TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG “LÝ THUYẾT
TỔNG QUÁT” CỦA JOHN MAYNARD KEYNES VÀ Ý NGHĨA
THỰC TIỄN CỦA NÓ
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Minh Tuấn
Lớp : Cao học Kinh tế Chính trị - K19
Học viên thực hiện : Nhan Thanh
Nguyễn Thiệu Thành
Nguyễn Thị ThuTP. HCM – 03/2010
MỤC LỤC
* LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………… Trang 3
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES……… 4
II. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA
KEYNES…………………………………………………………………………… 4
1. Lý thuyết “Tổng cầu”…………………………………………………………….4
2. Lý thuyết “khuynh hướng tiêu dùng cận biên”………………………………… 5
3. Lý thuyết “số nhân đầu tư”……………………………………………………….5
4. Lý thuyết lãi suất………………………………………………………………… 6
5. Lý thuyết về vai trò điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản…………………… 7
III. NHẬN XÉT LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES……………… 7
IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT
CỦA KEYNES…………………………………………………………………………… 11
* KẾT LUẬN…………………………………………………………………… 14
* TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….15
2
LỜI NÓI ĐẦU
Phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp duy vật biện chứng, logic – lịch
sử và đối chiếu so sánh.
3
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT CỦA KEYNES:
Học thuyết kinh tế của Keynes ra đời trong hoàn cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới 1929 – 1933, đã làm phá sản học thuyết “tự điều chỉnh kinh tế” của trường
phái cổ điển và tân cổ điển. Trong thực tế của chủ nghĩa tư bản, các quy luật kinh tế
khách quan hoạt động một cách tự phát đã đem đến khủng hoảng cho nền kinh tế.
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ lúc bấy giờ đã làm cho tình hình kinh tế – xã hội rối
loạn, thất nghiệp tăng cao do hàng loạt công ty, nhà máy phải bị phá sản nên sa thải
công nhân hàng loạt. Hàng triệu tấn hàng bị ứ thừa không tiêu thụ được phải đem đổ
xuống biển. Trong khi đó, quần chúng nhân dân lao động không có thu nhập hoặc thu
nhập rất thấp nên không có khả năng tiêu thụ, đời sống vô cùng khó khăn. Mâu thuẫn
xã hội diễn ra gay gắt. Trước tình hình đó đòi hỏi cấp bách của lý luận và thực tiễn là
phải có một lý thuyết kinh tế mới có khả năng giúp nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thoát
được cơn khủng hoảng này. Lý thuyết của Keynes xuất hiện và đáp ứng được yêu cầu
đó.
John Maynard Keynes (1883 – 1946), sinh tại Anh, là nhà kinh tế học nổi tiếng,
giáo sư kinh tế học của trường Đại học Cambridge. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực
tài chính, tín dụng, lưu thông tiền tệ, làm cố vấn cho chính phủ Anh về ngân khố quốc
gia và là chủ bút tạp chí “Nhà kinh tế”. Ông xuất bản nhiều tác phẩm: “Cải cách tiền
tệ” (1923), “Bàn về tiền tệ” (1930) … Nổi tiếng nhất là tác phẩm “Lý thuyết chung về
việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936).
II. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT
CỦA KEYNES:
1. Lý thuyết “Tổng cầu”:
Về “tổng cầu”, theo Keynes, một nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ
bản: tổng cung tức toàn bộ số hàng hóa bán trên thị trường, và tổng cầu, tức toàn thể
số hàng hóa mà người ta muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và
việc làm trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng cung
Theo Keynes, quy luật tâm lý cơ bản của con người là cùng với sự gia tăng của
thu nhập, khuynh hướng tiết kiệm cận biên sẽ ngày càng tăng, đồng thời khuynh
hướng tiêu dùng sẽ giảm tương đối so với sự gia tăng của khuynh hướng tiết kiệm cận
biên. Đó là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp.
3. Lý thuyết “số nhân đầu tư”:
Số nhân đầu tư thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư với gia tăng thu nhập.
Nó chỉ rõ sự gia tăng đầu tư sẽ kéo theo sự gia tăng thu nhập lên bao nhiêu. Nó cho
chúng ta biết rằng khi có một lượng thêm về đầu tư tổng hợp, thì thu nhập sẽ tăng
thêm một lượng bằng k lần mức gia tăng đầu tư.
Ta có: k = ▲Y/▲I
▲Y = k x ▲I
Xác định trị số k như sau: theo Keynes thu nhập được chia thành tiêu dùng và tiết
kiệm, đồng thời thu nhập cũng có thể chia thành tiêu dùng và đầu tư. Như vậy:
Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm
Y = C + S
Thu nhập = tiêu dùng + đầu tư
Y = C + I
5
Từ đó: Tiết kiệm = đầu tư
S = I
Nếu xét dưới phương tiện cận biên thì: ▲Y = ▲C + ▲S
Hay ▲Y = ▲C + ▲I
Suy ra: ▲I = ▲S = ▲Y - ▲C
Nên: k = ▲Y/▲I = ▲Y/ (▲Y - ▲C)
= (▲Y/▲Y) / (▲Y/▲Y - ▲C/▲Y)
Như vậy trị số k sẽ là: k = 1 / (1 - ▲C/▲Y)
Hay k = 1 / (1 – MPC)
Qua sự phân tích trên, ta thấy khuynh hướng tiêu dùng cận biên có vai trò quan
trọng trong số nhân và đến lượt mình số nhân làm khuyếch đại thu nhập khi có sự gia
tăng đầu tư. Khuynh hướng tiêu dùng cận biên càng gia tăng thì số nhân đầu tư càng
đầu tư. Việc giảm lãi suất được thực hiện bằng chính sách tiền tệ mở rộng, tạo ra lạm
phát và từ đó kích thích người ta giữ tiền mặt để tiêu dùng, để đầu tư kinh doanh, nhất
là mở rộng thị trường chứng khoán cho hoạt động đầu tư gián tiếp phát triển. Qua đó
sẽ kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
5. Lý thuyết về vai trò điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản:
Trong logic phân tích lý luận của mình, Keynes cho rằng để thoát khỏi khủng
hoảng và thất nghiệp cần có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu,
gia tăng việc làm và thu nhập. Sự can thiệp của nhà nước thông qua các công cụ sau:
Thứ nhất, chương trình đầu tư nhà nước
Để duy trì tổng cầu, nhà nước phải sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư của tư
nhân và nhà nước thông qua: các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống mua của nhà
nước …
Thứ hai, chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ
Keynes chủ trương sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng, tiền tệ để kích thích lòng
tin, sự lạc quan và tích cực đầu tư của nhà đầu tư. Ông chủ trương bù đắp thâm hụt
ngân sách bằng cách in tiền để duy trì đầu tư nhà nước và đảm bảo chi tiêu cho chính
phủ. Điều tiết thu nhập thông qua thuế.
Thứ ba, mở rộng việc làm bằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành
thuộc lĩnh vực quân sự
Thứ tư, khuyến khích tiêu dùng cá nhân
Theo Keynes, sự tham gia của nhà nước vào kinh tế giữ một vai trò quan trọng
trong việc làm nền kinh tế tăng trưởng. Nó kích thích làm tăng đầu tư tư nhân cũng
như tăng tiêu dùng nhà nước. Nhờ vậy, nó làm tăng việc làm, thu nhập và đưa nền
kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp.
III. NHẬN XÉT LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES:
Tác phẩm lý thuyết kinh tế tổng quát của John Maynard Keynes (1883-1946) đã
cung cấp cho ta lời giải đối với vấn đề làm sao để nền kinh tế tăng trưởng thông qua
thặng dư dù cho mức lương có cao và thiếu vắng những mối quan hệ kinh tế. Những
nhà kinh doanh áp dụng thuyết kinh tế học cổ điển giống như nguyên tắc trò chơi tổng
bằng 0 (Zero-Sum Game). Điều này có nghĩa là, nếu một bên có được, thì bên kia mất
Quan điểm này cũng khá đơn giản nhưng phải mất một thời gian mới được các
nhà kinh tế lĩnh hội và thậm chí những nhà kinh doanh cũng khó lòng chấp nhận quan
điểm này. Thật vậy, các nhà kinh doanh chống đối kịch liệt quan điểm cho rằng lương
gia tăng không làm ảnh hưởng đến thặng dư mà Roosevelt đã đặt nó vào một tình hình
mới. Qua việc ủng hộ những tổ chức công đoàn và biện pháp gia tăng lương bằng pháp
chế và tuyên truyền, Roosevelt tạo áp lực cho các doanh nghiệp phải tăng dần mức
lương lên chứ không được giảm nửa. Về cơ bản, ông cho là "gia tăng năng suất để có
khả năng trả lương không thôi thì phải từ bỏ vai trò quản lý của mình. Những doanh
nghiệp chịu theo cải cách này thì sẽ tồn tại, còn không thì sẽ bị triệt và sẽ bị những
doanh nghiệp khác thay thế". Đây là một vị thuốc đắng của chính phủ để thi hành
chính sách như thế. Do vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi các doanh nghiệp đều ghét
Roosevelt kể từ đó thậm chí về cơ bản giải pháp của Keynes mà ông ta ủng hộ đã
cứu lấy hệ thống của họ.
Chúng ta cũng nên lưu ý rằng thuyết kinh tế Keynes nhằm khái quát hóa và thể
chế hóa ở mức độ cấp quốc gia cái ý tưởng mà đã được phát triển trước đó vài năm bởi
Henry Ford (hay những nhà nghiên cứu của ông). Ford được gọi là cha đẻ của cải cách
về cái gọi là sản xuất hàng loạt (mass production), ông sản xuất sản phẩm cho một thị
trường tập trung rộng lớn. Ông muốn mọi người - bao gồm cả công nhân của ông -
mua xe của ông sản xuất ra. Do vậy, ông nhận thấy được cái mà những doanh nghiệp
khác không thấy. Ông thấy rằng lương không chỉ được khấu trừ từ lợi nhuận mà còn là
một phần thiết yếu đối với sự tăng trưởng và mở rộng mức tiêu thụ đã được định
hướng sản xuất. Ford là người đã trả cho công nhân mức lương cao nhất trong ngành
sản xuất ở nước Mỹ. Ông trả lương cao như vậy một phần do ông thấy được chính
lương bổng hình thành nên nhu cầu và một phần khuyến khích công nhân làm việc
chăm chỉ hơn nhằm giảm khuynh hướng thôi việc của họ doanh thu đạt được rất cao
trong phương thức sản xuất theo dây chuyền của Ford. Quan niệm của ông ta đúng là
một quan niệm sáng suốt đặc biệt trong vai trò thiết yếu của lương bổng được xem như
nhu cầu sau cùng. Theo như các nhà bình luận thì ý tưởng của Ford và vai trò của ông
mang một tầm vóc quan trọng trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại,
8
thế chúng sẽ không còn tăng nhanh hơn năng suất được nữa (đây là một giải pháp
được Keynes chọn dùng để giải quyết cuộc đại suy thoái); nhà nước sẽ tạo ra một số
thất nghiệp để giảm (chứ không giảm hoàn toàn) tốc độ tăng trưởng của lương bổng
(Keynes phản đối giải pháp này một phần vì nó quá phi lý và một phần vì nó sẽ làm
dấy lên làn sóng chống đôi mạnh mẽ).
Cùng với những thành tựu phát triển này, thì quá trình giảm tốc sản xuất công
nghiệp theo chu kỳ hay còn gọi là những cuộc suy thoái đã dẫn đến việc chính phủ ban
hành nhiều chính sách mới - đây là những nổ lực có định hướng rõ ràng và cân nhắc
kỹ của chính phủ nhằm tạo mọi điều kiện phát triển nền kinh tế. Những chính sách này
không còn là một thứ phụ phẩm đơn thuần của những giải pháp tự tạo của các doanh
nghiệp nhằm giải quyết vấn đề lợi nhuận của họ nửa.
Làm theo "giải pháp của Keynes", các doanh nghiệp đã biết hoạt động tập thể
thông qua chính phủ để làm những việc mà các doanh nghiệp tư nhân từ chối làm.
Song với định hướng tăng trưởng mức lương, chính phủ còn kích thích tăng trưởng
năng suất nhằm giúp các doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng
của tầng lớp lao động. Trong suốt thời kỳ suy thoái, để cho năng suất tăng trưởng
9
chính là một vấn đề lớn vì các doanh nghiệp không chịu đầu tư. Họ chỉ biết khư khư
giữ tiền của mình mà không chịu đem đầu tư vào nhà máy và mua thiết bị (giữ tiền ở
đây là họ giữ tiền mặt hay những chứng khoán ngắn hạn để kiếm tiền lời). Đó là lý do
tại sao chính phủ bắt đầu can thiệp sâu vào khoảng đầu tư. Một mặt, chính phủ bắt đầu
đánh thuế vào thu nhập chưa được đem đi đầu tư của các công ty và nhà nước dùng số
tiền thuế đó để mở rộng thị trường và buộc cho các doanh nghiệp phải có những
hướng giải quyết. Mặt khác, nhà nước sẽ dùng trực tiếp số thuế đó vào nghiên cứu và
phát triển nhằm bắt kịp những kỹ thuật hiện đại để tăng sản lượng sản xuất trong một
giờ của công nhân. Những công trình đầu tư lớn như thế này diễn ra xuyên suốt trong
thời kỳ Đại Nhị Thế Chiến.
Để hiểu được mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế ta cần phải tìm hiểu kỹ chi
tiêu của chính phủ tài trợ cho việc các dự án mở rộng đầu tư công nghiệp và sản lượng
ra làm sao. Nền kinh tế đã chuyển biến rất nhanh trong suốt thời kỳ chiến tranh. Chính
xã hội (xã hội hiện đại) nhằm tạo ra một lực lượng lao động có năng lực cao và có kỷ
luật, của chính phủ với quy mô lớn. Suốt thời kỳ này, đã không còn xảy ra suy thoái
nửa. Tuy nhiên mức tăng trưởng sản xuất chậm, nhưng cũng không tệ hại như thời kỳ
đại suy thoái. Trong suốt 25 năm, hệ thống Keynes đã hoạt động tốt.
10
Tuy nhiên đến cuối thập kỷ 60 và đầu 70, thì những phương pháp này của ông
không còn hiệu quả, cả hệ thống này lẫn lý thuyết kinh tế của ông rơi vào tình trạng
khủng hoảng.
Thứ nhất, tình trạng khủng hoảng kinh tế gay gắt hơn, thời gian của chu kỳ kinh
tế rút ngắn lại; có những cuộc khủng hoảng chưa kịp phục hồi đã bị rơi vào một cuộc
khủng hoảng kinh tế mới. Nước Mỹ là nơi áp dụng mạnh mẽ học thuyết Keynes, đồng
thời lại là nước thường xuyên diễn ra khủng hoảng kinh tế.
Thứ hai, ở các nước tư bản phát triển còn xuất hiện một căn bệnh mới là vừa suy
thoái kinh tế cao vừa lạm phát cao.
Thứ ba, các công cụ điều tiết lợi tức nhằm kích thích đầu tư tư bản của tư nhân
không mang lại kết quả mong muốn. Trong thời kỳ suy thoái, chính phủ Anh, Mỹ đã
giảm lãi suất để kích thích gia tăng sản xuất, song tư bản lại không được đầu tư để phát
triển sản xuất, mà lại được gửi ra nước ngoài, đến nơi có lãi suất cao. Việc in thêm tiền
đưa vào lưu thông không xóa bỏ được thất nghiệp mà còn làm cho lạm phát trầm trọng
hơn.
IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT
CỦA KEYNES:
Đã trải qua hơn ba thập kỷ kể từ ngày Tổng thống Mỹ Richard Nixon tuyên bố:
“Giờ đây, tất cả chúng ta đều là Keynesian”. Tư tưởng kích cầu bắt nguồn từ học
thuyết Keynes, một lần nữa xuất hiện như là giải pháp của các chính phủ đưa nền kinh
tế vượt qua khủng hoảng.
Cho đến thời điểm này, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã kéo dài hơn hai
năm (kể từ tháng 12-2007). Nguy cơ về một cuộc Đại khủng hoảng II lại lần nữa có cơ
hội bùng phát.
Trong lịch sử, cuộc khủng hoảng kinh tế dài nhất nổ ra giữa những năm 1970,
tế và chính sách (CEPR), nếu Việt Nam thực hiện kích cầu theo đúng kế hoạch đã đề
ra, mức thâm hụt ngân sách có thể lên tới 12%, gây mất cân đối nghiêm trọng cho nền
kinh tế. Các nhà kinh tế trên thế giới cũng cho rằng thâm hụt ngân sách có thể dẫn tới
việc lãi suất tăng, đầu tư vào các khu vực tư nhân (khu vực có hiệu quả sử dụng vốn
cao, từ đó có thể cải thiện tình hình xã hội) giảm.
Trong quá khứ, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã áp dụng chính sách kích
cầu, tạo ra hàng triệu việc làm trong thời kỳ đại suy thoái nhưng cũng không tránh
khỏi việc lãng phí tiền đầu tư vào những dự án không cần thiết. Hơn nữa, các gói kích
cầu đều chủ yếu tập trung vào cơ sở hạ tầng, trong khi đó các dự án liên quan đến cơ
sở hạ tầng luôn chậm tiến độ và vượt dự toán như dự án đường cao tốc Big Dig ở
Boston đã phải mất hơn 20 năm mới hoàn thành, vượt dự toán 5 lần. Nhật cũng đã
lãng phí tiền đầu tư vào các sân bay ít dùng, cầu đường dẫn đến các đảo ít người.
Những năm 1960, 1970 kích cầu theo học thuyết Keynes tiếp tục phổ biến khắp
nơi trên thế giới mà kết quả là nền kinh tế Mỹ, châu Âu và một số nền kinh tế khác ở
châu Mỹ Latin đã phát triển hơn. Phần lớn việc chi tiêu của chính phủ thông qua các
gói kích cầu nhằm mục đích đưa nền kinh tế vượt qua khủng hoảng nhưng nó đã kéo
theo sự phát triển quá nóng. Kinh tế Mỹ Latin thường xuyên trong tình trạng lạm phát
phi mã. Chỉ số chung về lạm phát và thất nghiệp ở Mỹ cũng luôn ở mức cao, lên đến
20,8% năm 1980, tăng hơn 10% so với 10 năm trước đó.
Ông Jurgen Stark, thành viên Hội đồng điều hành Ngân hàng trung ương châu
Âu, trước đây từng là Phó tổng giám đốc Bundesbank (Ngân hàng trung ương Đức) đã
lên tiếng cảnh báo về nguy cơ thất bại kích cầu có thể lặp lại giống như những năm 70.
“Tôi thật tình không thể biết liệu các chính sách tài khóa tùy tiện lần này có thể mang
lại hiệu quả trong khi nó đã chứng tỏ kém hiệu quả ở những lần trước”.
Suy cho cùng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này bắt nguồn từ Mỹ với
nguyên nhân chủ yếu là do chính hệ thống tài chính và các chính sách tài chính, tiền tệ
với nhiều “mục tiêu” khác nhau của Mỹ để phục vụ cho chính nước Mỹ gây ra.
Bùng nổ kinh tế do chi tiêu của chính phủ tăng, do lãi suất thấp kéo dài nhiều
năm mà Alan Greenspan là kiến trúc sư trưởng, do tăng trưởng tín dụng đạt mức kỷ
lục kéo theo sự ra đời của các sản phẩm phái sinh nhằm chuyển nhượng rủi ro phát
Nguyên lý cầu hữu hiệu khẳng định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu
quyết định. Do đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư
hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu công cộng), thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo,
nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi thời kỳ suy thoái.
Đặc trưng nổi bật của lý thuyết kinh tế tổng quát của Keynes là đưa ra phương
pháp phân tích vĩ mô. Theo ông, phân tích kinh tế phải xuất phát từ các tổng lượng lớn
và nghiên cứu mối liên hệ giữa các tổng lượng và khuynh hướng biến đổi của chúng,
để tìm ra công cụ, chính sách kinh tế tác động vào khuynh hướng, làm thay đổi tổng
lượng. Tuy nhiên, lý thuyết của ông cũng có những hạn chế nhất định như đã chỉ ra
trong phần nhận xét.
Lý thuyết kinh tế tổng quát của Keynes ra đời có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận và
thực tiễn. Nó là cơ sở của các lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại và là cơ sở về mặt chính
sách kinh tế của các chính phủ để can thiệp, tác động vào nền kinh tế. Như nhà kinh tế
học Paul Krugman (nhà kinh tế học người Mỹ đoạt giải nobel kinh tế năm 2008) đã
nói rõ: “Thế giới chao đảo từ cuộc khủng hoảng này đến cuộc khủng hoảng khác, tất
cả chúng đều gắn với vấn đề tạo ra đủ tổng cầu. Nước Nhật từ đầu thập kỷ 1990 trở đi,
Mexico vào năm 1995, Thái Lan năm 1997 và hầu hết các nước trong năm 2008, hết
nước này đến nước khác đã rơi vào cuộc suy thoái mà tạm thời ít nhất cũng kéo lùi
hàng trăm tiến bộ kinh tế và các chính sách kinh tế truyền thống dường như không có
chút hiệu lực nào. Một lần nữa, câu hỏi làm sao tạo ra đủ cầu để sử dụng hết công suất
của nền kinh tế trở nên quan trọng. Kinh tế học suy thoái đã quay trở lại”.
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lenin, NXB
CTQG, Hà Nội, năm 2006.
1. TS. Mai Ngọc Cường, Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Thống kê, Hà
Nội, 1996.
2. TS. Đinh Sơn Hùng, Những vấn đề cơ bản của các lý thuyết kinh tế, Đại học
kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 1993.
3. TS. Nguyễn Văn Trình, Nguyễn Tiến Dũng, Vũ Văn Nghinh, Lịch sử các học