ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN QUYẾT
QUAN ĐIỂM CỦA Samuel P. Huntington VỀ VĂ N MINH,
SỰ VA CHẠM CỦA CÁC NỀN VẰN MINH VÀ MỘT TRẬT
TỰ THẾ GIỚI DỰA TRÊN CÁC NỀN VĂN MINH Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
PGS.TS. Phạm Văn Đức
1.3.Quan điểm của Huntington về sự va chạm của các nền văn minh 28
1.3.1 Sự va chạm của các nền văn minh 28
1.3.2 Nguyên nhân sự xung đột của các nền văn minh 31
1.3.2.1 Nguyên nhân từ bản thân nền văn minh 31
1.3.2.2.Các nguyên nhân lịch sử, dân số, chính trị 34
1.4. Về những cuộc xung đột gần đây trên thế giới thực chất có phải là bằng chứng của “Sự
va chạm giữa các nền văn minh” như Huntington dự đoán. 37
Chương 2 41
MỘT TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI DỰA TRÊN CÁC NỀN VĂN MINH 41
2.1. Trật tự hai cực Ianta và sự sụp đổ của nó 41
2.1.1. Trật tự hai cực Ianta 41
2.1.2.Sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta 44
2.2. Dự báo xu thế trật tự quốc tế trong những năm tới 44 2
2.2.1. Xu hướng thiết lập thế giới đơn cực 44
2.2.2. Quan điểm về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước 47
2.3. Một trật tự thế giới mới dựa trên các nền văn minh 50
2.3.1. Nhà nước chủ chốt và tập hợp các nhóm quốc gia theo nền văn minh 50
2.3.2.Các liên kết chính trị dựa trên bản sắc văn hóa 55
2.3.3Văn hoá và hợp tác kinh tế 58
2.3.4.Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc dựa trên sự phân chia quyền lực của văn minh 60
2.4. Các liên kết chính trị quốc tế hiện nay có phải hoàn toàn dựa trên cơ sở các nền văn minh ? 61
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI chứng kiến rất nhiều
cuộc xung đột mang tính chất dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và những vụ khủng bố
đẫm máu. Đi tìm nguyên nhân cho những hiện tượng này có rất nhiều cách lý
giải khác nhau. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước
Đông Âu là cơ hội thuận lợi cho một số quan điểm của các học giả tư sản nổi
lên nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác bằng cách đưa ra những những cách lý giải
khác nhau về sự phát triển của lịch sử loài người. Trong các quan điểm đó,
phải kể đến quan điểm của các học giả như Alvin Topffler về Đợt sóng thứ
ba, Fukuyama về Sự kết thúc của lịch sử và đặc biệt gần đây là quan điểm của
S.P Huntington về Sự va chạm của các nền văn minh Đặc điểm chung của
các quan điểm trên đều phủ nhận một trong các nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác về động lực phát triển của lịch sử loài người trong xã hội có đối
kháng giai cấp là đấu tranh giai cấp; phủ nhận cách tiếp cận sự phát triển lịch
sử loài người từ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội.
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đi kèm với nó là sự sụp đổ
của cả một hệ thống trật tự quốc tế, trật tự hai cực Ianta. Thế giới sẽ đi về đâu,
trật tự nào sẽ thay thế trật tự Ianta? Mỹ và các nước phương Tây đang tạm
thời nắm những ưu thế nhất định về kinh tế, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc
phòng… nhưng có phải họ có toàn quyền tự tung tự tác chủ động sắp đặt lại
trật tự thế giới theo mưu đồ chủ quan của họ?
Sự nổi lên của một số quốc gia châu Á và một số quốc gia ngoài văn minh
phương Tây đang thách thức các sức mạnh siêu cường của phương Tây. Sự
xuất hiện các mối quan hệ căng thẳng giữa phương Tây và các nước ngoài
phương Tây nhất là các nước Hồi giáo đòi hỏi cũng phải được giải thích và
tìm các biện pháp để giảm bớt căng thẳng đó. 4
5
quan trọng nữa là, trái với Huntington dự đoán xu hướng xung đột giữa các
nền văn minh, Nguyễn Chí Tình cho rằng xu thế chung là đối thoại văn hoá,
văn minh; các nền văn minh phải cùng học hỏi để tồn tại trong hoà bình [59].
Tuy nhiên, trong đề tài luận văn của tôi “Quan điểm của S.P Huntington về
văn minh, sự va chạm của các nền văn minh và một trật tự thế giới dựa
trên các nền văn minh” dưới cái nhìn triết học, chính trị học thì chưa ai
nghiên cứu một cách có hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ quan điểm của Huntington về văn minh,
sự va chạm của các nền văn minh và việc thiết lập một trật tự thế giới mới
dựa trên các nền văn minh, chỉ ra những điểm hợp lý để kế thừa, những điểm
bất hợp lý để phê phán; qua đó bảo vệ những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam về những vấn đề trên.
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể
như sau:
Thứ nhất, làm rõ quan điểm của Huntington về văn minh (khái niệm,
các yếu tố để xác định, mối quan hệ giữa các nền văn minh), sự va chạm của
các nền văn minh (nguyên nhân, biểu hiện sự va chạm), một trật tự thế giới
mới dựa trên các nền văn minh (văn minh với hợp tác kinh tế, văn minh với
chính trị, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc dựa trên nền văn minh)
Thứ hai, từ những quan điểm đó, so sánh, đối chiếu với những sự kiện
thực tế xảy ra trong những năm gần đây để chỉ ra những điểm hợp lý, những
điểm chưa hợp lý của Huntington.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các phạm trù văn hoá, văn minh, sự va chạm của các nền văn minh trong
luận văn được nghiên cứu không phải dưới góc độ văn hoá học mà được
7 7.Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về
văn hoá, văn minh, về các vấn đề quốc tế hiện nay; đặc biệt vấn đề quan hệ
giữa các trung tâm quyền lực lớn trên thế giới trong những năm đầu thế kỷ
XXI nói chung; nghiên cứu về tác giả - Huntington, tác phẩm – “Sự va chạm
của các nền văn minh” nói riêng.
8.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
hai chương, tám tiết.
9
chạm của các nền văn minh và trật tự thế giới, (The Clash of Cilivizations and
the Remaking of World Order) 1996…[Tham khảo các tài liệu số 32, 52]
1.1.2. Tác phẩm
“Sự va chạm của các nền văn minh” có nguồn gốc từ một bài báo có
tên “Sự va chạm của các nền văn minh” đăng trên Tạp chí Foreign Affairs, số
3, năm 1993. Sau khi bài báo được đăng, có nhiều ý kiến tranh luận khác
nhau. Tổng hợp chi tiết các cuộc tranh luận, Huntington đã đào sâu thêm từng
chi tiết và viết lại thành một quyển sách dày 367 trang với tựa đề “The Clash
of Civilizations and the Remaking of World Order” (Sự va chạm của các nền
văn minh và việc tái thiết lập trật tự thế giới) xuất bản năm 1996. Ở Việt
Nam, tác phẩm này được nhóm dịch giả Nguyễn Phương Sửu, Nguyễn Văn
Hạnh, Nguyễn Phương Nam, Lưu Ánh Tuyết nhà xuất bản Lao động ấn hành
năm 2003 với tiêu đề “Sự va chạm của các nền văn minh”
1.1.3. Một số đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội cơ bản giai đoạn cuối thế
kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.
Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến nhiều sự biến to lớn
về mọi mặt cả kinh tế, chính trị, xã hội. Sự biến đổi này đã được nhiều học
giả, nhà nghiên cứu và cả các chính trị gia phân tích tỉ mỉ, chi tiết trên nhiều
góc cạnh khác nhau. Khái quát lại, có thể thấy các đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, sự khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa xã hội nói chung và sự
sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô nói riêng
đã và đang tác động nghiêm trọng đến cục diện chính trị thế giới. Sự kiện này
dẫn đến ba hệ quả trực tiếp đó là: sự sụp đổ của trật tự thế giới cũ - trật tự
Ianta và sự hình thành những quan điểm về trật tự thế giới mới; nhiều liên kết
chính trị trước đây dựa trên nền tảng hệ tư tưởng mất đi và các liên kết chính
trị quốc tế mới đang hình thành; sự khủng hoảng về bản sắc, xác định các giá
trị cá nhân và vấn đề quay trở lại chủ nghĩa dân tộc. Ví dụ, trước đây để ngăn
mạnh tài chính để thống trị đại đa số nhân dân thế giới. Quá trình quốc tế hoá 11
kinh tế cũng kéo theo các mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, giữa các dân tộc
phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc, giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa các
nước đế quốc với nhau tăng cao. Hệ quả chính trị rõ rang nhất của quá trình
toàn cầu hóa này là: các nước tư bản phát triển đang ra sức bành trướng các quan
hệ tư bản chủ nghĩa ra toàn thế giới và thiết lập hệ thống phân công lao động thế
giới theo mô hình “trung tâm - ngoại vi” do họ là trung tâm phần còn lại của thế
giới là ngoại vi; ngược lại, các nước đang phát triển và chậm phát triển đang nỗ
lực tranh thủ quá trình toàn cầu hoá kinh tế để thực hiện kiểu phát triển rút ngắn và
phấn đấu cho một hệ thống phân công lao động thế giới và hệ thống quan hệ
quốc tế dân chủ và bình đẳng; các nước lớn vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau,
cạnh tranh quyết liệt với nhau trong việc đấu tranh để hình thành “trật tự thế
giới mới” thay thế cho “trật tự hai cực” đã tan vỡ cùng với sự sụp đổ của Liên
Xô. Mỹ muốn “trật tự đơn cực” do Mỹ làm bá chủ. Các nước khác, nhất là
Nga, Trung Quốc, EU, Ấn Độ…muốn “trật tự đa cực” mà bản thân họ cũng là
các cực đối trọng với Mỹ.
Thứ tư, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo,
chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố xảy ra nhiều nơi với
tính chất phức tạp ngày càng tăng. Quá trình toàn cầu hoá, bên cạnh tăng thêm
quan hệ hợp tác, hiểu biết giữa các quốc gia dân tộc cũng làm nảy sinh sự
thức tỉnh về lợi ích của các quốc gia dân tộc. Cộng với sự phát triển của chủ
nghĩa bá quyền, mưu toan làm bá chủ thế giới của chủ nghĩa đế quốc, đứng
đầu là Mỹ đã đẩy xung đột trong xã hội loài người hiện nay diễn ra dưới
những màu sắc dân tộc, tôn giáo, sắc tộc với những quy mô, phạm vi, mức độ
căng thẳng, quyết liệt khác nhau. Xu hướng của các xung đột này khi âm ỉ,
khi bùng phát; phạm vi của nó có thể trong một quốc gia, dân tộc thậm chí
13
1.2. Quan điểm của Huntington về văn minh, các nền văn minh trong lịch sử
và đương đại, mối quan hệ giữa các nền văn minh
1.2.1. Quan điểm về văn minh
Có thể thấy, trong tác phẩm “Sự va chạm của các nền văn minh”
Huntington không đưa ra một khái niệm đầy đủ về văn minh (một định
nghĩa), cũng không bàn sâu khái niệm văn minh theo nghĩa hàn lâm, truyền
thống mà ông chỉ đề cập và phân tích khái niệm này trong mối tương quan với
chính trị học, nhất là chính trị học gắn với thực tiễn giai đoạn cuối thế kỷ XX.
Bản chất, diện mạo, những yếu tố của nền văn minh được Huntington phân
tích qua các điểm chính như sau:
Thứ nhất, ông trích dẫn các nhà nghiên cứu và cho rằng văn minh được
các nhà tư tưởng Pháp đưa ra từ thế kỷ XVIII để đối lập với “man rợ”, xã hội
văn minh khác xã hội nguyên thủy vì nó được ổn định, đô thị hoá và có học
vấn. Khái niệm văn minh được hiểu theo nghĩa số nhiều – các nền văn minh.
Thứ hai, cơ sở để xác định và phân chia các nền văn minh khác nhau
Huntington căn cứ vào rất nhiều đặc điểm như chủng tộc, ngôn ngữ, lịch sử,
lối sống, huyết thống, tín ngưỡng, văn hóa “Văn minh có thể là một sự hoà
trộn phức tạp các mức cao của đạo đức, tôn giáo, học vấn, nghệ thuật, triết
học, công nghệ, phồn thịnh và có thể còn nhiều tố chất khác”[52-447]. Nhưng
theo ông yếu tố quan trọng nhất để phân chia và xác định các nền văn minh
đó là tôn giáo (TG nhấn mạnh). Ông cho rằng, những nền văn minh lớn trong
lịch sử nhân loại thường hiện diện trong mối quan hệ chặt chẽ với các tôn
giáo lớn của thế giới ví dụ như Thiên chúa giáo gắn với văn minh phương
Tây, Khổng giáo gắn với văn minh Trung Hoa, đạo Hồi gắn với văn minh Hồi
giáo Những người khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ và lịch sử nhưng có
thể rất đoàn kết với nhau do cùng chung tôn giáo. Ngược lại, những người
khác nhau về tôn giáo rất có thể xung đột dữ dội với nhau mặc dù họ cùng
minh không thực sự rành mạch nhưng có thực. 15
Thứ tư, nền văn minh không phải là cái cố định, bất biến, nó có thể chết
nhưng cũng có thể sống rất lâu; chúng tiến hoá, điều chỉnh, biến đổi tùy theo
các điều kiện xã hội cụ thể. Lịch sử đã chứng minh rằng, có nhiều nền văn
minh đã chết đi và nhiều nền văn minh mới xuất hiện (xem them trang 17,18
của luận văn). So với các thể chế chính trị hay các nhà nước thì nền văn minh
thường tồn tại dài hơn. Văn minh phương Tây, văn minh Hồi giáo, Trung
Hoa… là những nền văn minh như vậy, có nhiều thể chế chính trị đã ra đời,
lụi tàn và thể chế khác hình thành trên nền văn minh đó. Văn minh Khổng
giáo kéo dài hơn hai nghìn năm và nó chứng kiến rất nhiều những thể chế
chính trị của Trung Quốc trên đó.
Thứ năm, nền văn minh khác nhà nước, chúng không mang các bản chất,
chức năng như nhà nước. Nhà nước là các thực thể chính trị cấu thành của các
nền văn minh. Một nền văn minh có thể chứa đựng một hoặc nhiều đơn vị
chính trị. Các đơn vị này có thể là các bang, tiểu bang, các bộ tộc, dân tộc hay
các nhà nước. Nhật Bản, Ấn Độ là một nền văn minh và đồng thời là một nhà
nước. Các nền văn minh còn lại như phương Tây, Chính thống, Hồi giáo,
Khổng giáo, Mỹ Latinh có nhiều hơn một nhà nước.
Diện mạo của các nền văn minh được Hutington xác định ở năm đặc điểm
trên nhưng xuyên suốt tác phẩm ta thấy ông chỉ nhấn mạnh đặc điểm thứ hai
đó là tôn giáo. Các nền văn minh khác nhau là do theo các tôn giáo khác
nhau, xung đột giữa các nền văn minh cũng là xung đột tôn giáo, liên kết quốc
tế cũng được hình thành chủ yếu dựa trên sự tương đồng về tôn giáo.
Nếu so với các quan niệm truyền thống về văn minh thì ta thấy có những
sự khác biệt nhất định trong quan niệm của Huntington với các quan niệm
trước đó. Ví như, A.Toybee cho văn minh “là một kiểu xã hội mang tính lịch
đạo đức, văn học…” [42-96].
Tác giả Phạm Thái Việt và Đào Thế Tuấn lại cho rằng: “Văn minh dùng
để chỉ trình độ phát triển cao của một nền văn hoá”, “Ở cấp độ chung nhất, 17
văn minh được hiểu là sự tổng hoà những thành quả vật chất và tinh thần của
loài người trong quá trình cải tạo thế giới; là thước đo của tiến bộ xã hội và
mức độ khai hoá của con người. Khi loài người tách mình khỏi giới động vật
thì cũng là bước khởi đầu của văn minh” [61-15].
Xét về mặt nguồn gốc, khái niệm “văn minh” có nguồn gốc từ phương Tây
bắt nguồn từ chữ civitas (tiếng Latinh có nghĩa là “thành phố”). Từ nghĩa gốc
này kéo theo hàng loạt từ và nghĩa phái sinh trong các ngôn ngữ châu Âu như
“thị dân”, “công dân” (civilis), civilization là “làm cho trở thành đô thị, đầy đủ
tiện nghi như đô thị”. Như vậy, văn minh là khái niệm có nguồn gốc từ
phương Tây dùng để chỉ trình độ phát triển của con người về phương diện vật
chất kỹ thuật [57-31]. Trong cách hiểu và trình bày của mình, dường như
Huntington đã đồng nhất văn minh với văn hóa “văn minh và văn hoá, cả hai
đều hướng đến lối sống tổng thể của một dân tộc và nền văn minh là một nền
văn hoá mở rộng” [52-34]. Chúng ta có thể tham khảo hai định nghĩa về văn
hóa sau đây: văn hóa theo quan niệm của E.B. Taylor (1871-1925) “Văn hóa
là một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp,
tập quán cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành
viên của xã hội đã đạt được”; còn Federico Mayo, Tổng giám đốc UNESCO
cho rằng “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời
trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao
gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản
phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống,
lao động. Cách hiểu này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị
hay Hồi giáo. Trường hợp Phật giáo, Phật giáo là một trong năm tôn giáo thế
giới nhưng Phật giáo lại không gắn một nền văn minh nào, mà nguyên nhân
Huntington cho là do Phật giáo chia làm hai nhánh Tiểu thừa và Đại thừa,
điều này cũng sẽ dẫn đến những sự mâu thuẫn (Cơ đốc cũng chia làm Thiên
chúa, Tin lành và Chính thống) nhưng tôn giáo này lại được gắn với văn minh 19
phương Tây. Không phải ngẫu nhiên mỗi nền văn minh thường gắn với một
hoặc một vài quốc gia có tiềm lực mạnh về kinh tế, chính trị, an ninh quốc
phòng. Từ đó ta thấy, cách phân loại của ông hình như có vẻ dựa vào việc
nhìn xem quốc gia hoặc nhóm hoặc quốc gia nào có thể tạo nên thế lực thách
thức được sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ và phương Tây, rồi gán ghép
một thứ văn minh cho mỗi một nhóm hay quốc gia đó (việc xác định các nền
văn minh lớn, các nhà nước chủ chốt hay có thể trở thành nhà nước chủ chốt
của các nền văn minh).
Trong thực tế, có nhiều cách khác nhau để xác định các nền văn minh ví
như: nếu căn cứ vào địa lý ta có văn minh phương Đông, văn minh phương
Tây, văn minh Tây Á, văn minh sông Hồng…Người ta cũng có thể căn cứ
vào tôn giáo để xác định các nền văn minh như: văn minh Cơ đốc giáo, văn
minh Chính thống giáo, văn minh Hồi giáo…, hoặc căn cứ vào quan hệ sản
xuất, hay thể chế chính trị có: văn minh xã hội chủ nghĩa, văn minh tư bản
chủ nghĩa. Gần đây, có quan điểm gắn văn minh với trình độ phát triển của
sản xuất nên có văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu
công nghiệp…[2] Cách phân loại của Huntington chỉ là một cách, nó phục vụ
cho mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của ông.
Như vậy, có thể thấy, các quan niệm truyền thống thường quan niệm văn
minh là một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử và thường nó hay gắn
với trình độ phát triển nhất định của khoa học kỹ thuật (lực lượng sản xuất)
không xác định tôn giáo nào là trung tâm của văn minh Nhật Bản).
Văn minh Ấn Độ (Hinđu), theo ông nền văn minh này có thể gồm nhiều
nền văn minh kế tiếp nhau tồn tại trên tiểu lục địa Ấn Độ khoảng từ 1500 năm
trước công nguyên, Ấn Độ giáo là tôn giáo trung tâm của nền văn minh này. 21
Văn minh Hồi giáo, xuất xứ từ bán đảo Ả rập vào khoảng thế kỷ VII sau
công nguyên. Hồi giáo gồm các nước khối Ả rập, Thổ, Pecxic và Malay. Đạo
Hồi là tôn giáo trung tâm của nền văn minh này. Ở đây, tên gọi văn minh Hồi
giáo được Huntington đồng nhất với tôn giáo - đạo Hồi.
Văn minh Chính thống giáo, nền văn minh này có trung tâm ở Nga, tôn
giáo chính là Chính thống giáo (một nhánh của đạo Cơ đốc) mặc dù có nguồn
gốc từ Cơ đốc giáo nhưng văn minh Chính thống khác phương Tây do nó ít
tiếp xúc với các sự kiện của phong trào Phục hưng, Cải cách, Khai sáng và
các sự kiện khác của Trung và Tây Âu nên Chính thống giáo mang một bản
sắc riêng biệt. Ngoài nước Nga còn có các quốc gia thuộc Liên Xô cũ và một
số nước thuộc Đông Âu như Bulgary, Hungary, Serbia…
Văn minh phương Tây, có xuất xứ khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ IX. Nền
văn minh này bao gồm có ba thành phần chính: ở châu Âu, Bắc Mỹ và Mỹ
Latinh. Tôn giáo trung tâm là Cơ đốc giáo (Thiên chúa và Tin lành).
Văn minh Mỹ Latinh, có cội nguồn từ văn minh phương Tây nhưng do sự
kết hợp với các yếu tố bản địa nên văn minh Mỹ Latinh có những điểm khác
biệt so với phương Tây. Huntington không xác định cụ thể tôn giáo nào là
trung tâm của văn minh này. Thực ra, việc xác định có nền văn minh Mỹ
Latinh hay không theo ông đây vẫn là điều còn gây tranh luận.
Văn minh châu Phi, Huntington cũng không khẳng định châu Phi có là
một nền văn minh độc lập hay không, ông đưa ra dẫn chứng nhiều nhà nghiên
cứu cũng không thừa nhận có nền văn minh châu Phi độc lập. Xét về nguồn
lãnh thổ, các thành tựu về văn học, nghệ thuật cũng như khoa học. Từ thế kỷ
XI đến thế kỷ XIII, văn minh phương Tây bắt đầu phát triển và mở rộng địa
bàn của mình. Trong giai đoạn này, toàn bộ phần Đông Âu, bán đảo
Scandinavi và dọc bờ biển Baltic đã bị Cơ đốc hóa. Cùng với tôn giáo các yếu
tố khác của văn minh phương Tây như ngôn ngữ, luật lệ cũng ảnh hưởng chi 23
phối đến các vùng này. Từ khoảng thế kỷ XIII cho đến thế kỷ XVIII là thời
kỳ châu Âu của văn minh phương Tây. Trong giai đoạn này các nước châu
Âu do sự phát triển của khoa học kỹ thuật bắt đầu xâm chiếm các thị trường
thuộc địa. Châu Âu mở rộng địa bàn của mình sang châu Á, Phi, Mỹ Latinh.
Sự bình đẳng của các nền văn minh trong giai đoạn đầu đã nhường chỗ cho sự
ảnh hưởng áp đảo của văn minh phương Tây lên các nền văn minh khác. Cuối
thế kỷ XV chứng kiến cuộc chinh phạt cuối cùng của văn minh phương Tây
với bán đảo Iberia. Trong suốt hai trăm năm sau đó, toàn bộ tây bán cầu và
một phần đáng kể của châu Á bị đặt dưới sự cai trị của châu Âu. Cuối thế kỷ
XVIII, văn minh phương Tây chứng kiến sự thu bớt quyền kiểm soát của châu
Âu khi Hoa Kỳ, rồi đến Haiti và hầu hết Mỹ Latinh nổi dậy chống lại ách
thống trị của châu Âu và dành độc lập. Từ nửa cuối thế kỷ XIX cho đến đầu
thế kỷ XX là thời kỳ thống trị của phương Tây với toàn bộ thế giới, chủ nghĩa
đế quốc phương Tây đô hộ hầu hết châu Phi, một phần châu Á, Mỹ Latinh.
Đầu thế kỷ XX đặt toàn bộ Trung Đông (trừ Thổ Nhĩ Kỳ) dưới sự kiểm soát
trực tiếp hoặc gián tiếp của phương Tây. Trong suốt thời gian tiếp đó đến nửa
đầu thế kỷ XX, văn minh phương Tây hầu như thống trị toàn địa cầu (năm
1914 các nước thuộc văn minh phương Tây kiểm soát khoảng 84% diện tích
trái đất). Sự bành trướng của văn minh phương Tây do nhiều nguyên nhân
nhưng quan trọng nhất là sự phát triển của khoa học kỹ thuật như phương tiện
giao thông vận tải, vũ khí đã làm cho phương Tây nhanh chóng chinh phạt
Thứ hai, hệ thống quốc tế mở rộng ra ngoài phương Tây và trở nên đa văn
minh. Đồng thời, xung đột giữa các quốc gia phương Tây đã bị thay thế bởi
xung đột giữa các nền văn minh khác nhau.
Theo Huntington, các hệ tư tưởng lớn của thế kỷ XX như: chủ nghĩa
tự do, chủ nghĩa dân chủ, chủ nghĩa cộng sản…đều là sản phẩm của văn
minh phương Tây. Tuy vậy, phương Tây chưa bao giờ sinh ra một tôn
giáo lớn. Những tôn giáo lớn của thế giới đều sinh ra ở các nền văn minh