuy là một yếu tố thuộc về phạm trù số lượng nhưng cũng phản ánh chính xác
chất lượng của giai cấp công nhân. Có nhiều dạng cơ cấu của một giai cấp
dựa trên các tiêu chí chủ yếu như: ý thức chính trị, ngành nghề, trình độ tay
nghề, trình độ văn hóa, giới tính, tuổi tác, tính chất công việc…
1.2. Cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và sự cần thiết phải
chuyển biến cơ cấu thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1. Cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
20
Một trong những đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều
đó đội ngũ công nhân cũng được chia thành công nhân công nghiệp nặng,
công nhân sản xuất hàng tiêu dùng, công nhân ngành điện, công nhân ngành
than, công nhân cơ khí, công nhân mỏ, công nhân ngành dày da, công nhân
lâm nghiệp
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo trình độ chuyên môn, tay nghề, bậc
thợ là cơ cấu dựa vào trình độ nghề nghiệp của đội ngũ công nhân. Ở nước ta
hiện nay công nhân thường được chia làm 7 bậc, những công nhân có bậc 6,
bậc 7 được gọi là công nhân bậc cao. Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của
công nhân còn được thể hiện ở các bậc đào tào: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng,
đại học và sau đại học.
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo trình độ văn hoá là cơ cấu dựa vào
trình độ học vấn của đội ngũ công nhân, được chia từ tiểu học, trung học cơ
sở, trung học phổ thông.
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo tuổi đời là cơ cấu dựa vào tuổi tác
của đội ngũ công nhân. Theo luật pháp, công nhân nước ta nằm trong độ tuổi
từ 18 đến 60 nhưng trên thực tế có công nhân dưới 18 tuổi, có cả công nhân
trên 60 tuổi.
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo giới tính nam, nữ. Mỗi giới có đặc
tính riêng, khả năng lao động khác nhau, tính chất công việc có thể đảm nhận
22
và hoàn thành được khác nhau. Nhu cầu về ăn, mặc, ở, sở thích, chức năng
thiên bẩm cũng khác nhau.
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo việc làm là cơ cấu dựa vào tính
chất, mức độ công việc: có việc làm thường xuyên, ổn định; không thường
xuyên, tạm thời; có hợp đồng dài hạn được tham gia bảo hiểm xã hội hay hợp
đồng ngắn hạn, không được tham gia bảo hiểm, hợp đồng không thời hạn,
hợp đồng hời vụ.
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo mức độ thu nhập là cơ cấu giai cấp
công nhân dựa vào thu nhập thực tế của công nhân. Thu nhập ở mỗi ngành