Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có
vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ
cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán là đúng đắn sẽ là cơ sở để KTV thu
thập bằng chứng hợp lý để đưa ra ý kiến xác đáng về tình hình tài chính của
khách hàng.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung
cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức
mới mẻ. Trong khi hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy
đủ, nội dung, quy trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các
cuộc kiểm toán ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về
số lượng và chất lượng. Do vậy, việc lập kế hoạch kiểm toán cần được coi
trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả cho cuộc kiểm toán.
Với ý nghĩa đó, Em đã chọn Đề tài “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch
kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính quốc tế -
IFC ” làm Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề thực tập của Em gồm ba phần chính:
Phần I: Cơ sở lý luận chung của lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm
toán Báo cáo tài chính;
Phần II: Thực trạng quy trình lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán
tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính quốc tế - IFC;
Phần III: Bài học kinh nghiệm và một số ý kiến hoàn thiện kế hoạch kiểm
toán do Công ty Kiểm toán và Tư vấn tài chính quốc tế thực hiện;
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo GS.TS Nguyễn Quang Quynh và
các anh chị kiểm toán viên tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài
chính quốc tế - IFC đã hướng dẫn và giúp đỡ Em hoàn thành Chuyên đề
thực tập tốt nghiệp này.
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kế hoạch chiến lược là định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và
phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa
trên hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị
được kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán Số 300: “ Kế hoạch chiến
lược phải được lập cho các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tính chất phức
tạp, địa bàn hoạt động và kiểm toán Báo cáo tài chính của nhiều năm”. (
Mục 13 - Chuẩn mực Kiểm toán Số 300)
Cuộc kiểm toán lớn về quy mô là cuộc kiểm toán BCTC tổng hợp (hoặc
BCTC hợp nhất) của tổng công ty, trong đó có nhiều công ty, đơn vị trực
thuộc cùng loại hình hoặc khác loại hình kinh doanh.
Cuộc kiểm toán có tính chất phức tạp là cuộc kiểm toán có tranh chấp,
kiện tụng hoặc có nhiều hoạt động mới mà KTV và công ty kiểm toán chưa
có nhiều kinh nghiệm.
Cuộc kiểm toán địa bàn rộng là cuộc kiểm toán của đơn vị có nhiều đơn
vị cấp dưới nằm trên nhiều tỉnh thành kể cả các chi nhánh ở nước ngoài.
Kế hoạch chiến lược vạch ra mục tiêu, định hướng cơ bản, nội dung
trọng tâm, phương pháp tiếp cận và tiến trình của cuộc kiểm toán. Kế
hoạch chiến lược do người phụ trách kiểm toán lập và được Giám đốc công
ty kiểm toán phê duyệt. Nó là cơ sở lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, đồng
thời là cơ sở chỉ đạo thực hiện và soát xét kết quả cuộc kiểm toán. Kế
hoạch chiến lược được lập thành một văn bản riêng hoặc lập thành một
phần riêng trong kế hoạch kiểm toán tổng thể.
Hiện nay, nhu cầu kiểm toán ngày một tăng cao. Khách hàng của các
công ty kiểm toán có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau hoặc
thuộc những loại hình doanh nghiệp khác nhau. Để đảm bảo chất lượng
cuộc kiểm toán, đối với những khách hàng có quy mô lớn, hoạt động trong
lĩnh vực phức tạp thì các công ty kiểm toán cần thực hiện lập kế hoạch
chiến lược để có những hướng dẫn cụ thể hơn cho việc lập kế hoạch kiểm
toán tổng thể và cũng là cơ sở chỉ đạo thực hiện và soát xét kết quả cuộc
đáng về các báo cáo tài chính, từ đó giúp KTV hạn chế những sai sót, giảm
thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ uy tín nghề
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp đối với khách hàng;
Thứ hai: Kế hoạch kiểm toán giúp các KTV có thể phối hợp hiệu quả
với nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như
kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài, đồng thời qua sự phối hợp hiệu
quả đó, nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán, đồng thời nâng cao uy tín
với khách hàng;
Thứ ba: Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán
tránh xảy ra những bất đồng với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm
toán đã lập, KTV thống nhất với khách hàng về nội dung công việc sẽ thực
hiện, thời gian tiến hành kiểm toán;
Thứ tư: Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có
thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc đã và đang thực hiện, góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán;
1.2. Trình tự lập kế hoạch kiểm toán
1.2.1 Lập kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược được lập cho các cuộc kiểm toán phức tạp về qui
mô và tính chất.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 300, Kế hoạch chiến lược
vạch ra mục tiêu, định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm, phương pháp tiếp
cận và tiến trình của cuộc kiểm toán. Nội dung và các bước công việc của
kế hoạch chiến lược gồm:
Thứ nhất: Tình hình kinh doanh của khách hàng (tổng hợp thông tin về
lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ
sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị) đặc
biệt lưu ý đến những nội dung chủ yếu như: động lực cạnh tranh, phân tích
Sơ đồ 1.1 : Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm
toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ
tục phân tích
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán
1.2.2.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
1.2.2.1.1Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Việc đánh giá chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục cho một
khách hàng cũ nhằm giảm thiểu khả năng làm tăng rủi ro cho hoạt động của
kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của công ty kiểm toán. Để làm được
điều đó, kiểm toán viên phải tiến hành các công việc sau:
Thứ nhất: Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng;
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 220, chất lượng kiểm toán là
mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính
khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV, đồng thời thoả
mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của
KTV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định
trước với giá phí thích hợp. Như vậy, một cuộc kiểm toán đảm bảo chất
lượng là một cuộc kiểm toán mà ý kiến KTV đưa ra phải thoả mãn mong
muốn của người sử dụng thông tin và của chính đơn vị được kiểm toán. Vì
vậy, việc xem xét có đảm bảo được chất lượng hoạt động kiểm toán hay
không nếu chấp nhận yêu cầu kiểm toán của khách hàng là công việc quan
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trọng và cần thiết. Tuy nhiên, tại các công ty khác nhau, tiêu thức để đánh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối với khách hàng cũ, hàng năm, KTV cập nhật thông tin về khách
hàng và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến KTV phải ngừng cung cấp
dịch vụ kiểm toán hay không. Giữa khách hàng và công ty kiểm toán có
mâu thuẫn nào không, có nghiêm trọng không, có ảnh hưởng kết quả kiểm
toán không.
1.2.2.1.2 Nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng
Thực chất, việc nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng là xác
định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ.
Để biết được điều đó, KTV phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách
hàng (đối với khách hàng mới) hoặc dựa vào kinh nghiệm của cuộc kiểm
toán được thực hiện trước đó (đối với khách hàng cũ). Việc xác định người
sử dụng BCTC và mục đích của họ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến số
lượng bằng chứng cần thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà
kiểm toán viên đưa ra trong Báo cáo kiểm toán. Cụ thể, nếu các BCTC
được sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên
BCTC được đòi hỏi càng cao và do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần
thu thập cũng như qui mô và độ phức tạp của cuộc kiểm toán cần tăng lên.
Điều này lại đòi hỏi phải có số lượng và cơ cấu kiểm toán viên thích hợp để
thực hiện cuộc kiểm toán. Như vậy, thông tin qua việc nhận diện lý do
kiểm toán của khách hàng, công ty kiểm toán cần ước lượng mức độ phức
tạp của cuộc kiểm toán, từ đó lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp để thực
hiện cuộc kiểm toán.
1.2.2.1.3 Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho cuộc kiểm toán
không chỉ hướng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các
Chuẩn mực Kiểm toán chung được thừa nhận. Chuẩn mực Kiểm toán
chung đầu tiên đã nêu rõ quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một
hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ, thành thạo như một kiểm toán
viên. Việc lựa chọn này được tiến hành trên yêu cầu về số người, trình độ
cái đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán
cụ thể. Phạm vi kiểm toán là giới hạn về không gian và thời gian của đối
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tượng kiểm toán, thường được xác định cùng với việc xác định mục tiêu
của cuộc kiểm toán. Trong cuộc kiểm toán BCTC, phạm vi kiểm toán
thường là toàn bộ BCTC của một năm tài chính.
Hai là, Trách nhiệm của BGĐ khách hàng và KTV : Ban Giám đốc có
trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin trên BCTC,
KTV có trách nhiệm đưa ra ý kiến độc lập về BCTC dựa trên kết quả của
cuộc kiểm toán và trách nhiệm của công ty khách hàng trong việc cung cấp
tài liệu và thông tin liên quan đến công việc kiểm toán.
Ba là, Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: Kết quả kiểm toán
thường được biểu hiện cụ thể dưới một Báo cáo kiểm toán có kèm theo một
thư quản lý trong đó nêu rõ những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát
nội bộ hoặc những gợi ý sửa chữa khiếm khuyết này.
Bốn là, Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán bao gồm: thời gian nghiên
cứu sơ bộ, thời gian kiểm toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và
phát hành Báo cáo kiểm toán.
Năm là, Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.
Sáu là, Xác định rằng kiểm toán viên không chịu trách nhiệm những sai
sót do bản chất và hạn chế vốn có của hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và
kiểm toán.
Hợp đồng kiểm toán là cơ sở pháp lý để KTV chính thực hiện các bước
tiếp theo của cuộc kiểm toán và có ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý của
KTV đối với khách hàng. Sau khi hợp đồng kiểm toán được ký kết, công ty
kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của khách hàng.
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
11
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy
tai nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng và nó cũng cho
phép kiểm toán viên gặp các nhân vật chủ chốt cũng như cung cấp cho
kiểm toán viên một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách
hàng. Điều này tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, phát
hiện những vấn đề cần quan tâm như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy
móc lạc hậu… Ngoài ra, KTV cũng có được những nhận định ban đầu về
phong cách quản lý của BGĐ, tính hệ thống trong việc sắp đặt công việc.
1.2.2.2.4 Nhận diện các bên hữu quan
Các bên hữu quan là các bộ phận trực thuộc các chủ sở hữu chính thức
của công ty khách hàng hay bất kỳ công ty chi nhánh, một cá nhân tổ chức
đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới các
chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công ty khách hàng.
Theo nguyên tắc kế toán được thừa nhận, bản chất mối quan hệ giữa các
bên hữu quan phải được tiết lộ trên các sổ sách, báo cáo và qua mô tả các
nghiệp vụ kinh tế. Do vậy, các bên hữu quan và các nghiệp vụ giữa các bên
hữu quan có ảnh hưởng lớn đến nhận định của người sử dụng BCTC. KTV
phải xác định các bên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này
ngay trong giai đoạn lập kế hoạch thông qua phỏng vấn BGĐ, xem sổ theo
dõi cổ đông, theo dõi khách hàng… Từ đó, KTV dự đoán các vấn đề có thể
phát sinh giữa các bên hữu quan để hoạch định một kế hoạch kiểm toán
phù hợp.
1.2.2.2.5 Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài
Trong một số trường hợp, công ty kiểm toán cho rằng không ai trong
nhóm kiểm toán có chuyên môn hoặc có khả năng về lĩnh vực nào đó để
thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết. Chủ nhiệm kiểm toán xác định
được nhu cầu sử dụng các chuyên gia bên ngoài phục vụ cho cuộc kiểm
cuộc kiểm toán hoàn thành, KTV cần phải kiểm tra đối chiếu các kết quả
thu được trong quá trình kiểm toán với các quyết định đưa ra trong các
cuộc họp để đảm bảo là ban giám đốc đã tuân thủ các biện pháp được hội
đồng quản trị đề ra.
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.3.4 Các hợp đồng và cam kết quan trọng
Việc thu thập các hợp đồng và cam kết quan trọng sẽ giúp KTV hình
dung những khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết
quả hoạt động của đơn vị khách hàng. Điều này giúp cho KTV thực hiện
lập kế hoạch kiểm toán một cách toàn diện, triệt để.
1.2.2.4 Thực hiện các thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất
quan trọng. Qua đó tìm ra các xu hướng biến động và tìm ra mối quan hệ
có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so
với giá trị đã dự kiến.
Các thủ tục phân tích sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểm toán nhằm
vào các mục tiêu sau đây:
Thứ nhất: Thu thập hiểu biết về nội dung BCTC và những biến đổi quan
trọng về kế hoạch và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra
kể từ lần kiểm toán trước;
Thứ hai: Tăng cường hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của
khách hàng và giúp KTV xác định các vấn đề nghi vấn khả năng hoạt động
liên tục của công ty khách hàng;
Thứ ba: Đánh giá sự hiện diện của các sai số có thể có trên BCTC
doanh nghiệp;
Như vậy, qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn này,
KTV có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán BCTC. Mức độ,
phạm vi và thời gian áp dụng các thủ tục phân tích thay đổi tuỳ thuộc vào
Khi xây dựng mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, kiểm toán viên
cần lưu ý đến những yếu tố ảnh hưởng sau:
Một là, Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm
tuyệt đối, gắn liền với quy mô của công ty khách hàng.
Hai là, Yếu tố định lượng của tính trọng yếu: quy mô sai phạm là một
yếu tố quan trọng để xem xét liệu các sai phạm có trọng yếu hay không.
Các chỉ tiêu: thu nhập trước thuế, tài sản lưu động , tổng vốn dài hạn…
thường được dùng làm cơ sở đánh giá tính trọng yếu trong đó thu nhập
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trước thuế thường là cơ sở quan trọng nhất vì được xem như khoản mục
thông tin then chốt với người sử dụng.
Ba là, Yếu tố định tính của trọng yếu: trong thực tế để đánh giá cả về
mặt quy mô (số lượng) và bản chất (chất lượng) của sai sót đó. Một hành vi
gian lận luôn được coi là trọng yếu bất kể quy mô của nó là bao nhiêu.
Những yếu tố liên quan đến bản chất của sai phạm cần phải được xem
xét khi tiến hành ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
Một là, Các gian lận thường được xem là quan trọng hơn các sai sót với
cùng một quy mô tiền tệ bởi các gian lận thường làm người ta nghĩ đến tính
trung thực và độ tin cậy của BGĐ hay những người có liên quan.
Hai là, Các sai sót có quy mô nhỏ nhưng lặp đi lặp lại hoặc gây ra tác
động dây truyền làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thông tin trên BCTC thì
luôn được xem là sai phạm trọng yếu vì đây là sai phạm có tính chất hệ
thống.
Mặc dù, ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một xét đoán nghề
nghiệp tính chủ quan của KTV song trên thực tế, các công ty kiểm toán
thường đề ra đường lối chỉ đạo để hỗ trợ cho các KTV của mình trong việc
ước lượng ban đẩu về tính trọng yếu thông qua việc hướng dẫn các chỉ tiêu
được chọn làm gốc trong từng trường hợp cụ thể, tỷ lệ tính mức trọng yếu
cáo kiểm toán được công bố, nếu khả năng này cao thì kiểm toán viên phải
thiết lập một mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn so với khách hàng
thông thường, từ đó tăng số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập.
Điều này dẫn đến chi phí kiểm toán tăng lên để giảm thiểu khả năng xảy ra
tranh chấp giữa kiểm toán viên, công ty kiểm toán và khách hàng;
Ngoài ra, KTV cần đánh giá các loại rủi ro sau:
Thứ nhất: Rủi ro cố hữu;
Rủi ro cố hữu là khả năng cho từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong
BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù
có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ.
Việc đánh giá này căn cứ vào các yếu tố:
Một là, Bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro cố hữu thường bị
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tăng lên bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà có thể tạo nên
những khó khăn cho kiểm toán do tồn tại những khoản không chắc chắn
hoặc khả năng tồn tại một cách tiềm tàng những gian lận hoặc sai sót trên
BCTC.
Hai là, Tính liêm chính của nhà quản trị: nếu BGĐ bị kiểm soát bởi một
vài cá nhân thiếu tính trung thực thì khả năng các BCTC tồn tại sai sót và
gian lận tăng cao.
Ba là, Kết quả của các lần kiểm toán trước đối với các khoản mục phát
hiện là các sai phạm trong lần kiểm toán trước. Rủi ro tiềm tàng sẽ được
đánh giá ở mức cao nếu sai phạm mang tính hệ thống và ngược lại nếu sai
phạm không mang tính hệ thống thì rủi ro tiềm tàng thấp.
Bốn là, Nếu là hợp đồng kiểm toán lần đầu thì kiểm toán viên có ít kinh
nghiệm về khách hàng vì vậy dự kiến rủi ro tiềm tàng cao.
Năm là, Số lượng nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên càng nhiều thì
rủi ro tiềm tàng càng cao.
kiểm toán ở mức thấp như mong muốn. Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ
nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Khi rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát đánh giá cao thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được.
Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát xuống thấp đến mức có
thể chấp nhận, mức rủi ro phát hiện cao hơn nhưng vẫn đảm bảo giảm rủi
ro kiểm toán xuống đến mức có thể chấp nhận. Điều này được biểu diễn
bằng biểu 1.1
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Biểu 1.1 Mối quan hệ giữa rủi ro cố hữu và rủi ro kiểm soát
CR là
IR là
Cao Trung bình Thấp
Cao Thấp nhất Thấp Trung bình
Trung bình Thấp Trung bình Cao
Thấp Trung bình Cao Thấp
1.2.2.5.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải xem xét đến các nhân tố có thể
làm phát sinh những sai sót trọng yếu trong BCTC. Đánh giá của KTV về
mức trọng yếu có liên quan đến số dư các tài khoản và các loại giao dịch
chủ yếu sẽ giúp KTV xác định được các khoản mục cần kiểm tra và quyết
định nên áp dụng thủ tục chọn mẫu hay thủ tục phân tích. Việc đánh giá
mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản và các loại giao dịch chủ
yếu sẽ giúp KTV lựa chọn được những thủ tục kiểm toán thích hợp và việc
kết hợp các thủ tục kiểm toán thích hợp đó với nhau sẽ làm giảm được rủi
ro kiểm toán tới mức độ có thể chấp nhận được.
Mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ ngược chiều nhau.
Nghĩa là nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và
ngược lại. Kiểm toán viên phải quan tâm tới mối quan hệ này khi xác định
toán, trong đó xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm
toán cần thiết để thực hiện kế hoạch kiểm toán tổng thể. Khi xây dựng
chương trình kiểm toán, KTV phải đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm
soát cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ
bản. Kiểm toán viên cần xem xét các yếu tố về thời gian thực hiện thử
nghiệm kiểm soát, thử nghiệm tuân thủ và sự phối hợp từ phía khách hàng,
từ trợ lý kiểm toán trong nhóm và sự tham gia của kiểm toán viên khác
hoặc các chuyên gia khác.
Chương trình kiểm toán được thiết kế phù hợp mang lại các lợi ích sau:
Thứ nhất: Sắp xếp một cách có kế hoạch các công việc và nhân lực, đảm
bảo sự phối hợp giữa các KTV cũng như hướng dẫn chi tiết cho các kiểm
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
toán viên trong quá trình kiểm toán;
Thứ hai: Đây là căn cứ để chủ nhiệm kiểm toán hay người phụ trách
kiểm toán quản lý, giám sát cuộc kiểm toán thông qua việc xác định các
bước công việc được thực hiện;
Thứ ba: Chương trình kiểm toán là minh chứng chứng tỏ các thủ tục
kiểm toán đã được thực hiện, sau khi thực hiện, kiểm toán viên thường ký
tên hay ký tắt tên lên chương trình kiểm toán gắn liền với thủ tục kiểm toán
vừa hoàn thành;
Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế
thành ba phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc
nghiệm trực tiếp số dư.
Bước 1: Thiết kế trắc nghiệm công việc.
Việc thiết kế trắc nghiệm công việc gồm bốn nội dung: xác định thủ tục
kiểm toán, quy mô mẫu chọn, khoản mục được chọn và thời gian thực hiện.
Thứ nhất: Các thủ tục kiểm toán: việc thiết kế các thủ tục kiểm toán của
trắc nghiệm công việc thường tuân thủ theo phương pháp luận với bốn
Các trắc nghiệm phân tích được thiết kế để đánh giá tính hợp lý chung
của các số dư tài khoản đang được kiểm toán. Trên cơ sở kết quả của công
việc thực hiện trắc nghiệm phân tích đó, kiểm toán viên sẽ quyết định mở
rộng hay thu hẹp các trắc nghiệm trực tiếp các số dư. Trong giai đoạn thực
hiện kế hoạch kiểm toán, quy trình phân tích còn bao hàm những thủ tục
phân tích chi tiết đối với số dư các tài khoản và sai sót tiềm tàng cần kiểm
tra.
Bước 3: Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư
Việc thiết kế trắc nghiệmt trực tiếp số dư cho từng khoản mục trên báo
cáo tài chính bao gồm các bước sau:
Thứ nhất: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với khoản mục đang
kiểm toán;
Thông qua ước lượng ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ ước lượng
này cho từng khoản mục trên BCTC, KTV xác định mức sai số chấp nhận
được cho từng khoản mục, sai số chấp nhận được của mỗi khoản càng thấp
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thì số lượng bằng chứng thu thập càng nhiều do đó các trắc nghiệm trực
tiếp số dư và nghiệp vụ sẽ được mở rộng và ngược lại.
Thứ hai: Đánh giá rủi ro kiểm soát với chu trình kiểm toán được thực
hiện;
Quá trình kiểm soát hiệu quả sẽ làm giảm rủi ro kiểm soát đối với chu
trình, do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập trong trắc nghiệm
trực tiếp số dư và nghiệp vụ sẽ giảm xuống, theo đó chi phí kiểm toán sẽ
giảm xuống và ngược lại.
Thứ ba: Thiết kế và dự đoán kết quả trắc nghiệm công việc và trắc
nghiệm phân tích: các hình thức trắc nghiệm kiểm toán này được thiết kế
với dự kiến là đạt được một số kết quả nhất định.
Thứ tư: Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư để thoả mãn các mục