Đề án môn học Kinh tế Phát triển
lời nói đầu
Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Xoá đói giảm
nghèo đợc coi là một trong những nội dung quan trọng u tiên hàng đầu trong các mục
tiêu phát triển xã hội của thế giới hiện đại.
Bớc vào thiên niên kỷ mới, đói nghèo vẫn là một trong những thách thức lớn
nhất của nhân loại hớng tới tơng lai, tại khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp
quốc về phát triển xã hội, tháng 6-2000 ở Giơ-ne-vơ (Thụy sĩ), cộng đồng quốc tế
tiếp tục cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phấn đấu đến 2015 giảm 1/2
số ngời nghèo trên thế giới. Hội nghị cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh
chiến dịch ''tấn công vào đói nghèo và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lợc
toàn diện về xoá đói giảm nghèo. Đặc biệt, Hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9-2000
của Liên hợp quốc tại Oa-sinh-tơn (Mỹ), một lần nữa khẳng định chống đói nghèo là
một trong những mục tiêu u tiên của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI. Tại hội
nghị này, chủ tịch nớc Trần Đức Lơng, trởng đoàn đại biểu Việt Nam đã đề nghị lấy
thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI làm thập niên giành u tiên cho xoá đói giảm nghèo
trên phạm vi toàn thế giới, và đã đợc hội nghị đồng tình cao.
Đối với Việt Nam, vấn đề xoá đói giảm nghèo càng trở nên quan trọng, là
nhiệm vụ cách mạng cao quý của toàn Đảng, toàn dân, nhất là trong thời kỳ đổi mới.
Đại hội IX của Đảng đã xác địng đờng lối phát triển kinh tế của nớc ta là '' Tăng tr-
ởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bớc cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Chính vì tầm quan trọng của vấn đề xoá đói giảm nghèo, mà nớc ta đã thành
lâp riêng một chơng trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo. Vấn đề xoá đói giảm
nghèo từ trớc tới giờ đã đợc rất nhiều các chuyên gia, các nhà khoa học nghiên cứu.
Song để góp phần vào thực hiện thành công của chơng trình xoá đói giảm nghèo. Em
xin đa ra ''Một số biện pháp cơ bản nhằm thực hiện xoá đói giảm nghèo ở nớc ta
trong thời kỳ 2001-2005 . Đề án đợc hình thành từ việc tập hợp các tài liệu khác
1
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
nhau. Đặc biệt là sự hớng dẫn của thầy PHạm NGọc linh. Mặc dù đã có nhiều cố
cho nhân dân. Có thể thấy, nếu không có sự tăng trởng thì một số ngời vẫn có thể
3
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
giàu lên do chiếm đoạt thu nhập và tài sản của ngời khác. Ngợc lại sự tăng trởng có
khi tạo điều kiện cho một số ít ngời giàu lên, trong khi đó đa số nhân dân vẫn sống
trong nghèo khổ.
2.Vì sao thu nhập bình quân tăng lên mà đời sống nhân dân
không đợc cải thiện
Tăng trởng để cải thiện đời sống nhân dân là mục đích mà Chính phủ một số nớc
theo đuổi, song không phải tất cả các nớc, Chính phủ đều theo đuổi mục tiêu này.
Những mục tiêu u tiên khác nhau trong phát triển chính là các nguyên nhân làm
cho tăng trởng kinh tế không có nghĩa là nâng cao thu nhập của mọi gia đình, mọi
ngời dân...những nguyên nhân đó là:
Thứ nhất, tăng trởng cao dựa trên cơ sở đầu t vào những dự án quân sự, những dự
án xây dựng các thành phố hiện đại.
Thứ hai, thể hiện thông qua giải quyết mối quan hệ tiêu dùnzg và đầu t, các quốc
gia quá nhấn mạnh vào các d án đầu t, hạn chế tiêu dùng dẫn đến không cải thiện
đời sống.
Thứ ba, thể hiện ở bất bình đẳng trong phân phối, thu nhập ngời giàu tăng lên, thu
nhập ngời nghèo giảm đi, vì thế chi tiêu của ngời giàu tăng và sẽ có ảnh hởng lớn
đến cầu dẫn đến cung chủ yếu phục vụ cho ngời giàu và những ngời giàu sẽ quyết
định hàm cung.
Nh vậy có thể giải thích vì sao trong khi quá trình công nghiệp hoá đang tiến
triển và tổng thu nhập quốc dân của đất nớc liên tục tăng lên thì số đông dân chúng
còn sống trong nghèo khổ.
II. Thớc đo đánh giá sự nghèo đói.
1. Nghèo đói tuyệt đối
*Khái niệm: là những ngời mà có mức thu nhập dới mức thu nhập mà có thể đáp
ứng nhu cầu tối thiểu.
*Ranh giới nghèo đói:
5
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
3,3% hộ rất nghèo.
Trong thời kỳ 1992-2000 do điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam cha cho phép, nên
chúng ta phải áp dụng chuẩn nghèo thấp, chủ yếu là giải quyết vấn đề ăn
( tơng đơng chuẩn nghèo về lơng thực của quốc tế).Trong 5-10 năm tới phấn đấu
nâng chuẩn nghèo lên khoảng 1,5 đến 3 lần so với chuẩn cũ. Trên cơ sở nghiên cứu,
khảo sát thực tế và sau khi thảo luận thống nhất của các bộ, ngành, đoàn thể trung -
ơng, các tỉnh thành phố, ngày 1-11-2000, Bộ Lao động-Thơng binh và Xã hộiđã ban
hành quyết định số 1143/2000/QĐ-LBTBXH điều chỉnh chuẩn hộ nghèo từ đầu năm
2001 là: vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đồng/tháng, 960.000đồng/năm;
vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/tháng, 1.200.000đồng/năm; vùng thành
thị: 150.000 dồng/tháng, 1.800.000 đồng/năm. Những hộ có thu nhập bình quân đầu
ngời dới mức quy định này đợc xác định là hộ nghèo.
Chuẩn mới nh trên vẫn còn quá thấp so với cuộc sống và chuẩn quốc tế. Song nếu
chúng ta nâng cao nữa thì điều kiên, khả năng nguồn lực không cho phép và khi đó
tỷ lệ đói nghèo lên đến 50-60% ở nớc ta thị giúp đỡ san sẻ cũng khó thực hiện
(mọi ngời đều thuộc diện nghèo đói cả). Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình phát triển
kinh tế, xã hội và kết quả thực hiện Chơng trình xoá đói giảm nghèo, các tỉnh,
thành phố có thể nâng chuẩn hộ nghèo lên cao hơn so với quy định trên với ba điều
kiệ: thu nhập bình quân đầu ngời của tỉnh, thành phố cao hơn thu nhập bình quân
đầu ngời của cả nớc; tỷ lệ hộ đói nghèo của tỉnh thành phố thấp hơn tỷ lệ nghèo
chung cả nớc; có đủ nguồn lực hỗ trợ cho ngời nghèo, hộ nghèo.Theo chuẩn mới
này, tỷ lệ hộ đói nghèo của nớc ta năm 2001 vào khoảng 17,2%
2. Nghèo đói tơng đối.
Bên cạnh nghèo đói tuyệt đối ở nhiều nớc còn xét đến sự nghèo đói tơng đối.
Nghèo đói tơng đối đợc xét trong tơng quan xã hội, phụ thuộc vào địa điểm dân c
sinh sống và phơng thức tiêu thụ phổ biến nơi đó.
+Khái niệm: Sự nghèo đói tơng đốiđợc hiểu là những ngời sống dới mức tiêu
chuẩn mà có thể chấp nhận đợc trong những địa điểm nhất định và thời gian xác
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
xôi hẻo lánh tại Bắc trung bộ, số ngời nghèo đói chiếm 71%dân số.Tại các vùng
Trung du phía bắc, tỷ lệ này là 59%. Đây là hai vùng có mức độ nghèo đói cao hơn
mức trung bình của cả nớc, hai vùng này chiếm khoảng 40% tổng số ngời ngheò
của Việt Nam, mặc dù dân số ở hai vùng này chỉ chiếm 29% tổng dân số cả nớc
.Tại vùng Đông Nam Bộ, nơi có trung tâm kinh tế của cả nớc là thành phố Hồ Chí
Minh thì tỷ lệ ngời nghèo so vơí tổng số dân của vùng là thấp nhất cả nớc, chỉ có
33%. Bốn vùng khác là cao nguyên Trung bộ, Đồng bằng sông Hồng, duyên hải
miền trung, và Đồng bằng sông Cửu Long là các vùng có tỷ lệ nghèo đói thấp hơn
mức trung bình cả nớc một chút ít, chiếm khoảng 48-50%
8
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
2. Nghèo đói của Việt Nam theo đánh giá của Bộ lao động thơng binh và xã
hội thời kỳ 1997-1998.
Để đánh giá tình trạng nghèo đói ở Việt Nam phù hợp với điều kiện mới, qua các
số liệu nghiên cứu thực tế, Bộ lap động thơng binh và xã hội đã đa ra tiêu chuẩn
đánh giá nghèo đói thời kỳ 1997-1998:
+Hộ đói:
-Hộ thiếu ăn từ 3-6 tháng
-Dụng cụ sinh hoạt gia đình không đáng kể.
- Con cái thất học
- Nhà ở dột nát
- Bình quân đầu ngời trong hộ 13Kg gạo/tháng tơng đơng với 45000đồng/tháng
+Hộ nghèo: - ở miền núi, hải đảo: bình quân đầu ngời 15Kg gạo/tháng tơng đơng
với 55000đồng/tháng
- ở nông thôn (vùng đồng bằng trung du): bình quân 20Kg gạo/ng-
ời/tháng tơng đơng với 70000đồng/tháng
-ở thành thị : bình quân 25Kg gao/ngời/tháng tơng đơng với
90000đồng/tháng
Theo tiêu chuẩn này, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam biến động nh sau
nghèo đói, chúng ta đã có chơng trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo.
Đến nay, công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt đợc những kết quả đáng kể nh: tỷ lệ
số hộ diện nghèo giảm tình trạng đòi cũng bớt gay gắt. Trong báo cáo: ''Việt Nam
tấn công đói nghèo của ngân hàng thế giới (WB), đợc công bố tại hội nghị nhóm
các nhà tài trợ cho Việt Nam tổ chức trong ngày 14 và 15-12-1999 tại Hà Nội, đã
khẳng định: Viêt Nam đã đạt đợc những tiến bộ to lớn trong giảm đói nghèo. Tỷ lệ
đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% của năm 1993, xuống còn 37% vào năm
1998.
10
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
Nhờ trú trọng thực hiện xoá đói giảm nghèo mà nớc ta đã đạt đợc những kết quả
đáng khích lệ.Tỷ lệ hộ đói nghèo trên tổng số hộ trong cả nớc đã từ 30% năm 1992
giảm xuống còn 20% năm 1995 và 11% năm 2000 (theo tiêu chuẩn của Việt
Nam). Đạt đợc mục tiêu đề ra và nớc ta đợc cộng đồng quốc tế đánh giá là một
trong những nớc giảm tỷ lệ đói nghèo tốt nhất.
Công cuộc xoá đói giảm nghèo, ngày càng đợc nhân rộng và đi vào chiều sâu từ
khi chính phủ phê duyệt Chơng trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo. với sự
có gắng của Đảng và Nhà nớc, của nhân dân và sự hợp tác, giúp đỡ của quốc tế
trong 10 năm qua đã giảm hơn hai triệu hộ đói nghèo tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh
mỗi năm bình quân giảm đợc 250.000 hộ, riêng giai đoạn 1996-2000, mỗi năm
giảm đợc 300.000 hộ(2%), đạt đợc mục tiêu do nghị quyết của đại hội VIII của
Đảng đề ra.
Tuy nhiên, tình trạng khó khăn về kinh tế xã hội, sự chênh lệch về phát triển kinh
tế là một thực tế đối với miền núi, miền xuôi. hàng năm Trung Ương phải cấp cho
các tỉnh miền núi tới 50% ngân sách tỉnh, nhiều tỉnh phải cấp đến 80% nh Lai
châu, Sơn la. Trong lúc đó mức tăng trởng GDP của các tỉnh miền núi phía Bắc chỉ
đạt khoảng 5-6%, cũng có một số tỉnh là vùng núi có chỉ số GDP tăng trởng cao
hơn mức trung bình của cả nớc song giá trị tuyệt đối tăng rất ít.
Tình trạng du canh du c vẫn còn tồn tại hoặc tái hồi ở một số vùng dân tộc ít ngời
ở các tỉnh phía Bắc, Tây nguyên... Có nơi việc làm lơng rãy vẫn tồn tại ở mức thô
hiện nay và trong nhiều năm tới. Trên tổng thể do nớc ta có tốc độ tăng trởng dân
số tự nhiên vẫn ở mức cao, dân số thuộc loại trẻ, số ngời phải nuôi dỡng trên một
lao động còn lớn, nên mặc dù sản lợng lơng thực tăng (sau 10 năm tăng gấp 2 lần),
song bình quân lơng thực đầu ngời vẫn ở mức trên 300Kg là mức rất thấp (cha vợt
đợc ngỡng nghèo khổ theo tiêu chuẩn của thế giới).
Đồng bào các dân tộc ít ngời, các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa còn quá nghèo, ch-
a biết tổ chức sắp xếp sản xuất, phơng thức sản xuất lạc hậu, thô sơ, cha có điều
kiện tiếp cận với các phơng thức sản xuất mới, đặc biệt là các dân tộc ít ngời thuộc
các tỉnh miền núi cao phía Bắc và Tây nguyên.Tình trạng di dân tự do, sống du
canh du c còn nhiều, diện vận động định canh, định c trong cả nớc khoảng 3,1
triệu ngời ở rải rác 1913 xã, 206 huyện ,36 tỉnh trung du miền núi . Từ năm 1968
đến nay đã tuyên truyền vận động đợc 2 triệu ngời định canh định c vững chắc (0,6
13
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
triệu ngời ở 3378 thôn, Bản; 1,4 triệu ngời đang đợc đầu t theo dự án). Nh vậy, còn
trên một triệu ngời cha đợc đầu t theo dự án định canh định c và đang gặp không ít
khó khăn.
Cả nớc hiện nay có khoảng 1300 xã (chiếm 15% trong tổng số 8730 xã của khu
vực nông thôn), rất yếu kém về các công trình kết cấu hạ tầng, không có hoặc có
nhng đã xuống cấp nghiêm trọng về đờng ô tô tới trung tâm xã, nớc sạch, điện, tr-
ờng học, trạm xá, chợ và các công trình văn hoá khác.
các yếu tố này chính là những nguyên nhân làm cho sự nghèo đói vẫn đang tồn tại
ở cộng đồng dân c miền núi phía bắc, Tây nguyên và các vùng nông thôn khác.
1.1.2. Chính sách của nhà nớc còn những điểm cha phù hợp.
Thể chế chính sách còn những mặt bất cập nh: chinh sách đầu t cơ sở hạ tầng (đ-
ờng sá, điện, nớc), chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, tự tạo việc làm,
xoá đói giảm nghèo (chính sách thuế, tín dụng u đãi), chính sách trợ giúp đối với
gia đình thuộc diện chính sách xã hội còn thiếu, cha hoàn thiện chính sách hạn chế
tệ nạn xã hội. Một số chính sách lại bị áp dụng cứng nhắc, không phù hợp.
Nhiều vùng ở nớc ta hiện nay còn quá khó khăn nhng trên thực tế cha có nhiều
Trình độ hoc vấn không những là chỉ số quan trọng về chất lợng cuộc sống mà
còn là nhân tố quyết định đối với khả năng đạt tới cơ hội có thể tạo nên thu nhập
khá lớn của những ngời nghèo. Thực tế cho thấy những hộ gia đình mà chủ hộ thất
học có tỷ lệ nghèo đói cao hơn so với các hộ khác. Nếu tính theo tiêu chuẩn của
ngân hành thế giới đối với Việt Nam nghĩa là chấp nhận tỷ lệ nghèo đói là 50% thì
(WB) cũng đa ra tỷ lệ nghèo khổ của hộ gia đình phân theo trình độ học vấn chủ
hộ nh sau:
+Những gia đình mà chủ hộ có trình độ tiểu học (cấp I) thì tỷ lệ nghèo khổ là 54%
+Những gia đình mà chủ hộ có trình độ phổ thông cơ sở (cấp II) thì tỷ lệ nghèo
khổ là 52%
+Những gia đình mà chủ hộ có trình độ phổ thông trung học thì tỷ lệ nghèo khổ là
41%
15
Đề án môn học Kinh tế Phát triển
+Những gia đình mà chủ hộ có trình độ qua đào tạo dạy nghề thì tỷ lệ nghèo khổ
là 33%
+Những gia đình mà chủ hộ có trình độ đại hoc thì tỷ lệ nghèo khổ là 11%
1.2. Điều kiện tự nhiên
Nớc ta có địa hình phức tạp, diện tích đất tự nhiên đã ít lại không màu mỡ, khô
cằn, núi đá nhiều, dẫn đến diện tích canh tác nhỏ hẹp, năng suất cây trồng thấp.
Các vùng hẻo lánh, cha đợc đầu t để xây dựng cơ sở hạ tầng nh đờng giao thông,
trờng học, trạm y tế Do đó, những vùng này th ờng có tỷ lệ đói nghèo cao hơn
nhiều nơi khác. Bên cạnh đó, điều kiện thời tiết, khí hậu lại thờng xuyên không
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp: năng, ma, nóng, lạnh thất thờng; hạn hán, bão,
lụt và đó là nguyên nhân cơ bản làm cho khoảng 2 triệu ngời thiếu đói hàng năm.
Có thể kết luận rằng nguyên nhân chính gây nên đói nghèo cấp tính là do hậu quả
thiên tai.
1.3.Điều kiện lịch sử
Đói nghèo nớc ta đã có trong xã hội phong kiến, xã hội thực dân phong kiến.
Tình trạng đói nghèo ở nông thôn là một đặc trng của đói nghèo ở Việt Nam trớc