Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du - Pdf 25


1
MỤC LỤC A.MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN DU 8
1.1. Những tiền đề hình thành tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du
*
8
1.1.1. Tiền đề kinh tế - xã hội 8
1.1.2. Điều kiện chính trị 9
1.1.3. Điều kiện văn hóa – tư tưởng 11
1.2. Nguyễn Du – cuộc đời và tư tưởng 20
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA
NGUYỄN DU VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
VIỆT NAM HIỆN NAY 34
2.1. Quan niệm của Nguyễn Du về thân phận con người 34
2.2. Tôn trọng, bảo vệ phẩm giá và khát vọng sống của con người đặc biệt
là người phụ nữ 46
2.3. Thái độ lên án những thế lực chà đạp lên phẩm giá của con người. . 58
2.4.Ý nghĩa của tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du đối với đời sống xã hội
Việt Nam hiện nay 76
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

2
A.MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

rõ hơn sự cần thiết phải giữ gìn và phát triển hơn bao giờ hết truyền thống
nhân văn của dân tộc, truyền thống yêu thương con người. Đó cũng là lý do
quan trọng để chúng ta tìm về với những giá trị nhân văn của dân tộc, thấy
được những điều tốt đẹp mà ông cha ta đã nhắc nhở hàng thế kỷ trước và rút
ra bài học cho con người chúng ta ngày hôm nay.
Những tư tưởng nhân văn trong thơ ca Nguyễn Du đã kế thừa truyền
thống được kết tinh trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của
dân tộc ta. Như người kết tinh hoa từ trong chiều sâu lịch sử đó, Nguyễn Du
nổi lên như một gương mặt tiêu biểu về tư tưởng nhân văn. Tư tưởng nhân
văn của Nguyễn Du kết tinh sâu lắng nhất và cũng là hiện thân của tinh thần,
cốt cách con người Việt Nam rất cần được phát hiện thêm các chiều cạnh
khác nhau để có thể thấy được tầm tư tưởng triết học xứng đáng.
Hơn hai trăm năm trôi qua, đã có rất nhiều những công trình, tác phẩm,
bài viết nghiên cứu, đánh giá về Nguyễn Du ở nhiều gốc độ. Có lẽ chưa một
tác gia nào được bàn nhiều, nghiên cứu nhiều như Nguyễn Du. Cho đến nay,
nghiên cứu về Nguyễn Du vẫn là một đề tài hấp dẫn và “nói mãi không hết”.
Những tư tưởng của Nguyễn Du đặc biệt là tư tưởng nhân văn không chỉ có ý
nghĩa đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thời đại ông bởi tính vượt thời đại
của nó, bởi những tư tưởng đó mở đầu cho trào lưu hướng đến con người cá
nhân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Vì những lý do trên mà tôi lựa chọn đề
tài tìm hiểu Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du làm đề tài luận văn thạc sỹ
triết học.

4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Nguyễn Du là một tác gia tiêu biểu của Việt Nam, những đóng góp của
Nguyễn Du là rất lớn, vì vậy những tác phẩm đánh giá, bình luận trên nhiều
phương diện về Nguyễn Du rất nhiều khó có thể thống kê được. Trong phạm
vi luận văn này, tôi chỉ đề cập đến những tác phẩm tiêu biểu, trong đó có nội
dung liên quan bình giá đến tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du.

hội cũ và thấy được thái độ của Nguyễn Du đối với nhân vật đó là sự cảm
thương sâu sắc, là tinh thần nhân đạo cao cả của nhà thơ. Hoài Thanh đã cho
rằng khi Nguyễn Du dựng lên một cuộc đời, một con người trong tác phẩm thì
đó là cách ông phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề thời đại. Nói về
Thúy Kiều, “Nguyễn Du đã nói dùm nỗi niềm cho tất cả những người bị ngạt
thở trong cái khuôn phong kiến”. Còn nói đến Từ Hải là nói đến cái mơ ước
được sống phóng túng, “sống mạnh mẽ, sống say mê ở ngoài khuôn khổ bấy
giờ”. Gía trị nhân đạo của Truyện Kiều, theo Hoài Thanh chính là ở đó.
Trong luận văn thạc sĩ khoa học của Vũ Thị Nga Tư tưởng nhân đạo
của Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều đã trình bày một cách sâu sắc
những nội dung tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Luận
văn đã phân tích và khẳng định rằng tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du là một
giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Từ đó, luận văn cũng khẳng định
được những ý nghĩa của tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa của Nguyễn Du đối với
việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết khác nghiên cứu về tư tưởng nhân
đạo của Nguyễn Du như những nghiên cứu của Nguyễn Lộc, Trần Nho Thìn,
Trương Tửu, Lê Đình Kỵ, Lê Thị Lan…

6
Có thể khẳng định, các sáng tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về số
lượng nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học và văn hóa dân
tộc. Và cũng chính vì thế, số lượng những bài bình giá, những tác phẩm
nghiên cứu về chủ đề tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du là rất lớn. Tuy nhiên,
các nhà nghiên cứu về Nguyễn Du trong chừng mực nhất định thường chú
trọng tìm hiểu tư tưởng nhân đạo đó thể hiện ở Truyện Kiều – là tác phẩm tiêu
biểu của Nguyễn Du mà ít có sự quan tâm đến những tác phẩm thơ chữ Hán
và chữ nôm khác. Đặc biệt, với tư cách là nhà thơ có tư tưởng nhân văn sâu
sắc nhưng di sản của Nguyễn Du chưa được các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu
về tư tưởng này mà có chăng chỉ là sự nghiên cứu dưới những góc độ nhỏ lẻ.

7.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
*Ý nghĩa lý luận: Làm rõ hơn về những tiền đề cho sự ra đời và những
biểu hiện nội dung của tư tưởng nhân văn Nguyễn Du. Trên cơ sở đó bước
đầu đánh giá những giá trị của tư tưởng nhân văn Nguyễn Du đối với sự phát
triển của lịch sử tư tưởng giai đoạn này.
*Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho các học viên chuyên ngành triết học và những người quan tâm đến
vấn đề này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương 6 tiết
Chương 1: Những tiền đề của sự hình thành và phát triển tư tưởng nhân
văn của Nguyễn Du.
Chương 2: Một số nội dung tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du và ý
nghĩa của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. 8 CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN DU
1.1. Những tiền đề hình thành tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du
*
1.1.1. Tiền đề kinh tế - xã hội
Ngay từ thời Lê sơ ruộng đất dần dần tập trung vào giai cấp địa chủ, sự
phá sản và bần cùng hóa ngày càng tăng nghiêm trọng, đến nỗi năm 1711
Trịnh cương phải ra lệnh “Các nhà quyền quý thế gia, các viên gia và các nhà
hào phú không được thừa khi xã dân bần khổ, phiêu bạt thác cớ, mua ruộng
đất để chiếm nhận làm của riêng tư, lập trang trại”. Tuy nhiên, chiếm dụng

sống hàng ngày. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các đô thị
cũng phát triển với tốc độ ngạc nhiên. Tuy nó chưa đủ để tạo ra một cơ sở tiền
tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam nhưng nó đã góp phần làm cho mâu thuẫn xã
hội phong kiến trở nên gay gắt từ khi xu thế dùng tiền để thao túng quan hệ xã
hội.
1.1.2. Điều kiện chính trị
Nếu như nền kinh tế trong giai đoạn này bị suy thoái, trì trệ trầm trọng
thì về mặt chính trị cũng không kém phần khủng hoảng. Có thể khái quát, tình
hình chính trị giai đoạn này nổi lên hai đặc điểm cơ bản là đó là sự suy đồi,
thối nát của bộ máy cai trị và tinh thần quật khởi đòi quyền sống của quần
chúng, đặc biệt là giai cấp nông dân.
Chế độ phong kiến Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển
của mình kéo dài hàng chục thế kỷ luôn có những thăng trầm. Từ khi hình
thành cho đến thế kỷ XV là giai đoạn cực thịnh của nó thể hiện rõ trong
những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm oai hùng, trong sự hoàn thiện và phát
triển của xã hội. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng tính chất “tích cực
của xã hội phong kiến chỉ là tương đối”. Gắn liền với chế độ phong kiến là

10
một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, là sự trì trệ về kinh tế, văn hóa và một
hệ thống luân lý đạo đức khắc nghiệt bóp nghẹt quyền sống và khát vọng của
con người.
Sự hạn chế của chế độ phong kiến càng thể hiện rõ hơn trong giai đoạn
xuống dốc của nó. Từ đầu thế kỷ XVI, nhất là khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi
vua Lê lập nên nhà Mạc (1527-1592) đã báo hiệu một cuộc khủng hoảng
không sao cứu vãn nổi của chế độ phong kiến Việt Nam. Vào khoảng thời
gian này, mặc dù đất nước vẫn duy trì một sự quản lý tương đối thống nhất,
nhưng với chính sách “nới rộng địa bàn”, tiêu diệt những tàn tích của vua Lê
đã làm nảy sinh những mâu thuẫn mới và đẩy những mâu thuẫn trong xã hội
ngày càng sâu sắc. Cuộc phân liệt Nam – Bắc triều là minh chứng cho điều

mạnh mẽ là một tất yếu lịch sử. Đó là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển,
Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oanh ở Hải Dương, Lê Duy Mật ở Thanh Hóa, Nghệ
An…Trong đó có cuộc khởi nghĩa lớn kéo dài hàng chục năm như cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (từ 1741- 1751), hoạt động trên một vùng rộng
lớn của đồng bằng Bắc Bộ, uy hiếp cả kinh thành Thăng Long, cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Danh Phương ở Sơn Tây rồi tràn sang Thái Nguyên, Tuyên
Quang. Cuộc khởi nghĩa của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã cuốn đi những
gì rác rưởi của thời đại, đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước. Mặc dù sự xuất
hiện của triều đại Tây Sơn rốt cuộc vẫn là sự thay thế triều đại phong kiến này
bằng một triều đại phong kiến khác nhưng phong trào khởi nghĩa nông dân
Tây Sơn đã chứng tỏ sức mạnh của nhân dân lao động, niềm khao khát hướng
đến cuộc sống mới tự do, hạnh phúc.
1.1.3. Điều kiện văn hóa – tư tưởng
Để hiểu hơn những điều kiện văn hóa - tư tưởng cho sự hình thành và
phát triển tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du thì chúng ta tìm hiểu nội hàm

12
của khái niệm chủ nghĩa nhân văn. Tùy cách tiếp cận dưới góc độ triết học,
tôn giáo học hay nhân chủng học, đạo đức học…chúng ta có thể hiểu nhân
văn theo nhiều nghĩa khác nhau. Trải qua quá trình phát triển, nội hàm khái
niệm nhân văn cũng có những thay đổi nhất định.
Để hiểu khái niệm tư tưởng nhân văn, chúng ta phải hiểu tư tưởng là
gì? Tư tưởng được hiểu là sự suy nghĩ, là quan điểm hay ý nghĩ chung của
con người đối với hiện thực khách quan và xã hội nói chung [67, 1262]. “Tư
tưởng” là ý nghĩ sâu sắc [71, 1019] hay chính là sự suy nghĩ, là những quan
điểm và ý nghĩ chung của con người về thế giới tự nhiên và xã hội” [70, 841].
Ban đầu người ta sử dụng thuật ngữ gốc Latinh là Studia Humanitatis
nghĩa là chủ nghĩa nhân văn dùng để chỉ việc nghiên cứu về các môn học của
người Hi Lạp cổ như nghệ thuật, văn học, lịch sử, đạo đức…đó là những môn
học tách hẳn khoa học tự nhiên, siêu hình học và thần học mà người ta cho là

Xét ở cấp độ lịch sử, cuốn sách này cho rằng chủ nghĩa nhân văn là một
trào lưu tư tưởng văn hóa nảy sinh ở Italia và một số nước khác ở Châu Âu
thời Phục hưng (thế kỷ XIV – XVI). Khi nói về chủ nghĩa nhân văn Phục
hưng, chúng ta có thể hiểu nó là một trào lưu tư tưởng và văn hóa thời Phục
hưng ở Châu Âu. Đây là một phong trào chống giáo hội nhằm đề cao con
người và giải phóng cá nhân khỏi sự đè nén tinh thần của chế độ phong kiến,
chống chủ nghĩa kinh viện và giáo hội, hướng con người vào xây dựng cuộc
sống thực tại. Không phải ngẫu nhiên khi thấy vấn đề con người đứng ở trung
tâm thời đại này. Vừa để tỏ rõ sự kế thừa văn minh cổ đại (kế thừa là một quy
luật, một thuộc tính của sự phát triển văn minh và văn hóa của con người),
vừa để dễ chống đỡ với những quyền uy đương thời, để tránh bị gán cho là tà
đạo, những người đi đầu thời đại Phục hưng đề xướng sự trở về với những cội
nguồn thời cổ đại. Đó chính là sự trở về với những yếu tố nhân văn chủ nghĩa

14
đã nảy sinh từ thời cổ đại, trở về với vấn đề con người. Vì thế, họ tự xưng là
những nhà nhân văn chủ nghĩa (humaniste, gốc từ chữ Latin “humanus” –
của con người) để đối lập với dòng tư tưởng nhà thờ chính thống đương thời.
Trong khi dòng tư tưởng chính thống tập trung vào việc nghiên cứu Thượng
đế thì những nhà nhân văn chủ nghĩa tập trung vào nghiên cứu con người. Lần
đầu tiên, một sự đối lập giữa con người và thượng đế được thiết lập dưới hình
thức công khai hay thầm kín. Ðây là sự phản ứng quyết liệt của con người đối
với Thượng đế, nói đúng hơn, với thứ Thượng đế do đức tin giáo hội trung cổ
áp đặt. Tôn giáo đã làm con người bị lu mờ trong những tín điều của những
tín ngưỡng, của nghi lễ, của sự phục tùng tuyệt đối. Vì thế các nhà nhân văn
chủ nghĩa vén bức màn tôn giáo ấy để cho con người hiển hiện như vốn có.
Họ làm một “sự phát hiện về thế giới và con người”. Họ thấy rằng con người
không phải tự nó chìm ngập giữa những đống tội lỗi, bắt đầu từ “tội tổ tông”,
để rồi họ phải suốt đời tìm cách cứu rỗi bằng cách hiến mình cho Thượng đế.
Họ thấy rằng con người là một thực thể sống, với tất cả những nhu cầu, những

duy vật nhân bản là L.Fuerbach và S.Tsécnepxki.
Trong truyền thống trước đây, khái niệm nhân văn ở Phương Đông
được hiểu với nội dung là văn hóa, giáo hóa. Sách Kinh Dịch có viết: Quan hồ
nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ, nghĩa là: xem xét nhân văn để giáo hóa cho
toàn thiên hạ.
Dĩ nhiên, chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn này thuộc phạm trù
văn hóa Phương Đông nên có những đặc thù so với chủ nghĩa nhân đạo, tư
tưởng nhân văn Phương Tây thời Phục hưng – khi giai cấp tư sản xuất hiện
trong bối cảnh văn hóa Tây Âu.
Có thể nói, khái niệm nhân văn nghiêng về khía cạnh văn hóa – tư
tưởng coi con người là một chủ thể sáng tạo văn hóa; yêu cầu đối xử với con

16
người trên bình diện văn hóa: coi trọng con người; coi trọng tự do và vai trò
cá nhân của con người chủ thể trong xã hội.
Ở Phương Tây, khi nói đến chủ nghĩa nhân văn, người ta thường liên
tưởng ngay đến cơ sở thực tiễn của nó là sự phát triển của các đô thị, đến nền
kinh tế hàng hóa và sự ra đời của giai cấp tư sản. Bởi có thể nói chủ nghĩa
nhân văn, ở một góc độ nào đó là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đang lên
nhằm chống lại hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến đang thống trị và nó được
thể hiện cả trong văn học, nghê thuật và nhất là trong các tác phẩm chính luận
bàn về chủ nghĩa nhân văn từ các mức độ đậm nhạt khác nhau và phát triển
mạnh mẽ vào thời Phục hưng.
Nếu đem áp đặt công thức khái niệm chủ nghĩa nhân văn Phương Tây
như chúng ta vừa nói trên vào nghiên cứu biểu hiện cụ thể ở lịch sử tư tưởng
Việt Nam là không đủ cơ sở, nếu không muốn nói là cục bộ, phiến diện và
giáo điều. Trong bài Những nhận xét phê phán về vấn đề dân tộc, V.I.Lênin
đã cho rằng trong mỗi nền văn hóa dân tộc đều có những yếu tố văn hóa dân
chủ và xã hội chủ nghĩa – dù rằng những yếu tố ấy ít nhiều phát triển đến đâu
đi chăng nữa – bởi vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc

Nhìn lại trong lịch sử chúng ta có thể khẳng định rằng thương người là
một đức tính lớn mà dân tộc nào tự mình cũng coi nó là một chuẩn mực đối
xử giữa con người và con người. Tuy nhiên, lòng thương người ở mỗi dân tộc
lại biểu hiện cụ thể trên những sắc thái khác nhau tùy theo điều kiện lịch sử,
điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa của dân tộc đó. Qủa thật, trong Nho giáo
một vấn đề mấu chốt là đạo Nhân, còn trong Phật giáo tư tưởng trọng yếu vào
bậc nhất là từ bi. Tư tưởng nhân ái và tư tưởng từ bi, nhất là theo sự hiểu
thông thường của người dân, đều có ảnh hưởng sâu sắc đến nền đạo đức Việt
Nam, bởi vì cả Nho giáo và Phật giáo đều đã lưu hành ở Việt Nam từ hàng

18
nghìn năm, và đã từng được suy tôn làm quốc giáo. Tuy vậy, đức tính
“thương người” của Việt Nam không phải chỉ xuất phát từ Nho giáo hay Phật
giáo mà đã có trước khi Nho giáo và Phật giáo vào Việt Nam; nó xuất phát từ
chính yêu cầu của thực tiễn cuộc sống của người Việt Nam cổ đại và có sự kế
thừa, tiếp biến của ngoại lai tạo ra sự phong phú, đa dạng.
Chúng ta trở lại với điều kiện văn hóa – tư tưởng của cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX. Có một điều tưởng như “nghịch lý” về hình thức đó là
trái với sự khủng hoảng và suy thoái nghiêm trọng của tình hình kinh tế,
chính trị của xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế
kỷ XIX thì đời sống về mặt văn hóa – tư tưởng của Việt Nam lúc này lại có
những bộc phát. Điều này có thể lý giải được khi chúng ta nắm bắt được quy
luật duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội so với đời
sống vật chất của xã hội.
Cùng với những thành tựu lớn lao trên lĩnh vực văn hóa thì về mặt tư
tưởng cũng có những kế thừa những thành quả thời kỳ trước và có những biến
đổi sâu sắc do sự thay đổi của hiện thực xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Trong
đó, tư tưởng nhân văn là một trong những biểu hiện đột phá trong nhận thức
của các nhà tư tưởng, nó vừa tiếp nối truyền thống nhân văn của dân tộc
nhưng bên cạnh đó nó còn mang những biểu hiện mới do hoàn cảnh lịch sử

hạnh, tai ương. Văn chương gần gũi, cận kề con người trong cơn hoạn nạn,
vất vả. Không dừng lại suy nghĩ, triết lý về số phận, về đời người, bằng văn
chương, các nhà tư tưởng tìm phương cách cứu giúp con người bớt khổ. Văn
học luôn đề cao lối ứng xử tình nghĩa, thủy chung, phải đạo, trong quan hệ
giữa người với người. Ở đó, con người, theo tinh thần nhân văn, luôn chuộng
lối sống khoan dung, chan hòa. Xã hội không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân
cực đoan. Con người, trong quan niệm của các nhà tư tưởng thiên về đạo lý,

20
đạo đức, chứ không theo bình diện triết học thể hiện ở bản thể luận hay nhận
thức luận.
Có thể nói, nội dung chủ nghĩa nhân văn giai đoạn này chủ yếu biểu
hiện trong quan hệ chống đối của quần chúng nhân dân đối với giai cấp thống
trị và với hệ tư tưởng phong kiến. Bên cạnh thái độ chính trị ấy là khuynh
hướng yêu cầu phát triển cuộc sống cá nhân và khát vọng tự do về cuộc sống
trần tục. Lúc này con người đã có ý thức chống đối những thế lực xã hội
thống trị, chống đối tư tưởng phản động, những khát vọng, những nhu cầu,
những đòi hỏi giải phóng tài năng, khát vọng đấu tranh để thực hiện nhu cầu
tự do, hạnh phúc, nhu cầu tự nhiên bản năng của con người. Có thể nói, chỉ
đến giai đoạn này, chủ nghĩa nhân văn mới phát triển mạnh mẽ đến thế. Bên
cạnh những tác phẩm thơ chữ Hán là hàng loạt sáng tác chữ Nôm – những
sáng tác này cùng nhau biểu đạt tư tưởng của thời đại.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, những điều kiện kinh tế - xã hội, văn
hóa, tư tưởng của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chính là
những tiền đề giúp cho Nguyễn Du hình thành nên những tư tưởng nhân văn
quan trọng của mình. Và trước khi tìm hiểu về chủ nghĩa nhân văn của
Nguyễn Du, chúng ta sẽ tìm hiểu về chính bản thân tác giả và những tư tưởng
chung nhất của ông.
1.2. Nguyễn Du – cuộc đời và tư tưởng


công được khen thưởng cũng được hưởng vinh hoa phú quý trong khi đa số
nhân dân đói khổ. Sống trong một gia đình như thế tư tưởng của Nguyễn Du
không thể là cái gì khác ngoài tư tưởng trung quân. Nhưng trải qua những
cuộc bể dâu của đời người, tư tưởng của Nguyễn Du cũng có những biến đổi.
Khảo sát các chặng trong cuộc đời của ông ta hiểu rõ về điều này.

22
Yếu tố thứ hai tạo nên cá tính Nguyễn Du là quê quán. Nghệ Tĩnh là
một vùng đất rừng rậm, núi cao, sông sâu, biển rộng. Một thiên nhiên hùng vĩ,
khắc nghiệt thường kích thích ở con người một sức chống cự bền bỉ, một lòng
kiên nhẫn phi thường trước hết để tồn tại và sau đó để tồn tại một cách xứng
đáng. Bởi thế, dân Nghệ là những người kiên cường, cứng cỏi, tuy ăn "cá gỗ"
mà ý chí sắt thép. Hơn nữa, Nghệ Tĩnh từ xưa vốn là một vùng đất biên
cương, phân chia giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Sự cọ xát miền biên viễn
bao giờ cũng trau dồi con người thêm ý chí. Vả lại, nơi tiếp giáp của những
miền cương thổ bao giờ cũng là một nơi tự do. Bởi thế, Nghệ Tĩnh là đất đến
của những người tị nạn chính trị (gia đình Nguyễn Du là một trường hợp) -
những kẻ có thành tích bất hảo, những kẻ phiêu lưu, những người thích vượt
biên. Sự nhập cư của những người này mang đến cho đất Nghệ những nguồn
sinh lực mới, trong đó đáng kể hơn cả là lòng yêu tự do, chống lại những
khuôn mẫu do một thổ ngơi văn hóa áp đặt
Tuy nhiên, nói đến Nguyễn Du mà chỉ nói đến quê Nghệ là chưa đủ,
cần phải nói thêm quê Bắc nữa. Bởi lẽ, mẹ nhà thơ là con gái Kinh Bắc. Đây
là một vùng văn hóa cổ của người Việt. Đặc biệt, đất Kinh Bắc có sinh hoạt
quan họ trữ tình độc đáo, tao nhã, nhàn tản và thú vị. Nơi sản sinh ra các cô
thôn nữ "khoẻ mạnh mà không thô kệch, quê mùa mà thanh lịch, yêu kiều mà
đoan trang, áo nâu non, váy lưỡi trai bảy bức, yếm thắm hoa hiên, răng đen
hạt huyền, mắt trong như dòng suối" Đây là hình ảnh tiêu biểu cho người
đàn bà Bắc Bộ. Có thể, Bắc Ninh nói riêng và đồng bằng Bắc bộ nói chung
tuy ít sản sinh ra anh hùng, nhưng là nơi làm cho họ trở thành anh hùng, hoặc

Khản bị cách chức và bị giam. Khi Trịnh Tông lên ngôi chúa, ông được tha và
được giao những chức vụ quan trọng như: lại bộ thượng thư, tham tụng.
Nhưng kiêu binh vẫn tiếp tục cậy thế làm càn mà Trịnh Tông không thể làm

24
gì để dẹp yên nạn này. Thậm chí chúng còn kéo đến phá nhà, toan giết chết
ông. Nguyễn Khản phải trốn vào phủ chúa, rồi cải trang chạy lên Tây Sơn rồi
sau đó về quê ở Hà Tĩnh. Thời gian đầy biến động này, Nguyễn Du còn ít tuổi
nhưng cuộc bể dâu từ chính gia tộc mình không thể không ảnh hưởng tới nhận
thức của ông. Có lẽ những gì được chứng kiến đã khiến ông thay đổi nhãn
quan của mình về cuộc đời, về con người
Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Thanh. Nhờ
có cuộc khởi nghĩa mà bộ mặt nhơ nhuốc của giai cấp thống trị bị bóc trần.
Điều này không thể không vang dội vào tâm trí Nguyễn Du. Đó là ngọn
nguồn cảm hứng để sau này trong những bài thơ chữ Hán của mình, ông viết
về giai cấp thống trị không mấy thiện cảm. Đáng chú ý là vào thời kỳ này
“thái độ chính trị của Nguyễn Du chẳng có gì là sáng suốt”. Nguyễn Du hành
động như một nhà Nho bị ràng buộc bởi quan niệm “trung thần bất sự nhị
quân” (tôi trung không thờ hai vua). Vì thế, khi Tây Sơn kéo quân ra bắc lần
thứ nhất năm 1786, Lê Chiêu Thống cùng đám tùy tùng bỏ nước chạy theo
đám tàn quân của bọn xâm lược, Nguyễn Du cùng các anh em của mình là
Nguyễn Đề, Nguyễn Ức chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp. Nguyễn
Du từ giã Nguyễn Đề, Nguyễn Ức về quê vợ ở Thái Bình sống nhờ người anh
vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn (lúc này đã theo Tây Sơn). Năm 1786, nghe tin ở
Gia Định, Nguyễn Ánh hoạt động mạnh, ông lên đường định vào Gia Định
theo Nguyễn Ánh nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì bị một viên
tướng của Tây Sơn bắt, Nguyễn Du bị giam 3 tháng thì được tha. Nhìn một
cách hiện tượng bề ngoài ta thấy Nguyễn Du trước sau đều cố gắng ra sức
chống Tây Sơn. Nhưng nếu hiểu tâm sự của Nguyễn Du qua thơ văn đặc biệt
là thơ văn chữ Hán thì ta lại thấy nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ có l í khi cho

hội phong kiến bạo tàn chà đạp những người lương thiện. Nguyễn Du quả

Trích đoạn Thái độ lên án những thế lực chà đạp lên phẩm giá của con người
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status