Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du tt - Pdf 25

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
***** ĐậU THị HồNG TƯ TƯởNG NHÂN VĂN CủA NGUYễN DU

LUN VN THC S
Chuyờn ngnh: Trit hc
Hà Nội - 2012

Hà Nội - 2012

1
MỤC LỤC A.MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN DU 8
1.1. Những tiền đề hình thành tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du
*
8
1.1.1. Tiền đề kinh tế - xã hội 8
1.1.2. Điều kiện chính trị 9
1.1.3. Điều kiện văn hóa – tư tưởng 11
1.2. Nguyễn Du – cuộc đời và tư tưởng 20
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA
NGUYỄN DU VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
VIỆT NAM HIỆN NAY 34
2.1. Quan niệm của Nguyễn Du về thân phận con người 34
2.2. Tôn trọng, bảo vệ phẩm giá và khát vọng sống của con người đặc biệt
là người phụ nữ 46
2.3. Thái độ lên án những thế lực chà đạp lên phẩm giá của con người. . 58
2.4.Ý nghĩa của tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du đối với đời sống xã hội
Việt Nam hiện nay 76
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

1
A.MỞ ĐẦU

trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Như người kết tinh hoa từ
trong chiều sâu lịch sử đó, Nguyễn Du nổi lên như một gương mặt tiêu biểu về tư tưởng nhân
văn. Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du kết tinh sâu lắng nhất và cũng là hiện thân của tinh thần,

2
cốt cách con người Việt Nam rất cần được phát hiện thêm các chiều cạnh khác nhau để có thể
thấy được tầm tư tưởng triết học xứng đáng.
Hơn hai trăm năm trôi qua, đã có rất nhiều những công trình, tác phẩm, bài viết nghiên
cứu, đánh giá về Nguyễn Du ở nhiều gốc độ. Có lẽ chưa một tác gia nào được bàn nhiều, nghiên
cứu nhiều như Nguyễn Du. Cho đến nay, nghiên cứu về Nguyễn Du vẫn là một đề tài hấp dẫn và
“nói mãi không hết”. Những tư tưởng của Nguyễn Du đặc biệt là tư tưởng nhân văn không chỉ có
ý nghĩa đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thời đại ông bởi tính vượt thời đại của nó, bởi những tư
tưởng đó mở đầu cho trào lưu hướng đến con người cá nhân trong tt Vì những lý do trên mà tôi
lựa chọn đề tài tìm hiểu Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Nguyễn Du là một tác gia tiêu biểu của Việt Nam, những đóng góp của Nguyễn Du là rất
lớn, vì vậy những tác phẩm đánh giá, bình luận trên nhiều phương diện về Nguyễn Du rất nhiều
khó có thể thống kê được. Trong phạm vi luận văn này, tôi chỉ đề cập đến những tác phẩm tiêu
biểu, trong đó có nội dung liên quan bình giá đến tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du.
Về tinh thần nhân đạo, nhân văn của Nguyễn Du được nhiều học giả nghiên cứu. Trong
cuốn Khảo luận về Kim Vân Kiều, Đào Duy Anh đã lí giải tình cảm xót thương của Nguyễn Du
đối với những kiếp tài hoa nhưng xấu số và những kẻ nghèo khổ “dưới đáy xã hội” xuất phát từ
chỗ cho rằng bởi nhà thơ là người “đồng cảnh” với họ.
Song Trương Chính không đồng tình với cách nhìn nhận ấy. Theo ông, không phải lúc
nào và ở đâu Nguyễn Du cũng chỉ thấy mình và chỉ nghĩ đến mình. Trong sách giáo trình văn học
Việt Nam từ thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2001, Nguyễn Lộc cũng khẳng
định: Nguyễn Du không bao giờ “chỉ ngồi ngắm cái bóng dưới chân mình”. Và ông còn đi xa hơn
khi cho rằng trong thi phẩm của Nguyễn Du thấm nhuần một chủ nghĩa nhân đạo: Nguyễn Du
luôn quan tâm đến cuộc đời, đến con người, “không chỉ riêng Trung Quốc mà của cả Việt Nam”,
“khắp nhân gian”, “khắp cõi người”. Vậy là tình thương của Nguyễn Du từ chỗ được lí giải như

Có thể khẳng định, các sáng tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về số lượng nhưng có
vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học và văn hóa dân tộc. Và cũng chính vì thế, số lượng
những bài bình giá, những tác phẩm nghiên cứu về chủ đề tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du là
rất lớn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về Nguyễn Du trong chừng mực nhất định thường chú
trọng tìm hiểu tư tưởng nhân đạo đó thể hiện ở Truyện Kiều – là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn
Du mà ít có sự quan tâm đến những tác phẩm thơ chữ Hán và chữ nôm khác. Đặc biệt, với tư
cách là nhà thơ có tư tưởng nhân văn sâu sắc nhưng di sản của Nguyễn Du chưa được các nhà
nghiên cứu tìm hiểu sâu về tư tưởng này mà có chăng chỉ là sự nghiên cứu dưới những góc độ
nhỏ lẻ. Chính những yêu cầu bức thiết đó, trong giới hạn luận văn triết học, chúng tôi kế thừa các
giá trị của những người nghiên cứu trước đồng tập trung nghiên cứu những tư tưởng nhân văn của
Nguyễn Du một cách đầy đủ hơn với hy vọng giải đáp chúng một cách rõ ràng hơn trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu một số nội dung của tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du.
Nhiệm vụ nghiên cứu:

4
 Tìm hiểu những tiền đề hình thành tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du.
 Nêu và phân tích những biểu hiện nội dung cơ bản tư tưởng nhân văn của Nguyễn
Du.
 Tìm hiểu giá trị tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du đối với sự phát triển của lịch sử tư
tưởng.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Tác phẩm của Nguyễn Du khá đồ sộ và chứa nhiều nội dung, tuy nhiên trong
giới hạn đề tài của luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nội dung tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du.
Phạm vi nghiên cứu: Biểu hiện của tư tưởng nhân văn chủ yếu qua cuộc đời và thơ văn
Nguyễn Du.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu: Trong luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp logic kết hợp

thống trị đã gây nên mâu thuẫn lớn, cơ bản nhất của xã hội – mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ
phong kiến, làm nên nguồn gốc căn bản của mọi tệ nạn xã hội. Mặt khác, để dồn sức cho chiến
tranh và phục vụ cho sự ăn chơi xa đọa, bọn vua chúa đã đẩy chính sách thuế khóa, phu phen tạp
dịch đến mức vô cùng nặng nề.
Từ thế kỷ XVIII cũng là thế kỷ mà nền kinh tế hàng hóa phát triển khá mạnh. Các nghề
thủ công như nghề khai mỏ ở miền núi, ươm tơ, kéo sợi, dệt vải ở miền xuôi phát triển. Lưu
thông hàng hóa trở thành nhu cầu cấp bách. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các
đô thị cũng phát triển với tốc độ ngạc nhiên. Tuy nó chưa đủ để tạo ra một cơ sở tiền tư bản chủ
nghĩa ở Việt Nam nhưng nó đã góp phần làm cho mâu thuẫn xã hội phong kiến trở nên gay gắt từ
khi xu thế dùng tiền để thao túng quan hệ xã hội.
1.1.2. Điều kiện chính trị:
Nếu như nền kinh tế trong giai đoạn này bị suy thoái, trì trệ trầm trọng thì về mặt chính
trị cũng không kém phần khủng hoảng. Có thể khái quát, tình hình chính trị giai đoạn này nổi lên
hai đặc điểm cơ bản là đó là sự suy đồi, thối nát của bộ máy cai trị và tinh thần quật khởi đòi
quyền sống của quần chúng, đặc biệt là giai cấp nông dân.
Sự suy đồi và phản động của giai cấp phong kiến đã trở thành chất xúc tác mạnh mẽ
nhóm lên ngọn lửa căm hờn trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân. Phong trào
nông dân nổi lên mạnh mẽ là tất yếu lịch sử. Thời kỳ này cũng đánh dấu bằng phong trào khởi
nghĩa của nông dân. Trong đó có cuộc khởi nghĩa lớn kéo dài hàng chục năm như cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (từ 1741- 1751), hoạt động trên một vùng rộng lớn của đồng bằng
Bắc Bộ, uy hiếp cả kinh thành Thăng Long, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương ở Sơn
Tây rồi tràn sang Thái Nguyên, Tuyên Quang. Cuộc khởi nghĩa của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ
đã cuốn đi những gì rác rưởi của thời đại, đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước. Mặc dù sự xuất
hiện của triều đại Tây Sơn rốt cuộc vẫn là sự thay thế triều đại phong kiến này bằng một triều đại

*
* Những tư liệu về lịch sử mục 1.1 lấy từ nguồn “Truyện kiều và chủ nghĩa hiện thực của
nguyễn du, Nxb KHXH, Hà Nội, 1970 ” của Lê Đình Kỵ
Là một cậu ấm con quan, song cuộc đời Nguyễn Du không phải lúc nào cũng sống trong
nhung lụa gấm vóc. Chính cuộc sống gió bụi đã giúp Nguyễn Du có điều kiện hiểu sâu sắc hơn về
cuộc đời của những người phụ nữ đặc biệt là số phận của những ca kỹ. Có lẽ chính những người
phụ nữ mà ông bắt gặp ở nhà anh mình đã trở thành nguyên mẫu cho các nhân vật trong các tác
phẩm của ông như Đạm Tiên, Thúy Kiều trong Truyện Kiều và người gẩy đàn trong Long thành
cầm giả ca…

7
Nguồn gốc tư tưởng của Nguyễn Du trước hết là Nho giáo. Cũng giống như các nhà Nho
xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, Nguyễn Du chịu ảnh hưởng mạnh từ các tư tưởng của Nho gia.
Hơn thế nữa, tuy là một nhà Nho nhưng Nguyễn Du cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng
Phật giáo và Đạo giáo. Điều đáng ghi nhận là ở thời đại Nguyễn Du, Phật giáo Việt Nam không
còn chiếm địa vị độc tôn như thời Lý - Trần. Khi nhà Minh sang xâm lược nước ta, tướng
Trương Phụ đã đem toàn bộ kinh điển Phật giáo về Kim Lăng hoặc thiêu đốt hết. Nho giáo cùng
với chế độ thi cử đã lấn át hết tư tưởng chính thống của giới trí thức đương thời, ít người có điều
kiện nghiên cứu kỹ Phật giáo như Nguyễn Du. Và Phật giáo trong lòng nhân sĩ chỉ là một mớ tư
tưởng chán đời, yếm thế vì thế những đóng góp của Nguyễn Du rất đáng trân trọng. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN DU VÀ GIÁ
TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quan niệm của Nguyễn Du về thân phận con người.
Có thể khẳng định giá trị toàn hảo của các tác phẩm của Nguyễn Du không thể chỉ nằm
trong tính kiệt tác của nghệ thuật văn chương, mà còn nằm trong tư tưởng mà văn chương ấy
chuyển tải. Và Nguyễn Du đã không đi vào tâm tư của người Việt, nếu Nguyễn Du chỉ là người
người thợ tuyệt xảo của từ chương mà không có tư tưởng, triết lý nhân văn sâu sắc.
Như chúng ta đã nói ở trên, Nguyễn Du là một nhà Nho, tuy nhiên ông chịu ảnh hưởng
của nhiều tư tưởng khác ngoài Nho giáo mà tiêu biểu nhất phải kể đến Phật giáo và Đạo giáo.
Chính vì vậy, quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và con người chịu nhiều ảnh hưởng của
nhân sinh quan Phật giáo và Đạo giáo. Nguyễn Du thấm thía triết lý của đạo Phật coi cuộc đời là

khẳng định thể “tự do luyến ái” trong phạm vi cho phép của xã hội phong kiến.
Những tư tưởng nhân văn ấy ẩn sâu trong từng lời thơ và chúng ta dễ nhận thấy tấm lòng
xót thương bao la đối với thân phận con người bị chà đạp, lòng tôn trọng phẩm giá đối với những
con người tưởng chừng đã chìm xuống tận dưới đáy cùng của xã hội. Không dừng lại ở đó, giữa
cảnh ngột ngạt của xã hội phong kiến ấy vẫn ngời sáng một tình yêu mãnh liệt đối với cuộc sống.
Giữa những xấu xa, tàn ác, những cái dối trá, lừa lọc được miêu tả trong các tác phẩm của
Nguyễn Du thì ẩn đằng sau nó dường như vẫn bùng cháy ngọn lửa của hy vọng - hy vọng về một
ngày mai tốt đẹp hơn, hy vọng rằng tất yếu lẽ phải sẽ chiến thắng. Những bọn bất nhân bạc ác rồi
cuối cùng bị trừng trị, những người lương thiện dù trải qua gió dập sóng dồi, nhưng cuối cùng sẽ
gặp điều hay. Có thể có người cho rằng lòng tin ấy là ngây thơ và cảnh đoàn viên kết thúc Truyện
Kiều là gượng gạo, nhưng có lẽ chính lòng tin, niềm hy vọng ấy là chính là sức mạnh đưa
Nguyễn Du trở về với nhân dân, là nhà thơ, nhà tư tưởng của nhân dân muôn đời nay.
2.3. Thái độ lên án những thế lực chà đạp lên phẩm giá con người.
Nếu như các sáng tác thơ văn thời kỳ Nho giáo hưng thịnh, nội dung chủ yếu của các nhà
thơ là ngợi ca vương triều, tụng ca thánh đế, tụng ca một thời vua sáng tôi hiền. Còn Nguyễn Du
lại đi ngược lại, thơ văn của ông thể hiện một sự nhận thức bao quát hiện thực rộng lớn, mở rộng
diện đề tài và phản ánh đa dạng số phận con người, từ cảnh ngộ ông lão đói nghèo đến người gảy

9
đàn ở thành Thăng Long, từ những người thường gặp chung quanh đến những nhân vật chìm
khuất trong lịch sử, từ nỗi nhớ người thân đến biết bao cảnh đời trầm luân trên đường đi sứ Trung
Hoa Trên tất cả là sự nhập thân, cảm thông sâu sắc của chính tấm lòng Nguyễn Du với mọi kiếp
con người. Mỗi tác phẩm của Nguyễn Du đều thể hiện một tư tưởng nhân văn một cách nhìn
riêng, một điểm nhìn khác biệt trước thực tại. Phải có một tư tưởng nhân văn sâu sắc, một năng
lực sáng tạo phi thường và ‘con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả ngàn đời', 'lời
văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng
phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột' (lời Tiên Phong Mộng Liên Ðường chủ nhân) thì
Nguyễn Du mới có được kiệt tác Truyện Kiều và những vần thơ chữ Hán chất nặng suy tư.
Nguyễn Du không phải là người đầu tiên và duy nhất tố cáo tội ác gieo xuống đầu nhân
dân. Tuy nhiên, thông qua các tác phẩm của mình, ông đã nói lên một cách tinh vi và sâu sắc nỗi

Có thể khẳng định tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du là yếu tố đặc sắc cấu thành chủ
nghĩa nhân văn Việt Nam truyền thống. Mặt khác, nó còn là yếu tố tích cực góp phần hình thành
nên tư tưởng nhân văn mới. Bởi vì chính lòng yêu thương con người, sự cảm thông chia sẻ đối
với những người có số phận bất hạnh đã góp phần làm nên bản sắc dân tộc Việt Nam, lối sống
con người Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Bên sự tôn trọng phẩm giá của con người, coi
trọng tài năng của con người đặc biệt là người phụ nữ, Cái quý giá nhất ở Nguyễn Du không chỉ
là sự khẳng định giá trị con người nói chung, mà còn là – và chủ yếu là – sự khẳng định giá trị
con người với tư cách cá nhân. Nguyễn Du đã mạnh dạn vượt ra khuôn khổ “văn dĩ tải đạo” để
đề cao cái tôi, đề cao ý thức cá nhân con người. Truyện Kiều là một truyện thương thân, xót thân
thấm thía nhất cũng bởi Nguyễn Du không ngần ngại đề cập đến nỗi đau, tâm trạng ê chề, khát
khao hạnh phúc thực sự, ý thức về nhân cách của người phụ nữ chốn lầu xanh.
Ở một góc độ nào đó, thơ văn của Nguyễn Du là tiếng kêu cứu của những con người bị
dìm xuống đáy xã hội. Nét mới trong chủ nghĩa nhân văn của Nguyễn Du là chú ý đến thân phận
cá nhân. Lần đầu tiên trong văn học trung đại, người ta biết “xót thân”. Nguyễn Du là người đầu
tiên tìm đến và chia sẻ tình cảm này, tạo nên một trào lưu nhân văn chủ nghĩa: Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm…
* Hạn chế:
Trong tư tưởng của mình thể hiện qua các tác phẩm nghệ thuật, Nguyễn Du thể hiện sự
đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ của nhân dân, trên cơ sở đó ông đã phê phán chế độ phong kiến chà
đạp lên quyền sống của con tuy nhiên với tư cách là một nhà tư tưởng thì ông lại dằn vặt trong
những suy nghĩ không lối thoát về số phận con người. Ông dùng triết lý đạo Khổng để giải thích
cho bao cảnh khốn khó và bất công nhưng không thể giải thích nổi. Ông đã quay sang cái thuyết
nghiệp duyên của đạo Phật cho rằng người đời kéo theo mình những món nợ của kiếp này qua
kiếp khác, kiếp này phải trả nợ kiếp trước rồi kiếp sau lại chịu lấy hậu quả của cuộc sống hiện tại.
Vì thế cho nên nàng Kiều của ông tài sắc ai bì mà không ngớt chịu hết tai nọ đến họa kia. Mâu
thuẫn này nằm trong toàn bộ tác phẩm của ông, đó là mâu thuẫn giữa tình cảm của một nghệ sỹ
và niềm cảm thương sâu sắc với mọi thực tế mà con người đang phải gáng chịu, của xã hội và suy
nghĩ của một nhà triết học siêu hình bế tắc với các khái niệm về số kiếp. Cuối cùng, Nguyễn Du

11

trường tân thanh, có Từ điển Truyện Kiều, có tiểu thuyết Ba trăm năm lẻ. Nhưng vấn đề Nguyễn
Du và tư tưởng của ông thì có lẽ chẳng bao giờ chúng ta hiểu hết. Cuộc đi tìm hiểu Nguyễn Du sẽ
là những cố gắng của nhiều thế hệ hậu sinh. Chúng ta cần có thơ Nguyễn Du trong cuộc đời, cần
có tình Nguyễn Du trong sự sống, nên càng cần hiểu biết về ông. Tư tưởng nhân văn của Nguyễn

12
Du mênh mông, tấm lòng của ông rộng lớn. Tuy nhiên, những tư tưởng của ông không tránh khỏi
những hạn chế mang tính giai cấp và thời đại. Nguyễn Du yêu thương con người, nhưng chính
Nguyễn Du cũng chưa tìm ra lời giải đáp cho những đau khổ mà con người trong xã hội phong
kiến phải gánh chịu. Vì vậy, nước mắt Nguyễn Du trải dài trên trang giấy và đồng vọng cùng
chúng ta đến ngày nay và chính ông cũng luôn mong chờ những câu trả lời của hậu thế:
Bất tri bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Và ngày hôm nay, chúng ta không chỉ khóc thương cho Tố Như, cho những
người phụ nữ như Thúy Kiều, Tiểu Thanh mà còn thông qua hành động cụ thể, bằng việc không
ngừng đấu tranh cho một xã hội công bằng, bình đẳng, cho cuộc sống của mỗi con người trên trái
đất này được sung sướng. Những khát vọng cá nhân mà Nguyễn Du hằng trăn trở, số phận con
người mà Nguyễn Du luôn đau đáu dõi theo là vấn đề muôn thuở của đời người. Công cuộc giải
phóng con người khỏi những áp bức, bất công cũng chính là mục tiêu hướng đến của xã hội ngày
nay. Đặc biệt, số phận người phụ nữ đã có những thay đổi. Ngày nay, người phụ nữ đã được quan
tâm, được xã hội thừa nhận, đã hình thành nên tư tưởng “nam nữ bình đẳng”; người phụ nữ đã
được đứng ngang hàng với nam giới trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, đâu đó trên thế giới này vẫn
còn tồn tại thái độ coi thường phụ nữ. Hàng ngày chúng ta vẫn bắt gặp những hình ảnh “bạo lực
gia đình”, những tư tưởng “trọng nam khinh nữ”…Đó chính là hậu quả của những tư tưởng
phong kiến còn tồn tại lâu đời trong một bộ phận người dâm. Đấu tranh chống những tệ nạn đó,
đấu tranh đòi quyền tự do cho con người đặc biệt là người phụ nữ cũng chính là sự tiếp nối
truyền thống nhân văn của cha ông ta đi trước, trong đó có Nguyễn Du.

21. Nguyễn Văn Huyên (1998), Giá trị truyền thống – nhân lõi và sức sống bên trong của sự
phát triển đất nước, dân tộc, Tạp chí Triết học, số 4.
22. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội.

14
23. Nguyễn Thị Hương (2001), Tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam thế kỷ X-XV: nội
dung và phương pháp kế thừa, luận án tiến sĩ khoa học triết học.
24. Trần Đình Hượu (1995), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
25. Trần Đình Hượu ,(2007), Các bài giảng về tư tưởng Phương Đông, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội.
26. Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học trung cận đại Việt Nam, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
27. Vũ Khiêu (1984), Chủ nghĩa nhân đạo với việc giáo dục thế hệ trẻ, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
28. Vũ Khiêu (1974), Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
29. Vũ Khiêu (1993), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh – truyền thống dân tộc và nhân loại,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
30. Lương Đình Khuê (1992), Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu
phát triển của xã hội hiện đại, Tạp chí Triết học, số 4.
31. Lê Đình Kỵ (1970), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
32. Lê Đình Kỵ (1970), Nguyễn Du và đạo đức phong kiến, Tạp chí Văn học, số 9.
33. Lê Thị Lan (2007), Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân phận con người, Tạp
chí Triết học (số 9), Tr.49-53
34. Lê Thị Lan (2005), Một số giá trị đạo đức trong quan niệm của Nguyễn Du, Tạp chí
Triết học, số 12.
35. Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí
Minh.
36. Phan Huy Lê (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 3, thời kỳ khủng hoảng và

Kiều, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2005.
52. Hà Nhật Thăng (1998), giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
53. Nguyễn Thị Hồng Thắng (2000), Một số vấn đề về chủ nghĩa hiện thực trong tác phẩm
Truyện Kiều của Nguyễn Du, Luận văn thạc sỹ văn học.
54. Lê Sỹ Thắng (1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập 2, Nxb Văm hóa – thông tin, Hà
Nội.,
55. Bùi Khánh Thế (1999), Bản sắc văn hóa – tiếp cận từ ngôn ngữ trong bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Nxb TP. HCM
56. Trần Ngọc Thêm (1996), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Trường ĐH Tổng hợp Thành
phố Hồ Chí Minh.
57. Nguyễn Đăng Thục (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
58. Nguyễn Khắc Thường (2007), Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIX,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
59. Trần Nho Thìn (2004), Cảm nhận của Nguyễn Du về xã hội trong Truyện Kiều, Tạp chí
văn học, số 5, 6.

16
60. Trần Nho Thìn (2002), Nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại từ góc độ văn hóa
học, Tạp chí văn học, số 2.
61. Trần Nho Thìn (2003), Tài tình – một vấn đề văn hóa của thời đại Nguyễn Du, Tạp chí
văn học, số 7.
62. Đỗ Lai Thúy (2005), Nhìn lại Nguyễn Du và Truyện Kiều, Kỷ niệm 240 năm ngày sinh
Nguyễn Du, Tạp chí Xưa và nay, số 249, Tr. 9-10.
63. Nguyễn Tài Thư (1985), Xã hội phong kiến với sự phát triển của con người Việt Nam
trong lịch sử, Tạp chí Triết học, số 4, Tr. 111-125.
64. Nguyễn Tài Thư (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
65. Nguyễn Tài Thư (1997), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người
hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status