ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐẮC LÝ
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN
NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ XÃ HỘI LÝ
TƯỞNG
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Thanh Bình
2
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Nho giáo hình thành ở Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam cách đây
hàng ngàn năm. Từ khi hình thành chế độ phong kiến Việt Nam, đặc biệt từ thế
kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đều sử dụng
Nho giáo với tư cách là hệ tư tưởng và là công cụ để trị nước và quản lý xã hội,
đều vận dụng quan niệm của Nho giáo về mô hình xã hội lý tưởng để kiến lập
và phát triển xã hội phong kiến Việt Nam về mọi mặt. Đồng thời, với tư cách là
một trong những hình thái ý thức xã hội, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt,
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con người Việt Nam, là một trong những
yếu tố căn bản góp phần hình thành và tác động sâu sắc đến văn hóa truyền
thống Việt Nam.
Ngày nay, nhân loại đang bước vào nền văn minh công nghệ với những
biến đổi sâu sắc, xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, v.v. Nước ta đang tiến
hành xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
có sự quản lý của nhà nước. Ở nước ta hiện nay, tuy cơ sở kinh tế - xã hội của
Nho giáo về cơ bản không còn tồn tại, nhưng Nho giáo không phải đã mất đi,
mà nó còn tồn tại dai dẳng, lâu dài và tác động tích cực và cả tiêu cực đến nhiều
mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con người Việt Nam. Vì vậy, vấn đề
có ý nghĩa lí luận và thực tiễn cấp thiết là, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã
lý tưởng” làm đề tài nghiên cứu của Luận văn thạc sĩ Triết học này, với hy vọng
làm sáng tỏ thêm những tiền đề, điều kiện dẫn đến sự hình thành quan điểm của
Nho giáo về xã hội lý tưởng và một nội dung cơ bản của Nho giáo về xã hội lý
tưởng, qua đó có căn cứ để vạch ra một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong quan
niệm ấy.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nho giáo đã du nhập và phát triển ở Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch
sử, nó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Việt Nam, là công cụ quan
4
trọng trong việc cai trị, quản lý xã hội của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam.
Vì vậy, việc nghiên cứu Nho giáo và vai trò, ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt
Nam là một vấn đề thu hút nhiều người quan tâm. Từ trước cho đến nay, liên
quan đến đề tài, việc nghiên cứu Nho giáo nói chung và quan niệm của Nho
giáo về xã hội lý tưởng nói riêng có thể khái quát thành hai hướng chính:
- Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu Nho giáo là để hiểu đúng về
Nho giáo, thấy được những giá trị tích cực và những hạn chế tiêu cực của Nho
giáo và nhất là vai trò, ảnh hưởng của nó đối với xã hội và con người Việt Nam.
Hướng nghiên cứu này thu hút được nhiều người quan tâm và được nghiên cứu
ở nhiều góc độ khác nhau. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công
trình nghiên cứu của Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Nguyễn Đăng Thục,
Đào Duy Anh, Quang Đạm, Vũ Khiêu, Trần Văn Giàu, Phan Ngọc, Nguyễn Tài
Thư, Lê Sỹ Thắng, Trần Đình Hượu, Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Trần Ngọc
Vương, Vũ Minh Tâm, Lê Văn Quán, Trần Nguyên Việt,…v.v.
Trong các công trình nghiên cứu này, trước hết phải kể đến các công trình
nghiên cứu của Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, v.v. Các ông nghiên cứu Nho
giáo qua lăng kính của nhà nho và với sự tôn sùng Nho giáo, cho nên họ đều
nhìn thấy Nho giáo không chỉ là một học thuyết chính trị - xã hội mà còn là học
thuyết đạo đức học, học thuyết triết học. Các ông đặc biệt đề cao vai trò của
Nho giáo trong xây dựng và hoàn thiện đạo đức của con người và xã hội; coi
đầu tìm hiểu Bác Hồ với học thuyết của Nho gia, tác giả Lê Văn Quán đã đưa ra
những dẫn chứng để chứng minh học thuyết Nho gia đã ảnh hưởng đến Bác Hồ
như thế nào. Bác đã khẳng định cần phải kế thừa, phát huy những điểm tích cực
của Nho gia và nhấn mạnh giáo dục, cần phải kết hợp giữa học với hành; người
cách mạng phải hội đủ 5 điều: trí – tín – nhân – dũng – liêm. Và tác giả cũng chỉ
ra rằng, trên thực tế, Bác đã kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố Nho giáo với truyền
thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc: nhân, nghĩa, trí, tín, dũng, trung, cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư. Cũng tác giả Lê Văn Quán, với bài viết Bác Hồ với
6
học thuyết Nho giáo đã khẳng định, Hồ Chí Minh là người rất am hiểu Nho giáo
và vận dụng một cách tài tình những tinh hoa của Nho giáo vào điều kiện cách
mạng nước ta. Người vận dụng Nho giáo trong việc rèn luyện đạo đức cách
mạng, trong việc phê phán tư tưởng trọng nam khinh nữ đồng thời phản đối chế
độ đẳng cấp Nho giáo. Hay như tác giả Nguyễn Văn Hồng với bài viết Ảnh
hưởng của văn hóa Khổng giáo Trung Hoa qua sự tiếp nhận chọn lọc, sáng
tạo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, qua phân tích đã đi đến khẳng định,
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức, Người đã chọn lọc
những tinh hoa từ những chuẩn mực đạo đức Nho giáo và vận dụng một cách
sáng tạo vào điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam….vv. Ngoài ra, nghiên cứu
vấn đề này, còn có nhiều tác giả khác như tác giả Phan Văn Hoàng với bài viết
Chủ tịch Hồ Chí Minh với những yếu tố tích cực của Nho giáo; tác giả Minh
Anh với bài viết Hồ Chí Minh với Nho giáo; tác giả Kiều Thu Hoạch với bài
viết Hồ Chí Minh với di sản Nho giáo; tác giả Lê Ngọc Tân với bài Hồ Chí
Minh và tư tưởng Khổng giáo; …v.v.
- Hướng nghiên cứu thứ hai: Nghiên cứu Nho giáo chỉ chủ yếu là nhằm
vạch ra những hạn chế tiêu cực của Nho giáo, để từ đó và chủ yếu là nhằm bài
xích Nho giáo, coi Nho giáo là vô dụng, là có hại, không phù hợp với thời đại
khoa học và dân chủ. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các công trình nghiên
cứu của Vi Chính Thông, Trần Độc Tú, Trần Khuê, Nguyễn Thị Thanh Xuân,
niệm về xã hội lý tưởng của Nho giáo, từ góc độ nghiên cứu triết học, chúng tôi
nhận thấy rằng, cần phải nghiên cứu, làm rõ thêm về nội dung, dù chỉ là những
nội dung cơ bản trong quan niệm này của Nho giáo một cách có hệ thống để từ
đó có cơ sở chỉ ra những giá trị và hạn chế chủ yếu của nó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích của Luận văn là: Xuất phát từ Lý do chọn đề tài và Tình hình
nghiên cứu liên quan đến đề tài, thông qua nghiên cứu những tiền đề, điều kiện
và những nội dung cơ bản trong quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng để
8
chỉ ra những giá trị, hạn chế chủ yếu của nó và từ đó rút ra ý nghĩa của nó trong
việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ của Luận văn là: Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập
trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau:
- Những điều kiện, tiền đề chủ yếu cho sự hình thành và phát triển quan
điểm của Nho giáo về xã hội lý tưởng;
- Trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong quan niệm
của Nho giáo về xã hội lý tưởng;
- Chỉ ra một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong quan niệm trên của
Nho giáo.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
. Cơ sở lý luận của Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của triết học
Mác - Lênin về xã hội và con người.
. Phương pháp nghiên cứu của Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp
biện chứng duy vật của Triết học Mác – Lênin kết hợp với một số phương pháp
nghiên cứu khoa học khác, như phương pháp lôgic và lịch sử; phương pháp
phân tích - tổng hợp; phương pháp đối chiếu – so sánh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn.
. Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng
. Phạm vi nghiên cứu:
hình thành và phát triển quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng.
Theo nhiều tài liệu sử học Trung Quốc, khoảng hơn 2000 năm tr.CN
(2205 -1766), nhà Hạ - nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên ở Trung Quốc đã
xuất hiện. Trải qua quá trình phát triển, đến thế kỷ thứ XVIII tr.CN, Thành
Thang - người đứng đầu nhà Thương đã lật đổ vua Kiệt nhà Hạ, lập nên nhà
Thương và đặt kinh đô ở đất Bạc, tỉnh Hà Nam ngày nay. Đến thế kỷ XIV
tr.CN, vua Bàn Canh – nhà Thương đã dời đô đến đất Ân nên đổi tên thành nhà
Ân. Rồi đến khoảng thế kỷ thứ XII tr.CN, bộ tộc Chu nổi lên ở khu vực sông Vị
thuộc tỉnh Thiểm Tây, ra sức phát triển nông nghiệp và chinh phục các bộ tộc
lân cận, chuẩn bị thế lực lật đổ nhà Thương. Hệ quả là, đến thế kỷ thứ XI tr.CN,
Chu Vũ Vương con của Chu Văn Vương đã diệt vua Trụ nhà Thương, lập ra
nhà Chu ở phía Tây – gọi là nhà Tây Chu, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ lên lên
giai đoạn phát triển cao hơn.
Dưới thời nhà Tây Chu, vua nhà Chu tự phong là “Thiên tử”, là lãnh chúa
tối cao thống trị toàn bộ đất đai và thần dân trong thiên hạ. Để biểu đạt uy quyền
của thiên tử nhà Chu, trong sách Đại cương Lịch sử triết học phương Đông cổ
đại có dẫn lời của người xưa: “Dưới bầu trời không có chỗ nào không phải là
đất nhà vua, khắp mặt đất không người nào không là tôi nhà vua” [6, tr.164].
Như vậy có thể thấy, ở thời Tây Chu, quyền lực của “Thiên tử” là tối cao, là vô
hạn, “Lễ, nhạc, chinh phạt tự Thiên tử xuất”. Tuy nhiên, đến khoảng năm 771
tr.CN, khi Chu Bình Vương dời đô về phía Đông thì nhà Chu suy yếu, “mệnh
lệnh nhà Chu không ai theo, chế độ tông pháp dần bị phá bỏ, các nước chư hầu
phân dã đến khoảng 160 nước. Nhà Chu không còn khống chế được các vua chư
11
hầu. Đây là thời điểm mở đầu thời Xuân Thu (bắt đầu từ năm 770 đến năm 475
tr.CN). Trung Quốc bước vào thời kỳ giao thời giữa hai chế độ xã hội – giai
đoạn suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ và sơ kỳ chế độ phong kiến đang
lên” [6. tr164 – 165].
Nho giáo, như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, về cơ bản là học
đúc kiếm kích… sắt dùng để đúc cuốc cào và quả cân” [6, tr.165]. Chính sự
chuyển biến ấy “không chỉ thúc đẩy kỹ thuật luyện sắt phát triển mà còn tạo
điều kiện cho việc khai khẩn đất hoang, phát triển kỹ thuật canh tác, “dẫn thủy
nhập điền”, góp phần nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp” [6,
tr.165] mà còn tạo điều kiện cho các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa đều phát
triển, “đặc biệt là sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa trong các nước chư
hầu Tề, Trịnh, …” [69, tr.39]. Cũng chính nhờ vào sự chuyển biến của công cụ
lao động mà làm cho các nước chư hầu như Tề, Trịnh có sự phát triển vượt bậc
hơn hẳn so với nhà Chu. “Trường hợp nhà họ Quý, một gia thần ở nước Lỗ
được đánh giá là “giàu hơn Chu Công, ông tổ của nước Lỗ, đã phần nào minh
chứng cho tình hình đó” [37, tr.125]. Vì vậy mà qua đó, các nước chư hầu có
thêm điều kiện và cơ hội đua nhau gây chiến để tranh giành quyền lực, tranh
giành địa vị, đất đai với nhà Chu. Và khi các nước chư hầu nhỏ, nhờ vào sự cố
gắng nỗ lực của bản thân mà trở nên phát triển hùng mạnh, thì không có lí do gì
các nước đó lại cam chịu bị các nước khác ở trên thống trị, nô dịch. Vì thế, việc
các nước đó gây chiến tranh nhằm xác lập lại địa vị của mình, phân chia lại bờ
cõi trong thiên hạ cũng là một sự tất yếu. Đây là một nguyên nhân quan trọng
bậc nhất dẫn đến tình trạng xã tắc loạn lạc, tình trạng trong thiên hạ “vua không
ra vua, cha không ra cha, con không ra con” diễn ra phổ biến – một bối cảnh xã
hội quan trọng đưa đến sự nảy sinh, hình thành các học thuyết chính trị - xã hội,
đặc biệt là học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, trong đó có quan niệm của
Nho giáo về xã hội lý tưởng. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, mặc dù đã có
sự phát triển như vậy nhưng đời sống kinh tế, xã hội vẫn phụ thuộc và chịu sự
13
tác động của điều kiện tự nhiên (hạn hán, thiên tại, bão lụt,…v.v.), tình trạng
mất mùa vẫn diễn ra hết sức phổ biến, tình cảnh dân ly tán, tha phương cầu thực
khắp nơi. Vì vậy, một vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn được đặt ra là,
muốn đưa xã hội từ tình trạng loạn lạc trở thành một xã hội có trật tự thì, “Vua
phải theo đúng đạo làm vua, tôi phải theo đúng đạo làm tôi, cha phải theo đúng
thực hiện cải cách để duy trì sự thống trị của mình; Mâu thuẫn giữa các phe phái
trong nội bộ quý tộc với nhau muốn tiêu diệt lẫn nhau, tranh giành với nhau
nhằm thiết lập quyền thống trị cho riêng mình. Trong phạm vi xã hội, đó là mâu
thuẫn giữa Thiên tử với các nước chư hầu. Nếu như ở đầu thời Chu (Tây Chu),
Thiên tử có quyền uy tối cao, mọi việc đều do “thiên tử xuất”, “Dưới trời đất đai
nào chẳng là của vua, dân ở trên đất người nào mà chẳng là tôi tớ của vua” , thì
đến thời Xuân Thu - Chiến Quốc, thiên tử nhà Chu không còn giữ vai trò tối cao
như trước, mà giờ đây, nền chính trị lại do các nước chư hầu làm bá chủ và chi
phối. Mâu thuẫn gay gắt trong giới quý tộc đã làm cho xã hội rối ren, trật tự xã
hội bị đảo lộn, tình trạng cướp bóc, tranh giành nhau về địa vị, quyền lực, đất
đai, ….v.v không được khắc phục, ngăn chặn. Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử
đã gọi đây là thời đại: quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử (nhà
vua không theo đúng đạo làm vua, bề tôi không theo đúng đạo làm bề tôi, cha
không theo đúng đạo làm cha, con không theo đúng đạo làm con). Mô tả về sự
hỗn loạn đẳng cấp và danh phận, trong thiên Bát dật, sách Luận ngữ, Khổng tử
than rằng, “Các nước kém mở mang còn có vua, không hề giống như các nước ở
Trung hoa (cứ như thể) không vua” [22, tr.241].
Sở dĩ có tình trạng mâu thuẫn như trên cũng xuất phát từ sự phát triển của
sản xuất. Bên cạnh sự phát triển của các nước chư hầu như Tề, Trịnh thì đối lập
lại với nó là sự suy vi của nhà Tây Chu. Vì thế một mặt, dẫn đến tình trạng hình
thành sự lớn mạnh và thôn tính lẫn nhau của các lãnh chúa địa phương; mặt
khác, thiên tử, tên lãnh chúa cao nhất dần dần giảm mất địa vị và vai trò thống
trị thiên hạ. Phản ánh sự suy vong của nhà Tây Chu, trong sách Kinh Thi có nói:
15
“Đến lúc đạo vua đã suy vi, lễ nghi bị thay đổi, chính giáo bị sút kém. Chính trị
trong nước đã đổi khác, phong tục trong nhà cũng đổi khác, do đó mới có những
biến phong, biến nhã” (Biến phong, biến nhã- những bài nói lên sự suy vong
của chế độ) [69, tr.39]. Phản ánh tình trạng rối loạn xã hội, nhất là tình hình
chính trị rối ren, xã hội thối nát, sách Kinh Thi có viết: “Nhân hữu thổ điền, Nhữ
khiến thiên hạ” [66, tr.378]. Các nước chư hầu thâu tóm được quyền lực trong
tay, tự xưng hùng, xưng bá, tình trạng đó trong lịch sử Trung Hoa còn được gọi
là thời kỳ Ngũ bá, “đó là Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Tương
Công nước Tống, Trang Công nước Sở, Mục Công nước Tần” [66, tr.378].
Đến thời Chiến Quốc, các chư hầu đua nhau mở mang bờ cõi, lại chuyên
tâm hưởng lạc, việc chính trị đều giao cho bề tôi, khanh tướng chuyên quyền
nên dẫn tình trạng đoạt ngôi, cướp vị như họ Điền ở nước Tề, sáu quan Khanh ở
nước Tấn. Vì thế mà ở thời kỳ này xuất hiện tình trạng bảy nước đánh nhau liên
miên mà lịch sử gọi thời gian ấy là Chiến Quốc, và bảy nước ấy là Thất hùng.
Chính trong hoàn cảnh lịch sử ấy đã tạo thêm những nhân tố thúc đẩy sự ra đời
của của nhiều tư tưởng, học thuyết.
Như vậy, với sự phát triển kinh tế, những biến đổi trong lĩnh vực chính trị
- xã hội như trên, có thể đi đến một số kết luận về thời kỳ Xuân Thu – Chiến
Quốc. Đó là một xã hội “hỗn loạn về quan niệm đẳng cấp và danh phận; các chư
hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau; sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp
giữa nông dân và bọn lãnh chúa phong kiến, và địa vị của bọn lãnh chúa phong
kiến lớn bị lung lay; sự rối loạn của những quan hệ tông pháp” [69. tr.84]. Nếu
như thời Tây Chu, vận hành xã hội nhờ lễ nhạc, các quan hệ xã hội cũng được
đánh giá theo tiêu chuẩn lễ nhạc thì đến thời Khổng tử, lễ nhạc đã băng hoại,
chư hầu lẫn át thiên tử, quan đại phu lại giàu có và thế lực mạnh hơn vua chư
hầu.
Trước một thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội như vậy, để duy trì sự tồn
tại và giữ vững được địa vị và uy quyền của mình, các nước đã đua nhau trọng
17
dụng kẻ sỹ. Nhiều nước đã tập hợp kẻ sỹ với số lượng lớn như trong thái ấp của
Mạnh Thường Quân nuôi tới 3000 kẻ sỹ, Tín Lăng Quân ở nước Ngụy, Bình
Nguyên Quân ở nước Triệu có hàng trăm, hàng ngàn kẻ sỹ trong nhà, … Nhờ
phương thức “chiêu hiền, đãi sỹ” này mà các tư tưởng, các học thuyết chính trị -
xã hội được nảy sinh và phát triển. Chính điều này đã tạo ra một giai đoạn đặc
ở nhiều nước khác như Nhật Bản, Singapo, Việt Nam, …
Người có công sáng lập ra và phát triển Nho giáo là Khổng Tử (551 – 479
tr.CN). Ông sinh ở ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình nước Lỗ. Tổ tiên trước kia
của ông là người nước Tống, cha là Thúc Lương Ngột. Lương Ngột khi đã quá
tuổi lấy Nhan Thị, hai người cầu tự ở núi Ni Khâu rồi sinh Khổng Tử. Khi còn
nhỏ, Khổng Tử thích chơi trò bày các khay để cúng và chơi trò tế lễ. Khi Khổng
Tử mười bảy tuổi, có quan đại phu là Mạnh Ly Tử ốm sắp chết, dặn người con
cả sẽ thay mình là Ý Tử: “Khổng Khâu là con cháu của bậc thánh nhân, tổ tiên
bị giết ở Tống, người ông sáu đời là Phất Phụ Hà lại được nối ngôi làm vua,
nhưng nhường ngôi cho Lệ Công. Đến thời chính khảo phụ giúp Đái Công, Vũ
Công và Tuyên Công, ba lần được làm thượng khanh nhưng lại càng cung kính
…. Khi ta chết rồi thế nào cũng phải thờ ông ta làm thầy” [58, tr.197]. Như vậy
có thể thấy rằng, Khổng Tử được đánh giá là người thuộc dòng dõi quý tộc đang
trên đà sa sút, học rộng biết nhiều. Sống trong thời kỳ loạn lạc, được tận mắt
chứng kiến cảnh chiến tranh cướp bóc và thêm nữa, xuất phát từ quyền lợi và
địa vị của bản thân thuộc tầng lớp quý tộc đang bị sa sút, Khổng Tử luôn ôm ấp
hoài bão chính trị là xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị theo khuôn mẫu của
thời Tam đại mà tiêu biểu là nhà Tây Chu, coi đó là một chế độ chính trị hợp lí
nhất – một xã hội lí tưởng. Đó là xã hội có đạo đức, có trật tự: Quân quân, thần
thần, phụ phụ, tử tử (Vua theo đúng đạo làm vua, bề tôi theo đúng đạo làm bề
tôi, cha theo đúng đạo làm cha, con theo đúng đạo làm con). Như vậy, một xã
hội lý tưởng theo quan niệm của Khổng Tử là quay lại với mô hình, thiết chế xã
hội thời Tây Chu. Để chứng tỏ cho điều đó, chúng ta có thể thấy qua mấy câu
19
tóm tắt dưới đây của ông trong sách Luận ngữ, rằng : “Nhà Ân dựa theo lễ của
nhà Hạ, có những điều thêm bớt thì cũng có thể biết được; Nhà Chu dựa theo lễ
của nhà Ân có những điều thêm bớt cũng có thể biết được” và “Nhà Chu lấy cả
hai đời Hạ, Ân làm gương nên đạo thịnh vượng thay! Ta theo nhà Chu” [69,
tr.85].
tinh thần tối cao, chi phối và quyết định sự sinh thành, biến hóa của vũ trụ, đời
sống xã hội và con người. Không những thế, ở đời Thương, Chu còn tồn tại phổ
biến quan niệm duy tâm thần bí rằng, con người có thể thông đạt được với
Thượng đế và quỷ thần; ông vua đương triều cần phải thờ tổ tiên của mình,
trong đó người xa nhất, vị sáng lập ra dòng họ là một vị thần tối cao trên trời -
đó là Đế hay Thượng Đế. Các quan niệm duy tâm tôn giáo này được truyền lại
cho đời sau, nhưng đến thời nhà Chu thì, Thượng Đế dần dần mất tính nhân
hình và riêng tư để trở thành ông Trời (Thiên), và Trời chủ yếu là thế lực che
chở cho dòng họ của hoàng tộc nhưng đồng thời cũng là người phán xử hoàng
tộc.
Để biện hộ cho sự lật đổ nhà Thương, các nhà tư tưởng nhà Chu đã sáng
tạo ra lý thuyết Mệnh trời (Thiên mệnh) và xây dựng ra những điển hình về các
ông vua lí tưởng, hoàn hảo, mẫu mực và những hình tượng mẫu mực ấy, theo họ
là các hình tượng vua Nghiêu, vua Thuấn. Đồng thời, họ gán cho những vị vua
cuối cùng của nhà Thương những đặc tính trái với vị vua mẫu mực thời trước.
Những đặc tính đó là: kiêu ngạo, tàn nhẫn, và cho đó là nguyên nhân khiến nhà
Thương và hoàng tộc của nhà Thương bị hủy diệt. Những tội lỗi này, theo các
nhà tư tưởng nhà Chu, đã khiến cho Trời không ban cho nhà Thương ân huệ là
trị nước, trị dân cũng như không được hưởng nước, hưởng dân nữa, cũng không
xem ông vua đó là những đứa con của trời (Thiên tử) nữa.
Do đó và cũng từ đó, trong tư tưởng truyền thống tôn giáo, chính trị
Trung Hoa trước thời kỳ Khổng Tử đã xuất hiện tư tưởng “Kính thiên” hay
21
“mệnh trời” và tư tưởng “hiếu đễ”. Khi khẳng định như vậy, có thể thấy, có sự
gắn bó chặt chẽ giữa tôn giáo, chính trị và đạo đức trong truyền thống tư tưởng,
văn hóa Trung Hoa với tư tưởng Khổng tử - người có công sáng lập và phát
triển Nho giáo chủ yếu thành một học thuyết chính trị - xã hội.
Trung Quốc vốn là quốc gia đất rộng, người đông, có một nền văn hóa
phát triển sớm và bậc cao ở thời cổ đại. Cùng với Ấn Độ và Hy Lạp, dân tộc
sung sướng, đủ ăn, không có trộm cướp, cha thì từ, con thì hiếu, người già được
kính trọng, không có ai cô độc, muộn vợ muộn chồng, … Mặc dù đây chỉ là
những huyền thoại, nhưng trong những điều kiện cho phép, huyền thoại đó sẽ là
điều kiện, tiền đề cho sự ra đời quan niệm của Nho giáo về xã hội lí tưởng. Tuy
nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, huyền thoại về các vị vua Nghiêu và vua Thuấn
là do Khổng Tử tự nghĩ ra để biện giải, lí giải cho quan niệm của ông về xã hội
lý tưởng.
Quan niệm về xã hội lý tưởng của Nho giáo đã được hình thành trên nền
tảng văn hóa truyền thống của Trung Hoa từ các thời đại Hạ, Thương, đến đầu
thời nhà Chu. Ngay từ thời Tam đại, vua Nghiêu đã đặt ra vấn đề “truyền hiền”
(truyền ngôi cho người hiền tài). Đây là điều đáng quý nhất, các ông thánh đó
không coi ngôi vua là của riêng mình, của nhà mình, của dòng họ mình. Khi
tuổi cao, họ không truyền lại cho con của mình mà truyền cho người hiền. Theo
các tài liệu sử học Trung Quốc thì, vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua
Thuấn truyền ngôi cho vua Vũ. Đến nhà Hạ (2197 – 1766 tr.CN), khi nói về đức
của vua Hạ Vũ, sử cũ đã chép rằng, vua Vũ chỉ lo kẻ sỹ đến chờ ở cổng nhà
mình để góp ý kiền mà mình không tiếp được nên tóc không kịp búi, ăn một bữa
đứng dậy đến 3 lần, v.v. Ông được các nhà Nho sau này tôn sùng về đạo đức.
Vua Thang ở đời nhà Thương (1766 – 1134 tr.CN) là tấm gương về đạo đức, là
người có đạo đức thương dân và luôn tu dưỡng không ngừng về đạo đức cho
bản thân mình. Hình tượng “lưới của vua Thang” (ông đi săn chỉ bủa lưới có 3
23
bề) đã được nhiều nhà văn, nhà thơ sau này nhắc tới để ca ngợi những người có
đạo đức. Truyền thống trọng đạo đức đã được thể hiện một cách sâu sắc và rõ
nét ở thời đại nhà Chu (1134 – 221 tr.CN). Người ta đề cao hai đức “kính thiên”
(kính trọng trời – vị thánh tối cao có ý chí, có nhân cách), và “hiếu tổ” ( có hiếu
với tổ tiên). Kính và Hiếu là hai khái niệm đạo đức cốt lõi trong thang giá trị
đạo đức ở thời nhà Tây Chu (1134 – 771 tr.CN).
Ra đời trong hoàn cảnh ở Trung Quốc có rất nhiều học phái, trào lưu tư
vấn đề trên nhưng đều có một điểm chung là đưa ra quan niệm về một xã hội lý
tưởng tương đối có hệ thống và lập luận khá chặt chẽ. Trước khi nghiên cứu,
phân tích những nội dung chủ yếu trong quan niệm của Nho giáo về xã hội lý
tưởng – phần chủ yếu của luận văn này, theo chúng tôi, sự cần thiết phải trình
bày một cách khái lược nhất những nội dung chính trong quan niệm của một số
trào lưu triết học, chính trị - xã hội ở Trung Hoa thời cổ đại về xã hội lý tưởng
như Mặc gia, Đạo gia và Pháp gia.
Mặc Tử - người sáng lập phái Mặc gia cho rằng, “muốn có một quốc gia
thống nhất, quyền hành tập trung vào một người tài đức do dân cử lên, không có
đảng phái, tư tưởng từ trên xuống dưới nhất loạt như nhau, ai cũng lo lợi chung
của đồng bào, xã hội; dân đông đúc mà đủ ăn đủ mặc, cần và kiệm, không có sự
xa hoa; tóm lại là muốn được “chính bình dân an”; cơ hồ ông còn nghĩ đến một
thế giới đại đồng nữa” [40, tr.217] .
Như vậy, xã hội lý tưởng trong quan niệm của Mặc Tử và phái Mặc gia là
một xã hội hòa bình, thống nhất, tuyển chọn hiền tài chủ yếu là từ nhân dân mà
ra, do nhân dân bầu lên, vì nhân dân mà gánh vác; là một xã hội mà trong đó,
nhân dân giàu có, đủ ăn đủ mặc, …. Còn phương thức chủ yếu để đi đến một xã
hội đó theo Mặc tử là “kiêm ái”, tức là mọi người cùng yêu nhau không phân
biệt sang hèn. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, quan niệm của Mặc gia về một xã
hội lý tưởng ấy thì tốt đẹp là vậy, nhưng con đường để tạo lập và duy trì cái xã
hội đó mà phái Mặc gia đưa ra là không tưởng. Bởi vì, đứng trước một xã hội