TÓM LƯỢC
Năm 2012 đã khép lại với biết bao sự kiện, diễn biến phức tạp và khó lường của
nền kinh tế thế giới, cũng là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với
những khó khăn, thách thức chưa từng có. Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế
giới và trong nước, NHNN đã có những phản ứng kịp thời, sử dụng đồng bộ và quyết
liệt để điều hành chính sách tiền tệ, đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế
lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, trong đó điều chỉnh lãi suất là một trong những công
cụ nhạy bén và hiệu quả hơn cả. Nhưng bên cạnh đó, những biến động về lãi suất cũng
làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các DN, nhiều DN đã kinh doanh
thua lỗ dẫn đến thu hẹp quy mô sản xuất hoặc phá sản.
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề lãi suất và ảnh hưởng của nó đến nền kinh
tế cùng với nền tảng cơ sở kiến thức sau bốn năm học tập tại trường Đại học Thương
mại và quá trình thực tập tại công ty cổ phần Traenco, em xin chọn đề tài: “Ảnh
hưởng của biến dộng lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH giải
pháp và tư vấn công nghệ Hoàng Mai” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Nội
dung của đề tài là phân tích sự biến động của lãi suất trong thời gian qua và ảnh hưởng
của nó đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH giải pháp và tư vấn công nghệ
Hoàng Mai, cụ thể là ảnh hưởng đến doanh thu, tổng chi phí và lợi nhuận của công ty
trong giai đoạn 2010 – 2012. Từ đó, đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty.
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện được bài khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực tìm kiếm, thu
thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như qua sách báo, internet, các bài luận văn
và các luận án, đề tài nghiên cứu trước đó có liên quan, em còn nhận được sự giúp đỡ
rất nhiệt tình từ phía các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế học vĩ mô. Đặc biệt, với sự
hướng dẫn rất nhiệt tình, tâm huyết của thạc sĩ Vũ Ngọc Tú, đã giúp em hoàn thành
được bài luận văn này. Vì vậy, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đặc biệt đến thạc sĩ
Vũ Ngọc Tú và các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế học vĩ mô, những người đã
luôn nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Ngoài ra, em cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, các anh chị đang công tác
NHTU : Ngân hàng trung ương
CNTT : Công nghệ thông tin
CP : Chính Phủ
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
VND : Việt Nam Đồng
USD : Đô la Mỹ
NQ : Nghị Quyết
TT : Thông tư
TB : Trung bình
vi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Như chúng ta đã biết, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một
cách chặt chẽ nhất trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hằng ngày trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến các
quyết định của cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và
toàn bộ nền kinh tế.
Trong nền kinh tế hiện đại, chính sách tiền tệ của Chính phủ sử dụng lãi suất như
một công cụ quan trọng để tác động vào nền kinh tế, kiểm soát lượng tiền cung ứng.
Lãi suất là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay và người
đi vay, phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền tệ, thực trạng kinh tế của một
nước. Thông qua sự biến động của lãi suất, người ta có thể dự đoán nền kinh tế đang
phát triển hay đang suy thoái.
Đối với nền kinh tế Việt Nam từ khi chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
lãi suất trở thành công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Lãi suất đã góp phần kiềm chế
lạm phát cũng như kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế trong công cuộc đổi
mới đất nước. Thực tiễn đã cho thấy, do những chính sách không phù hợp, mặc cho
nền kinh tế Việt Nam có tăng trưởng nhưng vẫn đi vào ngõ cụt và không có cách nào
vực lên được. Thực tiễn cũng đã chứng minh với chính sách đúng đắn về lãi suất đã
đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH giải pháp và tư vấn công nghệ
Hoàng Mai”.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Trên thực tế đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề tác động của lãi suất.
Qua thu thập được cá nhân em xin đưa ra một vài tên đề tài nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Bảo – Vụ trưởng vụ chính sách tiền tệ, NHNN
Việt Nam: “Một số vấn đề về cơ chế điều hành lãi suất hiện nay của Ngân hàng Nhà
nước đối với ổn định thị trường tiền tệ”. Bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa các loại lãi
suất chủ đạo trên thị trường, tác động của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của
NHTM và đưa ra các giải pháp thích hợp để điều tiết kinh tế vĩ mô, ổn định cung cầu
tiền tệ.
- Trên trang web: www.vies.org.vn có đăng Luận án tiến sỹ kinh tế chuyên ngành
Kinh tế chính trị Xã hội chủ nghĩa của nghiên cứu sinh Vũ Thị Dậu. Tên luận án:
“Chính sách lãi suất trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam”. Luận án này đưa ra
cách tiếp cận mới về vấn đề nghiên cứu chính sách lãi suất, đó là đi từ quan điểm kinh
tế thị trường, nghiên cứu vấn đề trong trạng thái “động” và đặt việc nghiên cứu trong
khung cảnh diễn biến của quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam. Tổng kết, đánh giá
những đổi mới trong chính sách lãi suất gắn liền với chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách lãi suất hiện hành của Việt Nam. Đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện chính sách lãi suất trong giai đoạn tích cực, chủ động hợp tác kinh tế sâu
rộng của Việt Nam.
2
- Tham luận của Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư
và phát triển Việt Nam: “Vai trò chính sách tiền tệ tại Việt Nam và một số khuyến
nghị chính sách suy giảm kinh tế”. Bài viết đã chỉ ra vai trò chính sách tiền tệ trong
chống suy thoái kinh tế ở các nước, bài học đối với việc áp dụng chính sách tiền tệ
chống suy giảm kinh tế ở Việt Nam.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: “Tác động của tự do hóa lãi suất đến
nền kinh tế Việt Nam” của sinh viên Đỗ Lương Trường (2009) – Đại học Kinh Tế
Quốc Dân. Đề tài nghiên cứu hướng đến hai mục tiêu chính: Thứ nhất là phân tích,
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực
của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là những ảnh
hưởng của lãi suất tới hoạt động kinh doanh công ty TNHH giải pháp và tư vấn công
nghệ Hoàng Mai.
Các mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống lại một số lý thuyết về lãi suất, hoạt động kinh doanh.
- Phân tích biến động lãi suất tại Việt Nam trong những năm gần đây.
- Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH giải pháp và tư vấn
công nghệ Hoàng Mai, ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của lãi
suất đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH giải pháp và tư vấn công nghệ
Hoàng Mai.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian nghiên cứu: Thị trường hoạt động của công ty, chủ yếu trên thị
trường Hà Nội và một số tỉnh vùng núi phía Bắc như Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái,
Lạng Sơn,…
- Thời gian nghiên cứu: Các biến số phản ánh hoạt động kinh doanh của công ty
TNHH giải pháp và tư vấn công nghệ Hoàng Mai sẽ được phân tích, so sánh trong giai
đoạn 2010 – 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng giải quyết vấn đề kinh tế xã hội. Vì vậy,
để đạt được hiệu quả cao và tận dụng được tính ưu việt của các phương pháp nghiên
cứu, đề tài đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau.
- Phương pháp phân tích:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để đánh giá các chỉ tiêu về kết quả hoạt
động kinh doanh trên các góc độ như: doanh thu, lợi nhuận, chi phí kinh doanh…
Đồng thời, phương pháp này cũng được dùng để phân tích các nhân tố môi trường ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty.
Hoàng Mai.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN
ĐỘNG LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
5
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm lãi suất
Theo quan điểm của K.Marx: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do
kết quả bóc lột l
ao
động
làm thuê bị tư bản - chủ ngân hàng chiếm đoạt”.
Như vậy theo K.Marx lãi suất có nguồn gốc từ lợi nhuận, là một bộ phận của lợi
nhuận. Tuy nhiên, ta thấy phạm vi đề cập của K.Marx chỉ ở phạm vi của quan hệ
cho vay và đi vay do sự phát triển hạn chế của các quan hệ tài chính, tiền tệ ở thời
kỳ đó.
Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng:“Lãi suất chính là sự trả
công cho số tiền
vay,
l
à
phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”. lãi suất do đó
còn được gọi là sự trả công cho sự chia lìa với của cải, tiền tệ.” (J.M. Keynes). Nói
một cách khác lãi suất chính là chi phí cơ hội của việc giữ tiền, là kết quả của hoạt
động tiền tệ.
Quan điểm coi lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ, là chi phí cơ hội của
việc giữ tiền có thể nói là một bước tiến lớn trong việc xác định các hình thức biểu
hiện và những nhân tố tác động tới lãi suất.
Tóm lại, lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng-giá
cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền
mua bán chịu và mức độ tín nhiệm giữa các doanh nghiệp tham gia quan hệ mua bán
chịu mà lãi suất tín dụng thương mại có các mức khác nhau.
Thứ hai: Lãi suất tín dụng Ngân hàng
Lãi suất tín dụng ngân hàng áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công
chúng và do doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái
cấp vốn của NHTƯ cho các ngân hàng và trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau
trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tín dụng ngân hàng bao gồm:
+ Lãi suất tiền gửi
+ Lãi suất tiền vay
+ Lãi suất chiết khấu
+ Lãi suất tái chiết khấu
+ Lãi suất liên ngân hàng
+ Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các NHTM và tổ
chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và
công bố trên cơ sở tình hình thực tế và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Lãi
suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác hình thành trong
nền kinh tế thị trường, đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng trong cơ chế thị
trường nói chung và trong cơ chế có điều kiện như ở nước ta hiện nay.
Thứ ba: Lãi suất tín dụng Nhà nước
Lãi suất tín dụng nhà nước áp dụng khi nhà nước đi vay các chủ thể khác nhau
trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu.
Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng xuất phát từ đề tài nghiên
cứu ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH giải pháp và
tư vấn công nghệ Hoàng Mai nên cá nhân em chỉ đề cập đến cách phân loại trên.
1.2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
Cung và cầu về tiền.
Lãi suất là giá cả của cho vay chính vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và
cầu về vốn không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi mức lãi suất trên thị trường
Từ đó cho thấy ta có thể điều chỉnh mức lãi suất trên thị trường bằng cách tác
Ngoài ra khi thâm hụt ngân sách đã trực tiếp làm cầu về quỹ cho vay trong các
định chế tài
ch
í
nh
t
ăng
lên, trong khi cung lại giảm và nâng cao lãi suất hoặc người
dân dự đoán lạm phát sẽ tăng cao do Nhà nước tăng khối lượng cung ứng tiền tệ,
dẫn tới việc găm tiền lại để mua tài sản khác làm cung quỹ cho vay bị giảm một
cách tương ứng và lãi suất tăng lên.
8
Những thay đổi về thuế.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty khi tăng lên có nghĩa là điều tiết
đi một phần thu nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay
những người tham gia kinh doanh chứng khoán. Mọi người đều quan tâm tới lợi
nhuận sau thuế hay thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh
ngh
ĩ
a
do
đó để đảm bảo
mức lợi nhuận thực tế họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi của
thuế.
Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước khác.
Tỷ giá do quan
hệ
gây nên hiệu ứng lãi suất của dự trữ tối thiểu. Do dự trữ tối thiểu không được trả lãi
9
cho nên dự trữ tối thiểu càng nhiều thì tổ chức tín dụng càng phải nâng cao lãi suất cho
vay để bù đắp cho cả phần lãi suất huy động vốn phải trả cho số vốn tăng lên đó của
dự trữ tối thiểu.
Công cụ lãi suất tái cấp vốn
Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất ngân hàng trung ương áp dụng khi cho các tổ chức
tín dụng vay đáp ứng các nhu cầu tạm thời về vốn theo các điều kiện do ngân hàng
trung ương qui định. Lãi suất tái cấp vốn được định thấp hơn lãi suất thị trường liên
ngân hàng. Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất tái cấp vốn sẽ làm giảm nhu cầu
vay ngân hàng trung ương của các tổ chức tín dụng đồng thời làm tăng nhu cầu vay
giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng dẫn đến sẽ làm tăng lãi
suất thị trường liên ngân hàng. Khi ngân hàng trung ương giảm lãi suất tái cấp vốn thì
xảy ra hiện tượng ngược lại làm tăng nhu cầu vay ngân hàng trung ương của các tổ
chức tín dụng, giảm nhu cầu vay vốn lẫn nhau như vậy làm giảm lãi suất trên thị
trường liên ngân hàng. Như đã đề cập, lãi suất thị trường liên ngân hàng thay đổi sẽ tác
động làm thay đổi lãi suất cơ bản của các tổ chức tín dụng và mặt bằng lãi suất trong
nền kinh tế.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở là việc ngân hàng trung ương mua hoặc bán
các chứng từ có giá trên thị trường chứng khoán (chủ yếu là thị trường OTC) thông
qua đó thực hiện việc cung ứng hoặc rút khối lượng tiền khỏi lưu thông. Tín phiếu và
trái phiếu kho bạc sẽ là công cụ chủ yếu của thị trường mở hiện nay có thêm trái phiếu
chính phủ.
Như vậy khác với tái cấp vốn là hoạt động trong nội bộ hệ thống ngân hàng,
trong hoạt động thị trường mở Ngân hàng nhà nước can thiệp trực tiếp vào thị trường
chứng khoán, trong đó ngoài các tổ chức tín dụng còn có sự tham gia của các khu vực
ngoài ngân hàng, tức là các đơn vị kinh tế và dân cư. Về nguyên tắc khi ngân hàng
trung ương bán chứng khoán còn người mua bất kỳ có thể là tổ chức tín dụng, các tổ
chức khác hay cá nhân thì cũng đều làm giảm tiền dự trữ của các tổ chức tín dụng, bởi
cao nhất mà khách hàng có thể chấp nhận được. Qua đó xem xét khoản chi phí nào
hợp lý, khoản nào có thể tiết kiệm để có thể hạ giá thành xuống mức thấp nhất, tăng
sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Ngay từ ngày đầu sản xuất cho tới nay, Công
ty đã có chính sách giá luôn ổn định trong từng thời kỳ và có sức cạnh tranh cao.
Chất lượng và mẫu mã sản phẩm
Chất lượng là yếu tố quan trọng, hàng hóa có chất lượng tốt sẽ tạo được ấn
tượng tốt trong tâm trí khách hàng, tạo được niềm tin và uy tín cho công ty, đó là
những tài sản vô hình có giá trị vô cùng to lớn. Từ đó kích thích và hình thành nhu
cầu đối với sản phẩm đó. Chất lượng là nhân tố có thể thúc đẩy hay hạn chế số lượng
người mua hàng từ đó mà làm cho lượng cầu về hàng hóa tang hay giảm.
Sản phẩm máy tính và các thiết bị ngoại vi tiêu thụ trên thị trường Hà Nội của
công ty hiện nay rất đa dạng về mẫu mã, về nguồn gốc xuất xứ, về chất lượng, về nhà
cung cấp nguyên liệu và nhà phân phối trên thị trường… Chất lượng của mặt hàng là
điều quan tâm đầu tiên của công ty trước khi mặt hàng đó được đưa ra tiêu thụ trên thị
trường.Chính vì thế nó ảnh hưởng đến hầu hết toàn bộ hệ thống cơ chế, chính sách
11
hàng năm mà công ty đề ra để thực hiện. Nhìn chung sản phẩm này của Công ty được
khách hàng biết đến không chỉ vì đảm bảo được các thương hiệu uy tín của mặt hàng
này, mà còn bởi chất lượng hàng đầu và mẫu mã sản phẩm hấp dẫn người tiêu dùng.
Công ty cũng cam kết với các khách hàng là chỉ bán hàng chính hãng và được kiểm
tra, không bán hàng không rõ nguồn gốc và không hiện đảm bảo chất lượng. Trên thị
trường sản phẩm máy tính và hàng điện tử hiện nay có rất nhiều sản phẩm máy tính
của nhiều hãng khác nhau, đặc biệt là các sản phẩm xuất xứ và do các hãng Trung
Quốc sản xuất, chính vì thế hiện nay công ty phải chủ động nguồn hàng của mình
nhằm đảm bảo chất lượng cho sản phẩm. Công ty đã lựa chọn các sản phẩm máy tính
và các thiết bị ngoại vi có liên quan của các hãng sản xuất máy tính, điện tử hàng đầu
Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan… để kinh doanh. Từ năm 2010 đến nay công ty đã
nhập thêm nhiều sản phẩm mới của các hãng điện tử danh tiếng với các thương hiệu
HP, Dell, Acer, Samsung, Canon… nhằm mục đích đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu
của người tiêu dùng.Với các tính năng vượt trội của sản phẩm như cấu hình cao, vỏ
trường Hà Nội của công ty.
Hiện nay công ty đang chú trọng nhiều hơn tới kênh phân phối dài: đó là chú ý
đến các đại lý bán buôn để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, tuy không
nhiều nhưng các kênh phân phối ngắn như bán lẻ sản phẩm đến tận tay người tiêu
dùng tuy chiếm số lượng không nhiều nhưng lại giúp công ty có thể hiểu rõ hơn nhu
cầu của khách hàng và thị hiều tiêu dùng của họ. Việc sử dụng nhiều kênh phân phối
là khá phù hợp với sản phẩm của công ty vì các sản phẩm này có yếu tố kỹ thuật công
nghệ cao nên việc cung cấp các sản phẩm này kèm với các dịch vụ lắp đặt, sửa chữa
là rất cần thiết và mang lại uy tín cho công ty. Bên cạnh đó, thông qua các cửa hàng,
các điểm bán buôn, công ty thường có sự liên kết chặt chẽ về chế độ bảo hành, các
dịch vụ sau bán để đảm bảo uy tín và tăng cường niềm tin cho khách hàng về các sản
phẩm của công ty cung cấp.
Quảng cáo
Quảng cáo là một bộ phận quan trọng không thể tách rời giúp cho chiến dịch mở
rộng thị trường của công ty đạt được hiệu quả. Ngày nay mạng internet được mọi
người sử dụng rộng rãi, công ty TNHH giải pháp và tư vấn công nghệ Hoàng Mai
cũng áp dụng hình thức này bằng cách đưa các thông tin về sản phẩm lên trang
website và thông qua các ông cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, 24h để khách hàng
có thể thuận lợi trong việc tìm kiếm thông tin sản phẩm. Ngoài ra công ty còn tích cực
sử dụng các biện pháp khác để khách hàng có thể biết đến sản phẩm của công ty
mình. Các hình thức quảng cáo trên giúp khách hàng có thể tiếp cận sản phẩm của
công ty một cách dễ dàng. Tuy nhiên theo điều tra của khách hàng và phỏng vấn cấp
trên thì cho thấy quảng cáo của công ty còn hạn chế do nguồn chi phí dành cho quảng
cáo còn hạn chế. Vấn đề quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa
được chú trọng.
Môi trường bên ngoài
Khách hàng
Đối với công ty TNHH giải pháp và tư vấn công nghệ Hoàng Mai, khách hàng là
yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của Công ty.Khách hàng tạo nên
thị trường và quy mô khách hàng tạo nên quy mô thị trường, là đối tượng ảnh hưởng
Máy tính và các thiết bị ngoại vi là một lĩnh vực kinh doanh không mới nhưng
đầy tiềm năng và đang phát triển nên trên thị trường ngày nay càng có nhiều hãng sản
xuất và kinh doanh mặt hàng này. Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Những chính
sách mà đối thủ cạnh tranh áp dụng đều có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh
doanh của công ty. Nếu công ty không có chiến lược kinh doanh tốt thì cầu về mặt
hàng này của công ty sẽ bị suy giảm do bị các đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Trên
thị trường Hà Nội có các đối thủ cạnh tranh chính của công ty như: Siêu thị điện máy
Trần Anh. Siêu thị điện máy Pico, Topcare , công ty cổ phần Đăng Khoa, công ty cổ
14
phần và dịch vụ thiết bị điện tử và nhiều công ty vừa và nhỏ khác Bên cạnh đó là
các sản phẩm Trung Quốc trôi nổi trên thị trường với chất lượng không đảm bảo
Khi thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh thì người tiêu dùng càng có nhiều sự lựa
chọn và điều đó tác động đến lượng cầu về sản phẩm của công ty. Các đối thủ cạnh
tranh của công ty có tiềm lực tài chính mạnh mẽ, nguồn nhân lực có chất lượng.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho công ty là cần phải tìm được các chính sách hợp lý để
cạnh tranh, nhất là trong giai đoạn thị trường khó khăn và có nhiều biến động khó
lường như hiện nay.
Chính sách luật pháp
Các yếu tố chính trị, pháp luật sẽ có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh lâu dài
của doanh nghiệp. Việt Nam có nền chính trị tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận
lợi cho các hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó cũng tồn tại không ít những bất cập
trong quản lý, nhất là hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, hàng giả, hàng nhái xử
lý cũng chưa được nghiêm, các chính sách đưa ra cho các doanh nghiệp nhiều khi
chưa hợp lý và bám sát thực tế Điều này cũng làm ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động
kinh doanh của công ty.
1.2.2.2 Đặc điểm kinh doanh của lĩnh vực CNTT
Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay
là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển
đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị
thực tiễn. Vì vậy chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan
t
rọng trong việc huy
động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và các tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định
hướng vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng trong chiến lược
CNH-HĐH nước ta hiện n
a
y. Những năm vừa qua, do ảnh hưởng của biến động lãi
suất, đặc biệt là do yếu tố lạm phát, kênh đầu tư vào Việt Nam đồng đã không còn là
sự ưu tiên cho các nhà đầu tư, thay vào đó,họ đầu tư vào các tài sản có sự an toàn cao
như vàng,… Vì thế, có những lúc giữa các ngân hàng đã xảy ra những cuộc đua về lãi
suất huy động vốn nhằm mục đích tận dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư
Lãi suất tiền gửi tăng cao dẫn đến lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng cao
tương ứng, tuy nhiên có một thực tế là kể cả lãi suất cho vay có tăng cao đến đâu đi
chăng nữa thì doanh nghiệp vẫn rất khó tiếp cận với nguồn vốn vay bởi ngân hàng
đang còn bận thu hồi vốn từ những khoản như nợ xấu, đầu tư ngoài ngành… Lãi suất
tăng cao, vốn cho vay từ các cơ sở tín dụng bị hạn chế khiến doanh nghiệp phải tự cơ
cấu lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, cát giảm đầu tư, thu hẹp quy mô, khả
năng hoạt động của doanh nghiệp.
1.3.2 Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến chi phí kinh doanh và lợi nhuận của
doanh nghiệp
Hầu hết đối với các công ty, doanh nghiệp, các khoản vay chiếm một tỉ tệ rất lớn
trong tổng số vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đã rất khó khăn với việc tiếp cận
được nguồn vốn, khi tiếp cận được nguồn vốn rồi lại đau đầu với một bài toán khác,
đó là lãi suất của khoản vay đó quá cao.
Lợi nhuận trước thuế = Doanh thu – chi phí. Chi phí quá cao cộng vói khủng
hoảng kinh tế khiến việc tiêu thị hàng háo trở nên cực kỳ khó khăn cả ở trong nước và
quốc tế, lạm phát khiến giá các yếu tố đầu vào tăng cao nhiều các doanh nghiệp hầu
16
như không có lãi. Lãi suất tăng cao dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
làn sóng đua tăng lãi suất huy động Việt Nam đồng của các NHTM tăng. Đến tuần
cuối của tháng 5, làn sóng tăng lãi suất huy động bằng VND tăng khá mạnh ví dụ , tại
Ngân hàng An Bình, hiện mức lãi suất đỉnh đã lên tới 9,7% khi khách hàng gửi tiết
kiệm bậc thang với kỳ hạn dài và số tiền lớn. Từ tháng 8 đến tháng10/2009, các ngân
hàng gia tăng lãi suất và đỉnh cao nhất lên đến 9,5%. Cụ thể, Ngân hàng Hàng hải Việt
Nam (Maritime Bank) lãi suất tăng mạnh ở các kỳ hạn dài đều trên 9% và 36 tháng đã
lên đến đỉnh 9,5%. Đặc biệt, vào ngày 12/8 lãi suất huy động vốn VND đã lên tới đỉnh
là 10.3%. Đến đầu tháng 11 nhóm NHTM cổ phần điều chỉnh tăng lãi suất huy động
VND với mức từ 0,1-0,3%/năm và tăng lãi suất huy động USD từ 0,1-0,2%/năm ở hầu
hết các kỳ hạn, đặc biệt là lãi suất ngắn hạn.
Ngày 25/11/2009, NHNN bất ngờ công bố quyết định tăng lãi suất cơ bản lên
mức 8% năm, áp dụng từ ngày 1/12/2009. Đây là quyết định khá bất ngờ, bởi trong 11
tháng liên tiếp duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7%/năm, NHNN vẫn khẳng định sẽ giữ
mức này tối thiểu đến hết năm 2009. Với mức lãi suất cơ bản mới, trần lãi suất kinh
doanh tại các ngân hàng thương mại sẽ là 12%/năm, thay vì mức 10,5%/năm trước đó.
Năm 2010, ngân hàng nhà nước thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thận
trọng, linh hoạt nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho thị trường phát triển ổn định,
thúc đẩy phát triển kinh tế kiềm hãm lạm phát. Theo đó, NHNN đó duy trì lãi suất cơ
bản bằng đồng Việt Nam ổn định ở mức 8% trong suốt 10 tháng đầu năm và thực hiện
điều chỉnh lờn mức 9% trong hai thỏng cuối năm trước sức ép của lạm phát. Tính đến
cuối thỏng 12/2010, lãi suất huy động tăng 1,96 – 3,39% cho các kỳ hạn so với cuối
năm 2009, tăng cao đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn từ 1 tháng đến 3 tháng.
Việc lãi suất huy động cao tăng đã đẩy mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao trong
điều kiện áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận vì vậy đến tháng 7/2010 để tạo sự thống
nhất về mặt bằng lãi suất huy động trờn thị trường, Ngân hàn nhà nước và hiệp hội
ngân hàng đã yêu cầu các ngân hàng thương mại đồng thuận giảm lãi suất huy động
vốn bằng VND để gúp phần thực hiện hạ mặt bằng lãi suất của thị trường theo Nghị
quyết 23/NQ – CP ngày 7/5/2010 của Chính phủ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
sản xuất trong nền kinh tế.
Nếu năm 2010, các ngân hàng đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm, thì
sau một thời gian dài biến động, lãi suất huy động VND một lần nữa trở về mốc
9%/năm phổ biến trên biểu niêm yết.
2.1.2 Tổng quan hoạt động kinh doanh của mặt hàng công nghệ
Bảng 2.3: Doanh thu các phân khúc ngành trong lĩnh vực CNTT
(Đơn vị: triệu đô la Mỹ)
STT Phân khúc nghành 2010 2011 2012
1.1 Tổng doanh thu 7930 8540 8648
1.2 Công nghiệp phần cứng 5050 5420 5630
1.3 Công nghiệp phần mềm 1800 2000 2030
1.4 Nội dung số 1080 1120 1018
(Nguồn: Sách trắng về CNTT qua các năm 2010, 2011, 2012)
19