Quan hệ mỹ và trung quốc trong trật tự thế giới hiện nay - Pdf 13

ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



MÔN: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Tên đề tài:
QUAN HỆ TRUNG QUỐC - MỸ
GVHD : PGS.TS. Lê Phan Thị Diệu Thảo
Thực hiện : Nhóm 5
1. Nguyễn Phi Hùng
2. Nguyễn Thanh Điền
3. Bùi Nguyễn Trúc Linh
4. Nguyễn Thị Ngọc Oanh
5. Nguyễn Thanh Sang (1987)
6. Dương Thị Xuân Tiên
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 02/2014
Quan hệ Trung – Mỹ Nhóm 5
MỤC LỤC
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC THỰC HIỆN
Công việc Người phụ trách
1. Tổng quan về Mỹ và Trung Quốc LINH, OANH
2. Quan hệ thương mại giữa Mỹ và Trung
Quốc
HÙNG
3. Quan hệ đầu tư giữa Mỹ và Trung Quốc SANG
4. Quan hệ nợ giữa Mỹ và Trung Quốc ĐIỀN
5. Quan hệ giữa tỷ giá USD và Nhân dân tệ TIÊN
Tổng hợp và trình bày file word
Trình bày Power Point
Thuyết trình

- 4 -
xếp hạng chín thế giới về tổng sản lượng nội địa bình quân đầu người và hạng sáu về
tổng sản phẩm nội địa trên đầu người theo sức mua tương đương.
Sau đây là biểu đồ thể hiện GDP của một số nước có vị thế trên nền kinh tế thế
giới.
Biểu đồ 1.1: GDP năm 2013 tính theo PPP và giá hiện hành
Ngoài ra, Mỹ còn là nước nhập khẩu lớn nhất và xuất khẩu lớn thứ hai, mặc dù
kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người tương đối thấp. Trong năm 2013, Mỹ xuất
khẩu 2.272 tỷ USD và nhập 2.743 tỷ USD, như vậy tổng thâm hụt thương mại của Mỹ là
471 tỷ USD.
Biểu đồ 1.2: Xuất nhập khẩu về hàng hóa và dịch vụ của Mỹ 2009 - 2013
Nguồn: Bộ Thương Mại Hoa Kỳ
Theo ước tính của Cục Thống kê Mỹ thì Canada, Trung Quốc, Mexico, Nhật Bản
và Đức là các đối tác thương mại hàng đầu của họ. Nợ công của Mỹ ước tính vào quý 4
năm 2013 khoảng 16.738 tỷ đô
2
; trong đó Trung Quốc là chủ sở hữu nước ngoài lớn nhất
về nợ công của Mỹ.
Biểu đồ 1.3: Xuất nhập khẩu của Mỹ với các nước tháng 12. 2013
2Federal Debt: Total Public Debt (GFDEBTN). Federal Reserve Bank of St. Louis. April 5, 2013.
Retrieved April 5, 2013.
- 5 -
Năm 1944, Ngân hàng Thế giới (WB) được thành lập năm tại hội nghị Bretton
Woods cùng ba tổ chức khác trong đó có Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Cả WB và IMF
đều có trụ sở tại Washington D.C, và có mối quan hệ gần với nhau. Mặc dù có nhiều
nước tham dự Hội nghị Bretton Woods Conference, nhưng Hoa Kỳ và Liên Hiệp Anh là
có quyền lực nhất và chiếm ưu thế trong các cuộc đàm phán
3
. Trong năm 2010, quyền bỏ
phiếu tại Ngân hàng Thế giới đã được sửa đổi để tăng tiếng nói của các nước đang phát

Hoa, mở đầu kỷ nguyên độc lập và phát triển lâu dài, bền vững của đất nước Trung
Quốc.
Trung Quốc đứng đầu thế giới về dân số với hơn 1,3 tỷ người, phần lớn là người
Hán. Nhà nước Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo dưới chế độ một
chính trị một đảng. Đơn vị hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gồm 22 tỉnh,
năm khu tự trị, bốn thành phố trực thuộc trung ương (Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải,
Trùng Khánh) và hai đặc khu hành chính (HongKong và Ma Cao). Ngoài ra Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa cũng tuyên bố Đài Loan, hiện do Trung Hoa Dân Quốc kiểm soát là
tỉnh thứ 23. Thủ đô của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Bắc Kinh.
c. Tổng quan về kinh tế Trung Quốc.
Từ khi tiến hành đổi mới kinh tế năm 1978, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã trở
thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, với tốc độ phát triển thần kỳ trung bình
10% trong vòng ba thập kỷ liên tiếp.
Trung Quốc là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, cũng
như thành viên của các tổ chức quốc tế như WTO, APEC, G-20 và Tổ chức Hợp tác
Thượng Hải. Trung Quốc là quốc gia được công nhận có sở hữu vũ khí hạt nhân và là
quốc gia có quân đội chính quy lớn nhất thế giới. Trung Quốc được nhiều học giả, nhà
phân tích quân sự, nhà phân tích kinh tế đánh giá là một siêu cường tiềm năng. Cụ thể:
Năm 2006, GDP của Trung Quốc đã vượt 2.172 tỷ USD, trở thành nền kinh tế
lớn thứ ba thế giới. Tổng kim ngạch ngoại thương năm 2007 đạt trên 1,5 tỷ USD.
Trong đó, xuất siêu luôn đạt trên 100 tỷ USD/năm. Đến năm 2008, Trung Quốc đã
là thành viên đầy đủ của các tổ chức kinh tế, tài chính khu vực và thế giới với
lượng dự trữ ngoại tệ nhiều nhất thế giới (tháng 3-2008 là 1.530 tỷ USD). Dự trữ
- 7 -
ngoại hối đạt 2,85 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2010, tăng 18,7% so với năm trước
đó, biến Trung Quốc trở thành nước có lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới.
Trung Quốc có tổng giá trị thương mại quốc tế đạt 3,64 nghìn USD năm 2011.
Trung Quốc nắm giữ 1,16 nghìn tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ và trở thành chủ
nợ lớn nhất của Hoa Kỳ. Trung Quốc là nước nhận được lượng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) lớn thứ ba trên thế giới, quốc gia này đã thu hút 115 tỉ USD

Trung Quốc (1.300 tỷ USD) và Nhật Bản (1.100 tỷ USD). Trung Quốc là các đối tác
thương mại lớn thứ hai của Mỹ và đóng một vai trò rất quan trọng trong kế hoạch của
chính quyền Obama để giải quyết cuộc khủng hoảng và suy giảm Hệ thống tài chính Mỹ.
Đồng thời, kinh tế Trung Quốc cũng phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư và thương mại
của Mỹ.
2. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG
2.1. Tình hình giao thương giữa Mỹ và Trung Quốc
Xu hướng chung trong chính sách ngoại giao của các nước trên thế giới là tự do
hóa thương mại, hợp tác theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa. Mỹ và Trung Quốc là
hai nước điển hình đi đầu trong xu hướng này, tuy nhiên ở mỗi nước có những đặc thù và
diễn biến khác nhau.
Trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung, Trung Quốc cần công nghệ, vốn và thị
trường của Mỹ, Mỹ cần thị trường Trung Quốc và những sản phẩm giá hợp lý của Trung
Quốc. Các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ là dệt, hóa chất, quần áo, thực
phẩm, máy móc, đồ điện, Hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ Mỹ chủ yếu là những
sản phẩm công nghệ cao, tiên tiến như máy móc công nghiệp, sản phẩm điện tử, thiết bị
điện, thiết bị nghe nhìn, phụ kiện,…
Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO (2001), xuất khẩu của Trung Quốc vào Mỹ
luôn tăng ở mức kỷ lục, thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc năm 2002 là 102
tỷ USD, năm 2003 lên tới 130 tỷ USD, đến năm 2008 là 266.3 tỷ USD.
Việc thâm hụt thương mại đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế xã hội
Mỹ. Trong giai đoạn 2001 – 2003, Mỹ mất 2.7 triệu việc làm và năm 2002 lại có thêm
1.7 triệu dân Mỹ sống ở mức nghèo đói.
Một số nhà phân tích thương mại cho rằng, thâm hụt thương mại của Mỹ với
Trung Quốc lớn như vậy là do Trung Quốc vẫn duy trì một số hoạt động thương mại
- 9 -
không công bằng, với các chính sách bảo hộ, hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ, trong
khi không ngừng đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ.
Để bảo vệ sản xuất trong nước và dưới sức ép của nhóm lợi ích (ít có lợi thế cạnh
tranh), Quốc hội và Chính phủ Mỹ đã đưa ra nhiều biện pháp bảo hộ như áp dụng thuế

nền kinh tế lớn nhất thế giới.
2.2. Chính sách xuất khẩu của Trung Quốc
Thị trường xuất khẩu của Trung Quốc có thể chia thành 4 nhóm nước (vùng lãnh
thổ) như sau: Khu vực Hồng Kông, các nước công nghiệp hoá như Mỹ, Nhật, Tây Âu,
các nước đang phát triển, cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) và Ðông Âu. Hiện nay
các nước phát triển là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc (chiếm khoảng 40%
tổng kim ngạch xuất khẩu); tiếp đó là khu vực Hồng Kông; Ma Cao (33%). Các nước
đang phát triển (14%); các nước SNG và Ðông Âu lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của Trung Quốc.
Căn cứ vào nhu cầu thực tế của phát triển kinh tế, Trung Quốc thấy cần phải áp
dụng chiến lược đẩy mạnh triển khai thị trường xuất khẩu theo nhiều hướng, nhiều mức
độ khác nhau với nhiều phương thức mà chủ đạo là đa nguyên hoá thị trường và trọng
điểm là khu vực APEC và các nước xung quanh.
Trung Quốc đã áp dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu thu ngoại hối
bằng việc trợ giá xuất khẩutrong giai đoạn trước năm 1994, Trung Quốc đã cho phép
các xí nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) được giữ lại một phần ngoại hối, nâng đỡ tín dụng
đối với các xí nghiệp xuất khẩu; cho vay ưu đãi về lãi suất đối với những xí nghiệp mua
hàng để xuất khẩu và những vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu, miễn giảm thuế quan.
Thậm chí nếu các doanh nghiệp này bị lỗ vốn còn có thể được treo nợ tại Ngân hàng mà
thực tế là được Nhà nước xoá nợ. Tất cả các khuyến khích trên đều nhằm tăng cường
xuất khẩu và tạo ra ngoại hối.
Trung Quốc thực hiện nhất quán chính sách tỷ giá cố định, đồng nhân dân tệ yếu,
trong một thời gian dài để khuyến khích xuất khẩu, mặc dù bị Mỹ và các nước khác gây
áp lực đòi thả nổi tỷ giá.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng áp dụng chế độ hoàn thuế xuất khẩu. Hoàn thuế
gián tiếp hàng hoá xuất khẩu là cách làm thông dụng của các nước trên thế giới góp phần
củng cố và điều tiết chính sách thuế mậu dịch xuất khẩu. Từ năm 1983, Trung Quốc bắt
đầu thực hiện thử đối với 17 loại đồng hồ và các chi tiết linh kiện khác. Năm 1985 trở đi,
phạm vi hoàn thuế được mở rộng sang sản phẩm dầu thô, dầu thành phẩm, đến năm 1986
- 11 -

đối với hàng hóa Trung Quốc, để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi các nhà sản
- 12 -
xuất nước ngoài. Hoàn toàn không ngạc nhiên khi các nhà sản xuất Trung Quốc là các
nhà sản xuất bị điều tra bán giá thường xuyên nhất. Không những thế, họ còn đối mặt với
khả năng cao hơn về bán phá gia so với các nhà sản xuất khác, dẫn đến việc họ phải đối
mặt với thuế phá giá cao hơn mà Mỹ áp dụng so với các nhà sản xuất khác.
Tiếp tục gây sức ép đòi Trung Quốc thực hiện vấn đề quyền sở hữu trí tuệ: Mỹ
đã ép Trung Quốc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ từ rất lâu. Trong khi Trung Quốc cũng
cố gắng nỗ lực sửa lại luật và tăng cường tính hiệu lực của nó, thì nạn vi phạm bản quyền
vẫn không hề giảm. Khi Trung Quốc gia nhập WTO, họ đã cam kết thực hiện các yếu
cầu về vấn đề này. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Mỹ vẫn phàn nàn về việc thực hiện
quyền sở hữu trí tuệ ở Trung Quốc.
3. QUAN HỆ ĐẦU TƯ GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC
Theo số liệu thống kê từ Cục Phân tích Kinh tế của Mỹ (U.S. Bureau of Economic
Analysis – BEA), Mỹ đã đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc vào thập niên 80 khi đất nước
này mở cửa nền kinh tế. Cột móc đáng chú ý cho đầu tư của 2 nước khi Trung Quốc
chính thức gia nhập WTO năm 1999, tình hình đầu tư trực tiếp Mỹ vào Trung Quốc tăng
hơn 30%. Cuộc khủng hoảng dotcom năm 2000 ít nhiều ảnh hưởng đến tình hình đầu tư
song phương của hai nước nên những năm 2000 đến 2003 tỷ tăng trưởng đầu tư song
phương của hai nước có xu hướng chững lại theo tình hình chung của thế giới. Giai đoạn
2003-2008, cùng với sự phát triển của nền kinh tế tình hình đầu tư song phương phát
triển nhanh chóng. Từ 2008 đến nay, đầu tư từ Mỹ đã suy giảm về số vốn nhưng vẫn giữ
mở mức cao (trên 50 tỷ USD), trong khi đó đầu tư từ Trung Quốc vào Mỹ vẫn tăng
trưởng. Tính đến cuối năm 2012, số vốn đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc tăng gần 5 lần
và số vốn đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ tăng gấp 18 lần (so với 2003). Điều đó cho
thấy tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trực tiếp quá nhanh. Tuy nhiên về số lượng vốn đầu
tư trong 10 năm (2003-2012) của Mỹ (377,7 tỷ USD) lớn hơn Trung Quốc (17,5 tỷ USD)
hơn 20 lần. Qua đó cho thấy sự lớn mạnh trong đầu tư trực tiếp của Mỹ so với Trung
Quốc. Theo phân tích của Michael F. Martin (2012) trong báo cáo của CRS Report for
Congress cho thấy có sự khác biệt rất lớn về thống kê dòng giao dịch thương mại của Mỹ

2007 29.710 584
2008 53.927 1.105
2009 54.069 1.624
2010 58.996 3.300
2011 55.304 3.729
- 14 -
2012 51.363 5.154
Nguồn: Cục Phân tích Kinh Mỹ (U.S. Bureau of Economic Analysis – BEA)
Biểu đồ 3.1: Đầu tư trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc
Trong bài tổng hợp USB Economy in brief (2006) có đoạn trích dẫn từ Trung Tâm
Nghiên Cứu Quốc Hội Hoa Kỳ - CRS cho rằng các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài đổ
vào Mỹ dường như nhanh hơn cả tốc độ phát triển của Mỹ và cao hơn bất kỳ nơi nào của
thế giới do hệ thống tài chính của Mỹ phát triển cao và ổn định. Cần nhìn nhận thực tế
rằng việc tăng trưởng đầu tư song phương giữa hai nước được thúc đẩy thông qua đàm
phám chiến lược kinh tế (Strategic Economic Dialogue U.S & China), đặc biệt là đàm
phám song phương về đầu tư giữa hai nước (China-US bilateral investment treaty - BIT)
từ giữa 2008 (Qingjiang, 2010). Theo Thanh Hà (2014), vòng đàm phán BIT thứ 11 diễn
ra ngày 15/01/2014 tại Thượng Hải (Trung Quốc), hai bên thảo luận về việc mở cửa thị
trường đầu tư, bảo vệ các quyền và lợi ích của các nhà đầu tư, cạnh tranh công bằng,
lành mạnh trong các loại hình đầu tư và cách thức giải quyết những vấn đề phát sinh.
Theo Qingjiang (2010) BIT thành công sẽ mở ra cơ hội cho dòng vốn FDI giữa
hai cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới hiện nay tăng lên. Hiện nay, Trung Quốc là một
trong những quốc gia nhận FDI hàng đầu của thế giới và các nhà đầu tư Trung Quốc
đang đầu tư hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư sang thị trường Mỹ và ngược lại đều bị cản trở
đầu tư bởi các quy định ràng buộc của chính phủ. Trung Quốc rất cần các nguồn lực từ
FDI để phát triển đất nước, trong khi đó Mỹ là quốc gia đầu tư hàng đầu thế giới. Về
phía Mỹ, các nhà đầu tư gặp khó khăn khi tiếp cận các nguồn lực mà chính phủ Trung
Quốc ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước. Nhìn chung tình hình đầu tư của hai nước
có tiến triển nhưng chưa có cơ chế, quy tắc cụ thể để phát triển lâu dài dẫn đến khó khăn
trong một số mặt nhất định của đầu tư. Do vậy việc ra đời BIT giữa hai nước là hết sức

không có cách nào khác ngoài việc tiếp tục cho Mỹ vay nợ vì Trung Quốc sợ rằng Mỹ sẽ
phá sản một ngày nào đó. Đó cũng sẽ là một dấu chấm hết đối với Trung Quốc. Vì vậy,
nợ công là một tay mạnh mẽ để huy động vốn cho bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, sử
dụng nợ công bằng quy trình quản lý yếu kém sẽ dẫn đến sự mất kiểm soát. General
Motor là một minh chứng thích hợp cho trường hợp này (theo Bloomberg).
Theo Don P. Clark (2011), sự gia tăng FDI sẽ ảnh hưởng đến nợ công. Trung
Quốc và Mỹ là ví dụ thích hợp cho trường hợp này. Bằng chứng cho thấy rằng khi FDI
đến bất kỳ quốc gia nào càng lớn thì nó sẽ càng là một kênh quan trọng làm thay đổi tỷ lệ
lãi suất. FDI không chỉ có thể luân chuyển vòng quanh vốn, mà còn có thể vay nhiều hơn
từ bên trong quốc gia đó.
Vào những năm 90, Mỹ có nhiều FDI hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, khi Trung
Quốc đã sẵn sàng để tham gia vào nền kinh tế thế giới, dòng FDI đã thay đổi rất lớn và
chảy vào Trung Quốc. Ngày nay, Trung Quốc được biết đến là một quốc gia thu hút
nhiều FDI nhất. Tuy nhiên, vấn đề lớn của Trung Quốc lạm phát cao do không thể kiểm
soát được số lượng FDI.
Nợ chính quyền địa phương ở Trung Quốc đã chạm tới “mức báo động” và đe dọa
nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới, theo một cơ quan nghiên cứu của chính phủ.
Hai năm sau khi các nhà phân tích bày tỏ quan ngại, các khoản vay nợ của chính
quyền địa phương Trung Quốc dường như đã chất chồng nhiều hơn, lên đến 3.300 tỷ
USD tính đến cuối năm 2012, gấp đôi năm 2010.
Đó là số liệu trong báo cáo vừa được công bố của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Trung Quốc (CASS). Đây có thể là dấu hiệu mới nhất cho thấy Trung Quốc đầu tư quá
- 17 -
mạnh vào các dự án bất động sản và cơ sở hạ tầng, có khả năng dẫn đến một làn sóng vỡ
nợ và suy thoái kinh tế nghiêm trọng.
Trong khi nhiều nhà kinh tế kỳ vọng kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 7% trong
năm 2014, nhiều người quan ngại tính bền vững của các đầu kéo kinh tế. Các nhà lãnh
đạo nước này đang đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế theo định hướng thị trường mạnh
hơn, với hy vọng giúp phát huy các nguồn lực tốt hơn và giải quyết khối nợ công đang
có nguy cơ tiềm ẩn rất lớn.

Viện kiểm toán quốc gia công bố một bản báo cáo, theo đó tổng nợ công của
Trung Quốc đã tăng 400 % trong bốn năm qua : Tỷ lệ nợ công so với GDP của nền kinh
tế số 2 trên thế giới đang từ 17 % nhảy vọt lên thành 58 %.
Tích chung cả nợ của Nhà nước lẫn tư nhân, thì tỷ lệ này tăng từ 131 % năm 2008
lên thành 215 % vào năm 2013.
Đành rằng nợ công của Trung Quốc không thấm vào đâu so với Nhật Bản (250 %
GDP) hay của Hy Lạp (160 % GDP), nhưng các con số nói trên cho thấy khu vực kinh tế
Nhà nước Trung Quốc mắc nợ quá nhanh trong thời gian từ 4 đến 5 năm trở lại đây.
Tại sao nợ công của Trung Quốc lại tăng vọt trong thời gian gần đây ? Đó là do
thái độ ngông cuồng, tiêu xài quá trớn của các chính quyền địa phương. Trong hai năm
rưỡi vừa qua, tổng nợ công ở cấp địa phương tăng thêm 67 %, đạt ngưỡng 2.200 tỷ Euro.
Chỉ cách thủ đô Bắc Kinh có một giờ lái xe, khoảng 3 000 ngôi biệt thự sang
trọng vẫn chưa tìm được chủ.
Tại một thành phố khác ở miền đông bắc Trung Quốc thì có tới hàng chục ngàn
căn hộ do chính quyền bỏ tiền ra xây để rồi. Hiện nay, cứ trên 100 tòa cao ốc đang được
xây dựng trên thế giới thì có tới 60 công trình đang mọc lên tại Trung Quốc.
- 19 -
Biểu 4.1: Top 12 nước là chủ nợ hàng đầu của Mỹ
Nguồn: www.lewrockwell.com
4.2. Nợ công của Hoa Kỳ
Nợ công Hoa Kỳ là tổng số nợ của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Số nợ này từ thập
niên 1980, ngoại trừ một thời gian ngắn, gia tăng đều đặn, đặt biệt là vào thập niên 2000,
phần lớn vì chiến tranh ở Afghanistan và Iraq cũng như vì ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chánh từ năm 2007. Tính tới ngày 29 tháng 11 2011 số nợ công tổng cộng là
14,46 ngàn tỷ USD tương đương với 98,6 % Tổng sản phẩm nội địa. Tính tới ngày 2
tháng 12 2013 là 17,226 ngàn tỷ USD hay trên 100% GDP. 47% số tiền cho vay là từ các
nhà đầu tư ngoại quốc, từ Nhật Bản và Trung Quốc mỗi nước trên 1,1 ngàn tỷ.
Tổng nợ đã tăng lên trên 500 đô la Mỹ mỗi năm kể từ năm tài chính 2003, với
tăng 1000 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008, $ 1,9 nghìn tỷ trong năm 2009, và $ 1,7 nghìn tỷ
trong năm 2010. Tại thời điểm ngày 3 tháng tám năm 2011, tổng nợ công của Hoa Kỳ

giảm sức mua của người tiêu dùng do giá cả tăng cao.
“Trong trường hợp thực sự xảy ra vỡ nợ, lợi suất trái phiếu Bộ tài chính và các chi
phí vay vốn khác có lẽ sẽ tăng và giữ ở mức cao”, Julian Jessop, kinh tế gia trưởng toàn
cầu của Capital nhận định.
Những người có nhà và người mua nhà tiềm năng sẽ không thể tiếp cận các khoản
lãi suất thấp như khi Fed kiểm soát được nền kinh tế. “Toàn bộ tiền sẽ được giấu dưới
- 21 -
gối, và có lẽ nó sẽ không còn giá trị như ngày nay”, Kyle Bass, đến từ công ty quản lý
quỹ Hayman Capital Management nhận định.
3. Các khoản đầu tư bị giảm sụt
Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008, các chỉ số chứng khoản Mỹ đã lao
dốc không phanh. Chỉ số S&P mất 37% trong năm đó khiến nhiều khoản đầu tư của
những người về hưu tổn thất lớn, Viện nghiên cứu phúc lợi người lao động cho biết.
Mức độ ảnh hưởng ra sao sẽ phụ thuộc vào tài sản mỗi người nắm giữ là gì.
Những nhà đầu tư có tỉ lệ đầu tư cao vào chứng khoán sẽ chịu tổn thất lớn hơn những
người có danh mục đầu tư cân bằng. Theo ước tính của các nhà phân tích, thị trường tài
chính có thể sụt giảm từ 10% - 20%.
4. Chi trả an sinh xã hội bị đình trệ
Theo những ước tính của Bộ tài chính Mỹ, chính phủ nước này chỉ đủ tiền để chi
trả các hóa đơn cho tới ngày 17/10. Dù vậy các nhà phân tích tin rằng Bộ tài chính sẽ có
đủ tiền để thanh toán khoản chi trả an sinh xã hội 12 tỷ USD đến hạn vào đúng ngày đó.
Nhưng đến ngày 1/11, việc này sẽ không thể thực hiện khi Bộ tài chính Mỹ phải
trả 25 tỷ USD. Điều đó có nghĩa là rất nhiều người sẽ không nhận được trợ cấp. Đến
ngày 15/11, tình hình càng trở nên khó khăn hơn khi Bộ tài chính Mỹ phải trả 30 tỷ USD
nợ đến hạn.
5. Hoạt động ngân hàng đóng băng
Có một dữ liệu đáng ngại đó là các ngân hàng Mỹ nắm giữ khoảng 1850 tỷ USD
các khoản nợ khác nhau được chính phủ Mỹ bảo lãnh. Như vậy nếu chính phủ vỡ nợ, hậu
quả sẽ vô cùng tệ hại.
“Nếu Bộ tài chính và các chứng khoán liên quan bị vỡ nợ, không ai có thể biết giá

tới 50%: từ mức 5,75 CNY/USD năm 1993 lên 8,7 CNY/USD kể từ ngày 1/1/1994.
Đồng thời với việc điều chỉnh và phá giá mạnh đồng Nhân dân tệ, Trung Quốc huỷ bỏ
chế độ tỷ giá ấn định của Nhà nước để chuyển sang chế độ tỷ giá được thả nổi có quản
lý. Và để giảm bớt những tác động của chính sách tỷ giá lên thị trường tiền tệ, Trung
Quốc đã ban hành một loạt các quy định hỗ trợ như : thực hiện chế độ ngân hàng kết hối,
xoá bỏ sự ghìm giá và tăng giá ngoại hối của các công ty, xây dựng thị trường giao dịch
ngoại tệ liên ngân hàng, cải tiến cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái; cải tiến và hoàn thiện
4https://research.stlouisfed.org/fred2/graph/?graph_id=162923&category_id=0#
- 23 -
quản lý thu chi, kết toán ngoại hối, xoá bỏ kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi
ngoại hối… kết hợp với việc kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương đối với các
hoạt động ngoại hối ở các ngân hàng thương mại bằng cách quy định ngân hàng nào
được phép chuyển đổi và với số lượng là bao nhiêu. Các ngân hàng này có toàn quyền
hoạt động trong thị trường ngoại hối. Đối với các công ty nước ngoài, Trung Quốc yêu
cầu phải có bảng cân đối ngoại tệ hàng năm. Đối với các doanh nghiệp liên doanh với
nước ngoài phải có giấy phép đổi ngoại tệ mạnh sang Nhân dân tệ. Còn đối với doanh
nghiệp nhà nước. Nhà nước yêu cầu phải nộp 100% ngoại tệ thu được thay vì 50% như
trước đây
Biểu đồ: Tỷ giá CNY/USD 1995 - 2014
5
Kết quả của một loạt những điều chỉnh kết hợp thả lỏng và xiết chặt từng bộ phận
trong chính sách tỷ giá và tiền tệ vào thời điểm này đã có tác động tích cực nhanh chóng
khôi phục lại đà tăng trưởng trong xuất nhập khẩu và nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên,
Trung Quốc cũng đã phải chấp nhận trả giá bằng một mức lạm phát cao không mong
muốn năm 1994 là 24,24% (cao hơn năm 1993 24,24/ 14,58 = 66,25%), trong khi lạm
phát Mỹ năm 1994 chỉ ở mức 2,6%. Sang năm 1995, Chính phủ Trung Quốc kịp thời
điều chỉnh bằng chính cách thắt chặt tiền tệ (tốc độ tăng cung tiền giảm và lãi suất tăng),
lạm phát đã giảm xuống ở mức 16,9% và nhanh chóng trở lại ổn định, trong khi đó, tại
Mỹ lạm phát tăng lên mức 3%. Sự khác biệt về mức lạm phát ở cả hai quốc gia này đã
làm đồng nhân dân tệ bị lên giá tương đối so với USD và cuối cùng ổn định ở mức 8,3

CNY/USD để mở rộng xuất khẩu trong tình hình kinh tế khó khăn hiện tại. Tuy nhiên,
xuất khẩu Trung Quốc vẫn giảm dẫn đến thặng dư thương mại của Trung Quốc giảm
34% trong năm 2009.
Ngày 19 tháng 6 năm 2010, chính phủ Trung Quốc tuyên bố sẽ đẩy mạnh quá
trình cải cách chế độ tỷ giá đồng nhân dân tệ theo hướng linh hoạt hơn. Và trong 6 tháng
sau đó, khi Trung Quốc tái tiến hành cải cách tỷ giá, đến 21/9/2010, đồng nhân dân tệ đã
tăng giá gần 2%, ở mức 6,74 CNY/USD. Trước những diễn biến đó, Mỹ vẫn không lấy
làm hài lòng. Mục tiêu của chính phủ Mỹ là phải tăng giá đồng nhân dân tệ từ 20-24%.
Trung Quốc cho rằng cơ sở cho việc tăng giá đồng nội tệ của Trung Quốc trên quy mô
lớn chưa xuất hiện ở thời điểm này. Họ cho rằng đồng nhân dân tệ tăng giá quá mau,
cùng với chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xuất khẩu Trung Quốc leo thang, sẽ
càng làm lung lay đà hồi phục của thương mại thế giới. Những năm gần đây, các doanh
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status