Tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ và ý nghĩa của nó đối với công tác đánh giá cán bộ ở nước ta hiện nay - Pdf 25

Đại học quốc gia Hà Nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa triết học
lê đình thảo
t- t-ởng hồ chí minh về đánh giá cán bộ
và ý nghĩa của nó đối với công tác đánh
giá cán bộ ở n-ớc ta hiện nay

luận văn thạc sỹ triết học
Hà Nội- 2007
Đại học quốc gia Hà Nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa triết học

PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ

5
1.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ và sự cần
thiết phải đánh giá cán bộ

5
1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc, quy trình và phƣơng
pháp đánh giá cán bộ

12
1.3. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tiêu chí đánh giá cán bộ
23
Chương 2: Ý NGHĨA CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC
ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

35
2.1. Thực trạng công tác đánh giá cán bộ ở nƣớc ta hiện nay
35
2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đánh
giá cán bộ ở nƣớc ta hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

49
2.2.1. Quán triệt các nguyên tắc khoa học trong đánh giá cán bộ
49
2.2.2. Xây dựng và hoàn thiện quy trình và phƣơng pháp đánh giá
cán bộ

Nghiên cứu quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đánh giá cán bộ
là một trong những cơ sở giúp cho Đảng ta luôn có được những cán bộ đáp
ứng được những nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn cách mạng. Đây là cơ sở giúp
cho Đảng ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành được những thắng lợi to lớn
trong hơn 70 năm qua.
Song thực tế cho thấy, công tác đánh giá cán bộ ở nước ta hiện nay còn
có nhiều tồn tại yếu kém. Sự yếu kém trong công tác đánh giá cán bộ là một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trong cán bộ còn có nhiều người
không thực sự có tinh thần trách nhiệm trong công việc, rơi vào thoái hóa biến
chất, quan liêu, tham nhũng Tình trạng yếu kém này cần nhanh chóng được
khắc phục.
Nghiên cứu quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đánh giá cán bộ
đang là một nhu cầu đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Bởi vì, sự nghiên cứu này
chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học bổ ích cho
việc khắc phục những tồn tại yếu kém, nâng cao hiệu quả của công tác đánh
giá cán bộ ở nước ta hiện nay.

2
Với những lý do như đã nêu, chúng tôi đã chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đánh giá cán bộ và ý nghĩa của nó đối với công tác đánh giá cán bộ
ở nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu có đề cập đến
tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, trong đó có tư tưởng của Người về
đánh giá cán bộ.
Trịnh Gia Ban, Phạm Văn Trường, Tô Văn Gia với công trình Vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp
đổi mới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, có đề cập đến tư
tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ và công tác cán bộ.
Vũ Văn Hiền và Đinh Xuân Lý (chủ biên) với công trình nghiên cứu Tư

đánh giá cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Các công trình nghiên cứu trên, ở những mức độ khác nhau, trực tiếp
hoặc gián tiếp đã đề đến tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ, những
yêu cầu đối với cán bộ, đánh giá cán bộ.
Song các công trình như đã nêu chỉ mới đề cập đến tư tưởng Hồ Chí
Minh về đánh giá cán bộ như một trong nội dung nghiên cứu. Có thể nói, tư
tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ vẫn còn là một vấn đề mới mẻ, chứa
đựng nhiều nội dung vô cùng quý báu, đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên
cứu làm sáng tỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ tư tưởng cơ bản của Hồ Chí
Minh về đánh giá cán bộ, từ đó rút ra ý nghĩa của nó đối với công tác đánh giá
cán bộ ở nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích như đã nêu, luận văn đi vào nghiên cứu giải quyết
các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Một là, nghiên cứu và làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về đánh giá cán bộ.
- Hai là, nghiên cứu và làm rõ thực trạng công tác đánh giá cán bộ hiện
nay ở nước ta.

4
- Ba là, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ, nghiên cứu
tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đánh giá cán bộ ở
nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá
cán bộ. Đây là một vấn đề lớn và phức tạp. Ở trong phạm vi của luận văn này,
chúng tôi bước đầu đi vào nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ và ý nghĩa của nó đối với công tác đánh giá
cán bộ ở nước hiện nay.

Trước Cách mạng tháng Tám, cán bộ được Hồ Chí Minh đề cập đến là những
người làm công tác tuyên truyền tư tưởng cách mạng, mục tiêu lý tưởng của
Đảng, gây dựng phong trào cách mạng trong các tầng lớp nhân dân. Nhiệm vụ
của cán bộ thời kỳ này là tuyên truyền, cũng cố vai trò lãnh đạo của Đảng,
vận động và thực hiện đoàn kết các tầng lớp nhân dân đấu tranh hướng tới
giành chính quyền.
Sau Cách mạng tháng Tám, cán bộ mà Hồ Chí Minh đề cập đến là những
người làm việc trong các cấp lãnh đạo của Đảng, các cấp chính quyền, các
đoàn thể xã hội, trong các nhà máy xí nghiệp, bệnh viện, trường học Họ có
thể là đảng viên hoặc cũng có thể chưa phải là đảng viên. Đó có thể là cán bộ
lãnh đạo quản lý, phụ trách, hoặc chỉ là người làm công tác chuyên môn,
nhưng đều là những người chịu trách nhiệm nặng nề, to lớn trước Đảng và
trước nhân dân.
Trong Pháp lệnh cán bộ, công chức, năm 2003, của Nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, người được coi là cán bộ, công chức là "công dân
Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm:
1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
2. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
3. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ một
công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành
chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các

6
cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn
nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;
4. Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
5. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân

thể của thực tiễn cách mạng. Vì vậy, cán bộ là những người có nhiệm vụ cụ
thể hoá những chủ trương, chính sách của Đảng cho phù hợp với tình hình
của thực tế ở mỗi nơi, mỗi lúc. Có như vậy, những chủ trương, chính sách của
Đảng mới được nhân dân “hiểu và thi hành”, mới có thể đi vào thực tế cuộc
sống.
Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chỉ đúng đắn khi
phản ánh được suy nghĩ và tình cảm, tâm tư và nguyện vọng của nhân dân.
Trách nhiệm của cán bộ không chỉ tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, mà còn phải lắng
nghe và báo cáo với Đảng và Chính phủ về tâm tư, nguyện vọng của nhân
dân, tổng kết thực tiễn, đóng góp ý kiến nhằm giúp cho Đảng và Chính phủ
kịp thời có những điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện về đường lối chủ trương,
chính sách.
Khi nói về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định đây "là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu
rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho
Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”[25, 269].
Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả
dân tộc. Đảng chỉ có thể được nhân dân thừa nhận vai trò lãnh đạo khi thực sự
là đạo đức, là văn minh, được nhân dân tin yêu, tín nhiệm. Song uy tín của
Đảng như thế nào là phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ,
đảng viên. Bởi vì, họ chính là những người tham gia vào xây dựng, đề ra
đường lối, chính sách và cũng chính họ là những người tuyên truyền, tổ chức
nhân dân thực hiện.
Nhân dân biết về Đảng và Chính phủ thông qua đội ngũ cán bộ. Họ có
thể không hiểu được một cách rõ ràng, đầy đủ về Đảng và Chính phủ, nhưng
lại có thể thấy được một cách rõ ràng, tường tận về những lời nói và việc làm

8
của cán bộ. Vì vậy, lời nói và việc làm của cán bộ có ảnh hưởng rất lớn đến

9
Đảng kịp thời phát hiện ra những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, để
loại ra khỏi hàng ngũ cách mạng.
Song trên thực tế, ở nhiều nơi nhiều khi không quan tâm đến việc quản
lý, đánh giá cán bộ. Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và phê phán về tình trạng
này. Người đã chỉ ra sự cần thiết của việc phải thường xuyên quan tâm làm tốt
công tác đánh giá cán bộ. Người khẳng định: Không thường xuyên đánh giá
cán bộ “là một khuyết điểm to”, kinh nghiệm cho thấy mỗi lần đánh giá cán
bộ “một mặt thì tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì làm cho
những người hủ hóa cũng lòi ra”[25, 274].
Đánh giá cán bộ là cơ sở cho việc sử dụng, đề bạt, cất nhắc cán bộ. Có
đánh giá cán bộ đúng thì mới có thể sử dụng cán bộ đúng. Sử dụng cán bộ
không chỉ căn cứ vào đạo đức của cán bộ, mà đòi hỏi còn phải căn cứ vào
năng lực của cán bộ. Cán bộ có năng lực làm việc gì thì sử dụng vào công
việc ấy, tránh tình trạng phân công công việc không phù hợp với năng lực của
họ. Về điều này, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người nào có năng lực làm
việc gì, thì đặt vào việc ấy. Nếu dùng không đúng, người giỏi thợ mộc thì
giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế
thì hai người đều thất bại cả hai”[26, 633].
Cách mạng là một quá trình đầy khó khăn phức tạp. So với nhu cầu đòi
hỏi của thực tiễn, năng lực của cán bộ bao giờ cũng hữu hạn, không có người
cán bộ nào có thể làm tốt được mọi công việc, có người có năng lực ở lĩnh
vực này, nhưng lại có thể không có năng lực ở lĩnh vực khác và ngược lại. Vì
vậy, theo Hồ Chí Minh, khi phân công công việc cho cán bộ, đòi hỏi phải dựa
trên cơ sở không chỉ đánh giá đúng về phẩm chất chính trị, đạo đức của cán
bộ, mà còn phải đánh giá đúng về năng lực của họ, có như vậy mới có thể
giúp họ hoàn thành tốt công việc được giao và do đó, mới có lợi cho cách
mạng. Người khẳng định “Nếu người có tài mà không dùng đúng tài của họ
cũng không được việc”[25, 274].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, khi sử dụng, đề bạt, cất nhắc cán bộ, đòi hỏi

cứu lý luận của môn ấy[25, 270].
Kết quả học tập nghiên cứu, rèn luyện tu dưỡng ở cán bộ, đảng viên như
thế nào xét đến cùng là do chính bản thân họ quyết định. Nó phụ thuộc vào ý

11
thức và khả năng của mỗi người. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết cần phải hình thành được ở họ ý thức tự giác
trong học tập nghiên cứu, rèn luyện tu dưỡng. Nó cũng đòi hỏi những người
làm công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải căn cứ vào trình độ của
cán bộ để từ đó xác định nội dung và phương pháp giáo dục đào tạo, bồi
dưỡng cho phù hợp.
Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử. Là sản
phẩm của một nền kinh tế tiểu nông, nhiều người, trong đó có cán bộ, đảng
viên không tránh khỏi mang trong mình nhiều tư tưởng tôn ty trật tự theo kiểu
phong kiến. Mang nặng những tư tưởng tôn ty tật tự phong kiến, trong giáo
dục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhiều người dễ rơi vào chủ nghĩa hình thức,
không có được những cách thức tổ chức thực hiện cụ thể thiết thực.
Hồ Chí Minh là người sớm nhận thấy tình trạng như đã nêu. Người đã có
những chỉ dẫn khoa học về việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Người
khẳng định việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ “phải theo trình độ văn hóa cao
hay thấp mà đặt lớp, chứ không theo cấp bậc cán bộ cao hay thấp”[25, 271].
Với những cán bộ trình độ văn hóa còn hạn chế thì “trước hết phải dạy cho họ
những thưởng thức: Lịch sử, địa dư, làm tính, khoa học tự nhiên, xã hội,
chính trị, cách viết báo cáo, nghĩa vụ và quyền lợi người công dân”[25, 271].
Còn với những cán bộ có “trình độ văn hóa khá thì ngoài việc học tập chính
trị và nghề nghiệp đều cần học thêm lý luận”[25, 271].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, trong giáo dục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
cần phải xuất phát từ chính bản thân người cần được đào tạo bồi dưỡng. Đó là
phải dựa trên cơ sở đánh giá đúng đắn về ưu điểm cũng như những tồn tại yếu
kém của cán bộ. Có như vậy thì mới có thể xác định được nội dung và

cách mạng. Vì vậy, Đảng ta phải quan tâm làm tốt công tác đánh giá cán bộ.
Đây là cơ sở giúp cho Đảng có thể làm tốt công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ,
sử dụng cán bộ, đề bạt và cất nhắc cán bộ, đồng thời phát hiện và xử lý kịp
thời những cán bộ yếu kém, mắc sai lầm khuyết điểm. Theo Hồ Chí Minh, để
có thể đánh giá đúng đắn về cán bộ, đòi hỏi Đảng phải xác định được các
nguyên tắc đánh giá, quy trình và phương pháp đánh giá, các tiêu chí đánh giá
khách quan, khoa học, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn cách mạng.

13
1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc, quy trình và phƣơng
pháp đánh giá cán bộ
1.2.1. Về nguyên tắc đánh giá cán bộ
Đánh giá cán bộ đòi hỏi phải đánh giá toàn diện cả về đức lẫn tài, cả về
phẩm chất chính trị, đạo đức cũng như về năng lực công tác, không được coi
nhẹ mặt nào. Không những thế, trong đánh giá cán bộ, đòi hỏi phải xác định
được đâu là ưu điểm cũng như đâu là tồn tại yếu kém, đâu là mặt mạnh cũng
như đâu là mặt yếu kém, trong đó mặt nào là cơ bản chủ yếu ở người cần
đánh giá.
Theo Hồ Chí Minh, con người, trong đó có người cán bộ, bên cạnh mặt
tốt có thể có mặt xấu, bên cạnh cái thiện có thể có cái ác. Vì vậy có đánh giá
được toàn diện về cán bộ thì Đảng mới có thể sử dụng được cán bộ một cách
đúng đắn và mới có thể giúp cho phần tốt ở họ phát triển, "nảy nở như hoa
mùa xuân và làm cho phần xấu ở họ mất dần đi".
Cũng như mọi người, suy nghĩ và tình cảm của cán bộ không bất biến.
Có người trước đây là người có đạo đức cách mạng trong sáng, nhưng hiện tại
có thể không còn trong sạch, vững mạnh, mắc sai lầm khuyết điểm. Ngược
lại, có người trước đây có những tồn tại yếu kém, có lúc mắc sai lầm khuyết
điểm, nhưng hiện tại có thể đã trở thành người tốt, có những suy nghĩ và việc
làm đúng đắn, có lợi cho cách mạng. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, khi đánh giá
cán bộ, đòi hỏi người đánh giá phải có quan điểm phát triển, lịch sử cụ thể.

bộ, cách mạng của giai cấp công nhân, con người mới có khả năng phản ánh
đúng đắn về hiện thực khách quan.
Để đấu tranh tự giải phóng khỏi mọi áp bức bất công đòi hỏi giai cấp
công nhân phải có những nhận thức đúng đắn về các quy luật khách quan, các
quy luật vận động phát triển của lịch sử. Trong đánh giá cán bộ, đòi hỏi người
đánh giá phải đứng vững trên lập trường quan điểm, lợi ích của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, phải vì lợi ích chung, phải khách quan công tâm.
Theo Hồ Chí Minh, đây là yêu cầu không thể thiếu nhằm giúp người đánh giá
có thể đánh giá đúng về cán bộ.
Khách quan công tâm là đối lập với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá
nhân. Rơi vào chủ nghĩa cá nhân, người đánh giá không tránh khỏi có những

15
nhận xét, đánh giá không đúng về cán bộ. Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra
những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong đánh giá cán bộ. Đó là những tư
tưởng gia đình dòng tộc chủ nghĩa, địa phương cục bộ, ích kỷ hẹp hòi, yêu
nên tốt, ghét nên xấu, kéo bè, kéo cánh Người luôn đấu tranh phê phán mọi
biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân
thì người đánh giá không tránh khỏi tình trạng:
Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là
hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì
người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha,
nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó
làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực
hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết
giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ[25, 257].
Khách quan công tâm là một yêu cầu của đạo đức cách mạng. Để có thể
đánh giá đúng về cán bộ, đòi hỏi người đánh giá phải có đạo đức cách mạng,
phải luôn luôn tự phê bình, biết nhận thức được về những điều phải trái ở
mình. Theo Hồ Chí Minh, nếu người đánh giá “không tự biết mình thì khó mà

huy tư duy, trí tuệ của tập thể, của nhân dân, giúp cho những người làm công
tác cán bộ có thể đánh giá được đầy đủ, đúng đắn về cán bộ.
1.2.2. Về quy trình và phƣơng pháp đánh giá cán bộ.
Cán bộ là những người nói phải đi đôi với làm. Song, trên thực tế có tình
trạng nhiều cán bộ nói không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều nhưng làm ít. Nói
không đi đôi với làm thì không có ý nghĩa thực tế, nhiều khi là đạo đức giả,
biểu hiện của sự thoái hoá biến chất về đạo đức ở nhiều người. Vì vậy, theo
Hồ Chí Minh, khi đánh giá về cán bộ, đòi hỏi người đánh giá "chẳng những
xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có
đúng với lời nói, bài viết của họ hay không"[25, 281].
Đánh giá cán bộ cần phải căn cứ trước hết vào kết quả công việc của
người cần đánh giá. Bởi vì, đây là cơ sở để có thể phân biệt được người thực
sự có đức, có tài với người không có đức, không có tài. Nó đồng thời cũng là
cơ sở để phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Song khi đánh

17
giá và sử dụng cán bộ, nhiều người chỉ dừng lại ở những điều cán bộ nói, mà
không căn cứ vào những việc cán bộ làm. Đánh giá và sử dụng cán bộ như
vậy thì không tránh khỏi sai lầm. Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và phê phán
tình trạng này. Người nói:
Trong Đảng ta, có những nơi thường dùng những người văn hay, nói
khéo, nhưng không làm được việc, không ra tranh đấu. Mà những đồng
chí viết không hay nói không thạo nhưng rất trung thành, hăng hái, rất
gần gũi quần chúng, thì bị dìm xuống. Chúng ta phải sửa ngay những
điểm đó[25, 275, 276)
Cán bộ là gốc của mọi công việc. Với cán bộ lãnh đạo quản lý, kết quả
công việc của họ được thể hiện thông qua thực tiễn phong trào quần chúng.
Trong thời kỳ đất nước có giặc ngoại xâm, “cán bộ tốt” là những người tuyên
truyền, giác ngộ, thống nhất được ý chí và hành động của nhân dân, đoàn kết
nhân dân, phát huy được truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh dũng cảm

Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới, cái gì cũng biến hóa. Tư tưởng của
con người cũng biến hóa. Vì vậy, cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp
nhất, vì nó cũng phải biến hóa”[25, 278].
Thực tiễn là nơi có thể thể hiện một cách chân thực suy nghĩ và tình cảm
của con người. Song đó không phải là thực tiễn nhất thời, mà là thực tiễn
trong cả một quá trình. Khi đánh giá cán bộ, cần phải căn cứ vào kết quả công
việc của người cần đánh giá, nhưng đó không phải là kết quả công việc ở một
nơi, một lúc nào đó, mà phải là kết quả công việc của cả một quá trình. Hồ
Chí Minh nói: "Xem xét cán bộ, không chỉ xem xét ngoài mặt mà phải xem
xét tính chất của họ. Không chỉ xem xét một việc, một lúc mà phải xem toàn
cả lịch sử, toàn cả công việc của họ"[25, 278].
Suy nghĩ và việc làm của con người luôn chịu sự chi phối của điều kiện
hoàn cảnh. Trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau, kết quả công việc
của cán bộ có thể có sự khác nhau. Vì vậy, trong đánh giá cán bộ, Hồ Chí
Minh khẳng định cần phải căn cứ vào kết quả công việc của người cần đánh
giá, nhưng phải đặt kết quả công việc của họ trong những điều kiện hoàn cảnh
cụ thể để đánh giá.

19
Con người, trong đó có người cán bộ chỉ có thể thể hiện đầy đủ, đúng
đắn những suy nghĩ và tình cảm của mình khi có điều kiện hoàn cảnh cho
phép. Trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, người cán bộ thường chỉ thể
hiện những gì mà công việc của họ đòi hỏi và khi họ thấy cần thiết và có lợi.
Do đó, nếu chỉ căn cứ vào thực tế công việc của cán bộ, thì khó có thể đánh
giá được hết về năng lực của cán bộ.
Đánh giá cán bộ là nhằm để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Nó đòi hỏi phải đánh giá được đầy đủ, đúng
đắn về những phẩm chất và năng lực của cán bộ. Đó là phải đánh giá đúng về
những gì cán bộ đã thể hiện, cũng như đánh giá về những điều còn chưa thể
hiện ở cán bộ. Vì vậy, khi đánh giá cán bộ, đặc biệt là đánh giá để từ đó đề

của bản thân. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để phát huy được ý
thức, tinh thần trách nhiệm trong tự đánh giá của cán bộ, đảng viên.
Đạo đức cách mạng đối lập với bệnh giả dối, “kiêu ngạo, tự cao tự đại,
ham địa vị, hay lên mặt, bệnh háo danh, tự cho mình là anh hùng, vĩ đại”.
Người có đạo đức cách mạng là người luôn tôn trọng chân lý, lẽ phải. Vì vậy,
để phát huy ý thức tự đánh giá, tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật ở cán bộ, đảng viên, thì cần phải quan tâm làm tốt công tác tuyên
truyền giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Tự đánh giá là cơ sở giúp cho mỗi người nhận ra được ưu điểm, cũng
như những tồn tại yếu kém của bản thân. Nó là cơ sở để mỗi người rèn luyện,
tu dưỡng, xác định được cho bản thân những việc cần phải làm, cũng như
những việc cần phải tránh. Song do rơi vào chủ nghĩa cá nhân, nhiều người đã
không nghiêm túc trong việc tự đánh giá về bản thân.
Con người làm gì xét đến cùng cũng là vì lợi ích. Vì vậy, Theo Hồ Chí
Minh, để phát huy ý thức tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, thì cần
phải có những quy định rõ về quyền hạn và trách nhiệm cá nhân, trước hết là
quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo quản lý. Hồ Chí Minh luôn đòi
hỏi cán bộ lãnh đạo quản lý phải là người đầu tiên chịu trách nhiệm về tình
hình phát triển của đơn vị mà họ phụ trách.
Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến công tác thi đua khen thưởng.
Người chủ trương khen thưởng và kỷ luật phải nghiêm minh và công bằng, ai

21
hoàn thành tốt công việc thì được khen thưởng, ai không hoàn thành hoặc
không hoàn thành tốt công việc thì phải bị phê bình kỷ luật, tránh nể nang, né
tránh, phê bình cảnh cáo qua loa, che đậy, tha thứ cho nhau. Theo Người, nếu
phê bình kỷ luật không nghiêm thì sẽ làm cho cán bộ “không những không
biết sửa lỗi mà còn khinh thường kỷ luật”[22, 73].
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc đổi mới quản lý nhà
nước, quản lý hợp tác xã, quản lý nhà máy xí nghiệp…Trong kỳ họp Hội

so sánh kỹ, phân tích kỹ Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến
đúng”[25, 297].
Cán bộ là người công tác trong nhân dân, phục vụ nhân dân. Nếu được
dân tin, dân mến thì mọi công việc sẽ được thực hiện dễ dàng, thuận lợi. Để
nhân dân tham gia vào đánh giá cán bộ, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của
nhân dân là cơ sở để nâng cao trình độ làm chủ của nhân dân. Nó cũng là cơ
sở để cán bộ được dân tin, dân yêu và từ đó mà lãnh đạo được nhân dân.
Nhân dân chỉ thực sự tham gia vào quản lý, đánh giá cán bộ khi có hiểu
biết về những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, về
những thông tin có liên quan đến người cần đánh giá. Vì vậy, để phát huy vai
trò của nhân dân tham gia vào quản lý, đánh giá cán bộ, thì cần phải làm tốt
công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao trình độ nhận thức cho nhân dân.
Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm nâng cao trình độ hiểu biết về chủ
trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, về những thông tin có
liên quan đến cán bộ cho nhân dân. Người luôn yêu cầu các cơ quan đơn vị
phải công khai hoá về các chế độ chính sách, về tài chính để nhân dân biết.
Người khẳng định quản lý "phải dân chủ, tài chính phải công khai, sổ sách
phải minh bạch"[38, 595].
Là sản phẩm của nền kinh tế tiểu nông nên trình độ làm chủ của nhân
dân không tránh khỏi còn nhiều hạn chế. Nhiều người còn mang nặng tư
tưởng "dĩ hoà vi quý", không dám nhận xét đánh giá về cán bộ, đặc biệt là
nhận xét đánh giá về tồn tại yếu kém, sai lầm khuyết điểm của họ. Hồ Chí
Minh đã thấy được tình trạng này. Theo Người, để lấy được ý kiến của nhân
dân về cán bộ thì cần phải có những phương pháp thực hiện phù hợp. Năm
1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người viết:

Trích đoạn Về năng lực của ngƣời cỏn bộ Thực trạng cụng tỏc đỏnh giỏ cỏn bộ ở nƣớc ta hiện nay 1 Những thành tựu Những tồn tại yếu kộm Quỏn triệt cỏc nguyờn tắc khoa học trong đỏnh giỏ cỏn bộ Xõy dựng và hoàn thiện quy trỡnh và phƣơng phỏp đỏnh giỏ cỏn bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status