Áp dụng mô hình ARCH-GARCH đo lường rủi ro thị trường và sử dụng mô hình VaR ước lượng tổn thất của danh mục một số cổ phiếu nhóm ngành dược phẩm trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2 - Pdf 25

1
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền
kinh tế các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Sự phát triển của thị trường
chứng khoán có tác động tích cực đối với sự phát triển của đất nước, thúc đẩy sự
tích tụ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế.
Thị trường chứng khoán là một kênh đầu tư hấp dẫn hứa hẹn đem lợi nhuận
cao, chính vì vậy nó ngày càng thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia,cả những
người am hiểu lẫn những người chưa tường tận. Lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi
ro cao, đặc biệt đối với một thị trường chứng khoán non trẻ như thị trường chứng
khoán Việt Nam. Chính vì vậy chúng ta cần có những giải pháp để giảm thiểu rủi ro
trong đầu tư chứng khoán mà vẫn đạt được lợi nhuận mong muốn.
Mô hình VaR là một trong những mô hình quản trị rủi ro thị trường của tài sản
,danh mục; VaR giúp nhà đầu tư ước tính được mức độ tổn thất có thể xảy ra qua đó
có những giải pháp xử lý phòng hộ rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư.
Xuất phát từ mục đích trên, em chọn đề tài “ Áp dụng mô hình ARCH-
GARCH đo lường rủi ro thị trường và sử dụng mô hình VaR ước lượng tổn thất
của danh mục một số cổ phiếu nhóm ngành dược phẩm trên thị trường chứng
khoán Việt Nam giai đoạn 2009-2011”.
Chuyên đề nghiên cứu danh mục gồm 2 cổ phiếu nhóm ngành dược phẩm
(DHG, DMC) trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian từ ngày 02/01/2009
đến ngày 30/12/2011.
Chuyên đề được kết cấu gồm ba chương:
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO THỊ TRƯỜNG VÀ MÔ
HÌNH VaR
Chương II: DANH MỤC CỔ PHIẾU
Chương III: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TRÊN DANH MỤC CỔ PHIẾU
Em xin chân thành cám ơn thầy Hoàng Đình Tuấn đã tận tình giúp đỡ em

Theo khái niệm trên, ta có thể phân loại các hình thức, loại hình rủi ro tài
chính như sau: rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động
và rủi ro pháp lý.
Trong khuôn khổ chuyên đề ta sẽ xét rủi ro thị trường.
1.2 Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là loại rủi ro phát sinh do sự biến động về giá cả trên thị
trường tài chính.
4
Trên thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu luôn biến động, không có cách nào
dễ dàng để biết được khi nào nó biến động, biến động theo chiều hướng nào và
trong bao lâu. Nguyên nhân của sự biến động là do cách nhìn nhận, phản ứng của
các nhà đầu tư khác nhau về từng loại cổ phiếu hoặc nhóm cổ phiếu.Các nhà đầu tư
thường quyết định việc mua bán chứng khoán dựa trên hai nhóm sự kiện: Một là
nhóm các sự kiện hữu hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội; Hai là nhóm
các sự kiện vô hình do yếu tố tâm lý thị trường.
2. Tổn thất
2.1Khái niệm
Khi xảy ra rủi ro, hậu quả thường rất khó lường và nếu các tổ chức tài chính,
các chính phủ không có đối sách hữu hiệu thì chúng sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến
hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Những thiệt hại đối với nhà đầu tư do rủi ro gọi
là tổn thất.
Nếu tổn thất xảy ra với nhiều nhà đầu tư thì có thể dẫn đến sự khủng hoảng đổ
vỡ của các định chế, tồi tệ hơn là của chính thị trường tài chính.
Hiện nay, thuật ngữ “rủi ro” và “tổn thất” ( hay nguy cơ rủi ro) thường được
sử dụng lẫn với nhau.
2.2Một số thí dụ về tổn thất
Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều vụ tổn thất lớn, có thể điểm qua một
số vụ việc dưới đây:
Ngày 19/10/1987 – Ngày thứ hai đen tối
Tại thị trường London, chỉ số FTSE đột ngột giảm 30% chỉ sau 3 ngày. Chỉ số

đây là cuộc khủng hoảng của các nhà băng, cuộc khủng hoảng tín dụng hay cuộc
khủng hoảng phi vật chất. Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ sau đó lan rộng
toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính khổng lỗ. Hàng loạt ngân
hàng tuyên bố phá sản, bị mua lại hoặc bị kiểm soát đặc biệt. Ngày 15/09/ 2008,
ngân hàng Đầu tư lớn thứ 4 nước Mỹ Lehman Brothers tuyên bố phá sản sau 158
năm tồn tại, đã làm rung chuyển không chỉ trong nước Mỹ mà còn trên toàn thế
giới. Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất
trong lịch sử với tổng tài sản thiệt hại lên đến 307 tỷ USD. Ngân hàng đầu tư số một
nước Mỹ, Merill Lynch cũng bị thâu tóm bởi Bank of America. Chính phủ Mỹ đã
buộc phải bơm 85 tỷ USD vào AIG – tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh
cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ hơn.
6
3. Rủi ro trên thị trường chứng khoán
Trong bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều tiềm ẩn rủi ro, thị
trường chứng khoán cũng vậy. Thông thường rủi ro càng cao thì mức sinh lợi kỳ
vọng càng cao. Nhiều nhà đầu tư chấp nhận mức độ rủi ro cao để có khả năng thu
được lợi nhuận cao trong tương lai. Tuy nhiên rủi ro rất đa dạng và không phải loại
rủi ro nào nhà đầu tư cũng kiểm soát được.
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn rất non trẻ, tồn tại nhiều bất cập lớn
chính vì vậy càng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các nhà đầu tư. Hàng hóa (các loại
chứng khoán) trên thị trường chứng khoán còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu
của nhà đầu tư; Việt Nam chưa có khung pháp lý đồng bộ và đầy đủ cho sự hoạt
động của thị trường chứng khoán; Thiếu cán bộ quản lý giám sát hoạt động của thị
trường chứng khoán…Những điều này làm cho số lượng nhà đầu tư tham gia thị
trường chứng khoán mặc dù ngày càng đông đảo song hệ thống nhà đầu tư lại chưa
đa dạng, cấu trúc cầu đầu tư chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững.
Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các hoạt động kinh tế và chịu nhiều
tác động từ tình hình kinh tế vĩ mô. Nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn bất
ổn: sự mất cân bằng kéo dài trong khu vực tài chính và khu vực tài khóa tại các nền
kinh tế phát triển; giá dầu tăng cao làm tăng chi phí đầu vào; tình trạng thất nghiệp

giảm sút. Sau sự kiện này, Ngân hàng thanh toán quốc tế công bố “hiệp định Basel
I” vào năm 1988, đến năm 1996 có bổ sung “hiệp định Basel II” trong đó quy định
các tổ chức tài chính ngân hàng và phi ngân hàng phải lập quỹ dự phòng. Muốn
vậy, các ngân hàng cũng như các nhà đầu tư phải ước tính được tổn thất của tài sản
hay danh mục nắm giữ do rủi ro thị trường, do đó VaR được khuyến nghị sử dụng.
2. Khái niệm VaR
VaR của danh mục hay tài sản thể hiện mức độ tổn thất có thể xảy ra trong
một khoảng thời gian nhất định với mức độ tin cậy nhất định.
VaR trả lời câu hỏi giá trị cao nhất có thể mất đi khi nắm giữ danh mục hay tài
sản đó dưới những điều kiện thị trường bình thường trên cơ sở một quãng thời gian
và độ tin cậy nhất định.
VaR là một phương pháp đánh giá mức độ rủi ro của một danh mục đầu tư dựa
trên giá trị của danh mục đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro của nhà đầu tư.
Quản trị rủi ro trên cơ sở mô hình VaR sẽ giúp nhà đầu tư, tổ chức tài chính
ước tính được nguy cơ tổn thất tài chính. Còn đối với các nhà hoạch định chính
sách, VaR giúp họ quản l ý hoạt động thị trường có hiệu quả hơn.
3. Mô hình VaR
8
3.1 Dẫn xuất mô hình
Giả sử nhà tư nắm giữ một danh mục tài sản P. Tại thời điểm t, giá trị của
danh mục đầu tư là
t
V
. Tại thời điểm tương lai (t+k), giá trị của danh mục đầu tư
lúc này là
k
V
; k gọi là độ dài chu kỳ.
Khi đó, giá trị
tk

0)(
<∆
kV
tức là nhà đầu tư sẽ chịu
tổn thất. P(
)(kV

≤ x
α
) = α ta nói rằng xác suất để nhà đầu tư chịu tổn thất dưới
mức x
α
(x
α
<0) là α.
Ngược lại, nhà đầu tư ở vị thế đoản vị,
0)(
>∆
kV
tức là nhà đầu tư sẽ chịu tổn
thất. P(
)(kV

≥ x
α
) = 1 - P(
)(kV

≤ x
α

bằng
VaR(k, α)
trong điều kiện hoạt động bình thường.
3.3 Các giả thiết
Giá trị rủi ro (VaR) thông thường phụ thuộc vào các giả định sau đây ( trừ một
số phương pháp tiếp cận VaR phi tham số).
Tính dừng :
9
Mô hình hồi quy cổ điển thường giả thiết rằng các yếu tố ngẫu nhiên có kỳ
vọng bằng 0, phương sai không đổi và chúng không có tương quan với nhau.
Khi chúng ta tiến hành ước lượng một mô hình với chuỗi thời gian, khi đó giả
thiết OLS bị vi phạm.
Một chuỗi được gọi là dừng nếu kỳ vọng, phương sai và hiệp phương sai
không thay đổi theo thời gian. Điều này cũng có nghĩa là phân bố xác suất của
chuỗi là không thay đổi theo thời gian.
Bước ngẫu nhiên :
Một biến
t
Y
được định nghĩa là một bước ngẫu nhiên nếu
ttt
uYY
+=

1

trong đó
t
u
là nhiễu trắng (có trung bình bằng không, phương sai không đổi và

Trong thực hành ta có thể sử dụng nhiều mô hình VaR khác nhau, thường chia
thành hai loại chính là mô hình VaR tham số và mô hình VaR phi tham số. Theo
cách tiếp cận phi tham số có đại diên là mô hình Historical Simulation, còn theo
cách tiếp cận tham số có đại diện là mô hình VaR- RiskMetrics, mô hình kinh tế
lượng ước lượng VaR – ARMA(m,n) và GARCH(p,q). Chuyên đề này sẽ trình bày
mô hình kinh tế lượng ước lượng VaR – ARMA(m,n) và GARCH(p,q).
10
Xét chuỗi thời gian lợi suất của danh mục (hoặc tài sản)
}{
t
r
, mô hình VaR
thường giả định
{ }
t
r
tuân theo một phân phối định trước thông thường là phân phối
chuẩn , với tham số kỳ vọng
)(
µ
và độ lệch chuẩn
)(
σ
.
Trong thực tế để ước lượng các tham số
tt
σµ
,
trong công thức VaR phải sử
dụng các chuỗi


11
0
**
(5.1)
∑∑
=

=

++=
q
j
jtj
p
j
jtjt
u
1
2
1
2
0
2
**
σβαασ
(5.2)
),0(~
2
σε

ˆ
*)(
ˆ
1−
+= Nr
Nếu
)1,0(~
*
IIDT
t
ε
, tức là
t
ε
có phân phối T- student chuẩn hóa với s bậc tự
do ta có:
VaR( 1 ngày, (1 -
α
)100%)
σ
α
ˆ
*
ˆ
)*(s
tr +=
Nếu muốn ước lượng VaR k ngày thì khi đó ta thay các dự báo 1-bước
σ
ˆ
,

rwr
1


=
=
N
i
iiP
rwr
1

WVW
P
.'.
2
=
σ
Do vậy, lợi suất của danh mục
),(~
2
PPP
rNr
σ
.
Tương tự như cách tính VaR đối với tài sản ta tính được VaR đối với danh
mục:
VaR( 1 ngày, (1 -
α
)100%)

ε
Nếu danh mục P được xét dưới dạng giá trị:
), ,,(:
21 N
xxxxP
=

Với
i
x
là khoản tiền đầu tư vào tài sản i
Khi đó: P&L(k)


=
=
N
i
ii
xr
1
Giả thiết rằng lợi suất các tài sản trong danh mục
),(~
2
ii
Nr
σµ
với
Ni ,1
=

2
1
1
&&
1
&
)'(*)()( VxxNN
LPLPLP
αµσαµ
−−
+=+=
CHƯƠNG II
DANH MỤC CỔ PHIẾU
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ
1. Khái niệm
12
Danh mục đầu tư là sự kết hợp của hai hay nhiều tài sản trong tổng giá trị đầu
tư của nhà đầu tư hay tổ chức đầu tư.
Nhà đầu tư thực hiện đầu tư bằng cách chọn vị thế đối với các tài sản, vì vậy
danh mục đầu tư cho ta một danh sách các vị thế của nhà đầu tư đối với tài sản.
Tài sản trong danh mục đầu tư rất đa dạng, có thể là cổ phiếu, trái phiếu, hoặc
một số tài sản khác như bất động sản, quyền chọn, hợp đồng tương lai …
Giả sử một danh mục đầu tư P gồm N tài sản ( được đánh số từ 1 đến N). Gọi
X là khoản tiền đầu tư ban đầu.
Ký hiệu
i
x
là khoản tiền đầu tư vào tài sản i,
i
k

=

Khi này
i
w
là tỷ trọng giá trị tài sản i trong danh mục đầu tư, gọi là tỷ trọng
đầu tư tài sản i của nhà đầu tư.
Danh mục P gồm N tài sản trên có thể được biểu diễn dưới dạng véc tơ N
chiều như sau:
), ,,(:
21 N
wwwP


=
=
N
i
i
w
1
1
13
2. Đặc điểm
2.1Lợi suất
Lợi suất của tài sản
Ta xét một tài sản, ký hiệu
kttt
SSS
−−

SS
kr



=
][
Nếu trong chu kỳ tính lợi suất tài sản có phát sinh thu nhập thì phải cộng thêm
khoản này vào giá cuối kỳ. Nếu tài sản là cổ phiếu và trong chu kỳ tính lợi suất cổ
phiếu hưởng cổ tức D, khi đó lợi suất của cổ phiếu được tính theo công thức:
1
1


−+
=
t
tt
t
S
SDS
r
Lợi suất kỳ vọng hay còn gọi là lợi suất trung bình của tài sản trong một chu
kỳ nắm giữ, ký hiệu
t
r
, là kỳ vọng toán của
:
t
r




=

kt
t
t
S
S
Lnkr ][
Lợi suất của danh mục đầu tư
Xét danh mục P:
), ,,(
21 N
www

1
1
=

=
N
i
i
w
Lợi suất danh mục P:
),'(
1
rWrwr

P
r
là biến ngẫu nhiên,
2
P
σ
là phương sai của
P
r
, khi đó
độ lệch chuẩn
P
σ
là độ dao động trong một chu kỳ của danh mục.Độ dao động của
danh mục phản ánh mức độ biến động của giá trị danh mục nên nó được dùng để
phản ánh mức độ rủi ro khi nắm giữ danh mục. Độ dao động càng cao thì mức độ
biến động của giá trị danh mục càng lớn do đó việc nắm giữ danh mục càng rủi ro.
Phương sai của danh mục P:
∑∑
= =
=
N
i
N
j
ijjiP
ww
1 1
2
σσ

=
: Ma trận hiệp phương sai lợi suất tài sản
), ,,('
21 N
wwwW
=
: Vectơ tỷ trọng của danh mục P
Do
V
xác định dương và
0

W
nên
0
2
>
P
σ
, tức việc nắm giữ danh
mục P thực sự có rủi ro.
Độ dao động của danh mục P:
VWW
P
'
=
σ
3.
Vai trò của danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán
Nhà đầu tư hoặc các tổ chức đầu tư thường tiến hành đầu tư theo danh mục, họ

dạng hóa này giúp nhà đầu tư tránh được rủi ro hệ thống khi trong danh mục xuất
hiện quá nhiều chứng khoán có cùng một tập tính vận động.
Nhà đầu tư có thể đầu tư vốn của mình vào chứng khoán gián tiếp qua các
công ty chuyên nghiệp. Công ty được hưởng phí quản lý danh mục đầu tư và tự
quyết định việc thành lập danh mục đầu tư cho khác hành trong khuôn khổ hợp
đồng thoả thuận với khách hàng.
3.2 Vai trò của danh mục đầu tư đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán
Đầu tư chứng khoán đã và đang là một lĩnh vực thu hút các tổ chức kinh doanh
tham gia nhằm tăng nguồn lợi nhuận. Các tổ chức kinh doanh có đặc điểm là nguồn
vốn lớn với đội ngũ cán bộ chuyên môn cao. Đầu tư bằng danh mục giúp cho các tổ
17
chức thu được khoản lợi nhuận dự tính mà vẫn đảm bảo khả năng an toàn hoạt
động.
Ngoài ra các công ty tài chính cũng có thể tăng doanh thu từ việc thu phí tư
vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư…
II. DANH MỤC CỔ PHIẾU
1. Lập danh mục cổ phiếu
Chuyên đề nghiên cứu cổ phiếu nhóm ngành dược phẩm đã niêm yết trên thị
trường chứng khoán tập trung Việt Nam, có thời gian niêm yết từ đầu năm 2009 đến
cuối năm 2011. Hiện nay, nhóm ngành dược phẩm đã có 18 công ty niêm yết trên
sàn song chỉ có 2 công ty có giao dịch đều đặn và thỏa mãn thời gian nghiên cứu,
đó là công ty cổ phần dược phẩm Hậu Giang (DHG) và công ty cổ phần xuất nhập
khẩu y tế DOMESCO (DMC).
Ta lập danh mục đầu tư gồm hai cổ phiếu: DHG, DMC với tỷ trọng lần lượt là
50%, 50%. Số liệu quan sát từ ngày 02/01/2009 đến ngày 30/12/2011.
2. Tổng quan chung về ngành dược phẩm
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngành dược Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ khi còn sản xuất
thủ công cho đến khi hội nhập công nghiệp dược thế giới.
Giai đoạn 1975 - 1990: Ngành dược Việt Nam trong giai đoạn bao cấp. Trong

trong năm 2014. Quy mô còn nhỏ bé so với các ngành khác trong nền kinh tế nhưng
ngành dược có tốc độ tăng trưởng cao, đạt bình quân trên 18% trong 5 năm 2006
-2010, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng bình quân của ngành dược toàn cầu
(6,2%).
Chi tiêu của người dân cho dược phẩm còn rất thấp. Theo cục quản lý Dược,
tiền thuốc bình quân đầu người năm 2010 đạt 22,25 USD. Trong khi theo thống kê
của IMS, chi tiêu cho dược phẩm bình quân toàn thế giới ở mức 125 USD/ người/
năm. Việt Nam đứng cuối bảng về chi tiêu tiền thuốc đầu người năm 2010 trong các
thị trường dược phẩm mới nổi 3 ( gồm Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Rumania,
Ai Cập, Ukraine, Pakistan và Việt Nam) với mức bình quân chi tiêu tiền thuốc đầu
người của nhóm này là 56 USD/ năm.
Khó khăn lớn của ngành dược Việt Nam hiện nay là chưa tự chủ được nguyên
liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, với trung bình trên 90% nguyên liệu phải
nhập khẩu. Các công ty dược thường gia công sản phẩm, thiếu một quy trình cung
ứng và sản xuất dược phẩm liên tục. Điều này dễ ảnh hưởng đến giá thuốc khi có
19
biến động về tỷ giá hối đoái và chi phí giá nguyên liệu đầu vào trên thế giới. Tổng
kim ngạch nhập khẩu tăng hàng năm, năm 2010 chiếm 2,1% tổng kim ngạch nhập
khẩu cả nước.
Số lượng doanh nghiệp trong ngành tính đến năm 2010 đạt chừng 200 doanh
nghiệp, song quy mô còn nhỏ, chủ yếu sản xuất thuốc phổ thông và phân phối. Hiện
nay có 18 công ty ngành dược niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung với
tổng vốn thị trường ước tính 9.026 tỷ đồng.
2.3 Triển vọng phát triển
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và duy trì trong một thời gian dài đó
là yếu tố thuận lợi giúp ngành dược duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh.
Chính phủ Việt Nam có nhiều kế hoạch đầu tư phát triển ngành dược nhằm nâng
cao chất lượng, tăng thị phần thuốc nội, tăng tỷ lệ nguyên liệu trong nước cho sản
xuất. Bên cạnh đó, chính phủ còn củng cố nâng cao quy định về quản lý thuốc, vệ
sinh an toàn thực phẩm.

Dược Việt Nam, đạt 2.035 tỷ đổng ( năm 2010).
Công ty DHG có hệ thống phân phối trải rộng với 8 công ty con phân phối, 31
đại lý/ chi nhánh, 2 hiệu thuốc và 61 quầy lẻ tại các bệnh viện trên cả nước .
Sản phẩm của DHG trong 11 năm liền (1996 – 2006) được người tiêu dùng
bình chọn là “ Hàng Việt Nam chất lượng cao”. DHG cũng là một trong các doanh
nghiệp sản xuất tân dược đầu tiên đạt được các tiêu chuẩn WHO GMP/GLP, ISO
9001: 2000, ISO/ IEC 17025.
DHG có mạng lưới khách hàng rộng khắp, sản phẩm của DHG được xuất khẩu
sang nhiều nước như: Moldova, Nga, Mông Cổ, Campuchia… Doanh thu xuất khẩu
tăng qua từng năm, đạt 21,35 tỷ đồng ( năm 2010).
Dược Hậu Giang nhận được sự tín nhiệm cao từ các ngân hàng thương mại và
các nhà cung ứng. Công ty cũng tạo được uy tín lớn với các đối tác cung ứng do sức
mua ổn định, khối lượng nhập khẩu lớn, thanh toán đúng hạn. Điều này càng làm
gia tăng lợi thế cạnh tranh của công ty.
3.2 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế DOMESCO (DMC)
Lịch sử hình thành
Công ty thành lập vào tháng 7/1985 với tên gọi là công ty vật tư thiết bị Y tế
mà tiền thân là Trạm vật tư Y tế thuộc sở Y tế tỉnh Đồng Tháp. Sau nhiều lần đổi
tên, ngày 19/05/1989 công ty chính thức đổi tên là Công ty DOMESCO, hoạt động
theo mô hình doanh nghiệp nhà nước. Ngày 01/01/2004, công ty được cổ phần hóa
với tên gọi là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế DOMESCO, vốn điều lệ là 60 tỷ
đồng.
Lĩnh vực kinh doanh
21
Công ty DMC sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu thuốc, nguyên liệu, phụ
liệu dùng làm thuốc. Bên cạnh đó, công ty còn kinh doanh trong nhiều lĩnh vực
khác như: nước hoa, mỹ phẩm; thực phẩm chế biến, nước uống tinh khiết, nước
uống từ dược liệu; thủy hải sản; thuốc thú y, thức ăn gia súc gia cầm…
Vị thế công ty
Năm 2010, công ty DMC chiếm 2,95% thị phần về tiền thuốc sản xuất trong

=

1
ln
t
t
t
S
S
r
I. MÔ TẢ SỐ LIỆU
22
20
30
40
50
60
70
100 200 300 400 500 600 700
DHG
Hình 1.1: Chuỗi giá cổ phiếu DHG
10
20
30
40
50
60
100 200 300 400 500 600 700
DMC
Hình 1.2: Chuỗi giá cổ phiếu DMC

160
200
240
-0.04 -0.02 0.00 0.02 0.04
Series: R_DHG
Sample 2 746
Observations 745
Mean 0.000722
Median 0.000000
Maximum 0.050190
Minimum -0.051018
Std. Dev. 0.019429
Skewness 0.035859
Kurtosis 3.634679
Jarque-Bera 12.66379
Probability 0.001779
Hình 1.5: Biểu đồ tần suất và miêu tả thống kê R_DHG
24
0
40
80
120
160
200
-0.04 -0.02 0.00 0.02 0.04
Series: R_DMC
Sample 2 746
Observations 745
Mean -0.000654
Median 0.000000

KS
nJB
Trong đó:
S : Hệ số bất đối xứng (Skewness)
K : Hệ số nhọn (Kurtosis)
25
n : Số quan sát
Với n khá lớn JB có phân bố xấp xỉ
2
χ
(2). Xét cặp giả thiết :
:
0
H
Biến phân phối theo quy luật chuẩn
:
1
H
Biến không phân phối theo quy luật chuẩn
H
0
sẽ bị bác bỏ nếu
2
α
χ
>
JB
, với
α
là mức ý nghĩa cho trước. Ngược lại, nếu

Như
vậy R_DHG không có phân phối chuẩn.
.84,3)2(900387,5
2
05,0
=>=
χ
JB
Bác bỏ giả thiết
.
0
H
Như
vậy R_DMC không có phân phối chuẩn.

Trích đoạn Lược đồ tự tương quan bình phương phần dư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status