Cơ sở lí luận chung về rủi ro thị trường và quản trị rủi ro thị trường trong hoạt động của ngân hàng - Pdf 23

Môn: Quản Trị Ngân Hàng
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO THỊ
TRƯỜNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
1.1. Phương pháp luận về rủi ro thị trường trong kinh doanh
Ngân hàng
1.1.1. Khái niệm rủi ro thị trường trong kinh doanh Ngân
hàng
Rủi ro thị trường (RRTT) được định nghĩa là rủi ro giá trị của các
trạng thái nội hoặc ngoại bảng cân đối kế toán (CĐKT) chịu ảnh hưởng
bất lợi bởi những biến động trong các thị trường chứng khoán, lãi suất,
tỷ giá hối đoái hay giá cả hàng hoá….
1.1.2. Phân loại rủi ro thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến
rủi ro thị trường trong kinh doanh Ngân hàng
a) Rủi ro hối đoái
Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động ngân hàng là rủi ro phát sinh
trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi
tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng.
Trong hoạt động ngân hàng, yếu tố trực tiếp gây nên rủi ro hối đoái
(RRHĐ) là các hoạt động mua bán ngoại tệ và hoạt động trên tài sản có
và tài sản nợ bằng ngoại tệ của ngân hàng, tạo nên trạng thái ngoại tệ
mở:
- Hoạt động ngoại tệ ngoại bảng: Tồn tại qua 4 hoạt động sau: mua
và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm thanh toán các hợp đồng ngoại
thương; nhằm thực hiện đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp; mua
bán ngoại tệ cho chính mình nhằm cân bằng trạng thái ngoại tệ để phòng
ngừa rủi ro tỷ giá; mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ kiếm lãi
khi tỷ giá biến động.
Trạng thái ngoại bảng (ngoại tệ )= Doanh số mua vào – Doanh số bán
ra
- Hoạt động ngoại tệ nội bảng: Ta có thể thấy ngân hàng có

- Các hình thức của rủi ro lãi suất
 Rủi ro về giá (price risk): phát sinh khi lãi suất thị trường tăng, giá trị thị
trường của các trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định ngân
hàng đang nắm giữ sẽ bị giảm giá. Trái phiếu và các khoản cho vay có
thời hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn, nếu ngân hàng muốn bán đi
các loại tài sản này thì phải chịu tổn thất.
 Rủi ro tái đầu tư (re-investment risk): xuất hiện khi lãi suất thị trường
giảm khiến ngân hàng phải chấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình
vào những tài sản mới với mức sinh lời thấp hơn.
- Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất:
Trang 2
Môn: Quản Trị Ngân Hàng
 Rủi ro lãi suất làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng.
 Rủi ro lãi suất làm giảm thu nhập từ tài sản cảu ngân hàng.
 Rủi ro lãi suất làm giảm giá trị thị trường của tài sản và vốn chủ sở hữu
của ngân hàng.
- Các nhân tố phản ánh quy mô rủi ro lãi suất:
 Khe hở lãi suất (interest rate gap): Các nhà quản lý ngân hàng đã dùng
khe hở lãi suất như là tiêu chí đo khả năng thu nhập giảm khi lãi suất
thay đổi. Khe hở lãi suất hình thành do chênh lệch tài sản và nguồn nhạy
cảm.
 Mức độ thay đổi của lãi suất thị trường cũng ảnh hưởng đến quy mô
RRLS.
c) Rủi ro thanh khoản
- Bản chất cốt lõi của rủi ro thanh khoản: là sự mất cân xứng giữa cung
thanh khoản và cầu thanh khoản do cân đối không chính xác luồng tiền
ra và luồng tiền vào hoặc do tác động từ bên ngoài mà không lường
trước được nên dẫn đến rủi ro thanh khoản.
- Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản:
 Nguyên nhân chủ quan: liên quan đến chính việc xác định nhu cầu

hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80, với mục đích hoạt động
chính là xây dựng những khuôn khổ chung để kiểm soát các rủi ro và
giám sát an toàn đối với những ngân hàng hoạt động quốc tế.
Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:
(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ
lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như
Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân
hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động)
và rủi ro thị trường. So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro
tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ,
nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành. Trọng số rủi
ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy
cảm với xếp hạng.
(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân
hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công
cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải
pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro
chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà
hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk).
Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ
nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ
đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược
đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó. Thứ hai, các giám sát viên nên rà
Trang 4
Môn: Quản Trị Ngân Hàng
soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của
ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối
thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp
nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này. Thứ ba, Giám sát
viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu

Trang 5
Môn: Quản Trị Ngân Hàng
- Rủi ro lãi suất: Tiêu chuẩn vốn đối phó rủi ro các trạng thái về chứng
khoán nợ và các công cụ có liên quan tới lãi suất khác trong sổ sách kinh
doanh của ngân hàng.
- Rủi ro chứng khoán: Tiêu chuẩn vốn tối thiểu để đối phó với các rủi ro
từ việc nắm giữ các trạng thái đối với chứng khoán trong sổ sách kinh
doanh.
- Rủi ro hối đoái: Các tiêu chuẩn vốn tối thiểu để đối phó với rủi ro nắm
giữ các trạng thái ngoại tệ, bao gồm cả vàng. Vàng được đối xử như là
ngoại tệ hơn là như hàng hoá vì sự biến động của nó liên hệ chặt chẽ với
ngoại tệ hơn và các ngân hàng quản lý vàng tương tự như quản lý ngoại
tệ.
- Rủi ro hàng hoá: Tiêu chuẩn vốn tối thiểu để đối phó với rủi ro nắm giữ
các trạng thái về hàng hoá, bao gồm cả kim loại quý không phải là vàng.
a) Phương pháp sử dụng mô hình nội bộ
Phương pháp này cho phép các ngân hàng sử dụng cách đo lường rủi
ro từ các mô hình quản lý rủi ro nội bộ của mình trên cơ sở đảm bảo 7
bộ điều kiện, bao gồm:
- Các tiêu chí chung có liên quan tới sự đầy đủ của mô hình quản lý rủi ro;
- Các tiêu chuẩn định tính cho việc giám sát việc sử dụng mô hình trong
nội bộ, đặc biệt là việc giám sát của các cán bộ quản lý;
- Hướng dẫn cho việc xác định các yếu tố gây rủi ro thị trường phù hợp
(bao gồm giá cả và các tỷ lệ của thị trường có ảnh hưởng tới giá trị của
các trạng thái của ngân hàng);
- Các tiêu chuẩn định lượng quy định việc sử dụng các tham số thống kê
chung tối thiểu cho việc đo lường rủi ro;
- Hướng dẫn cho việc thực hiện kiểm định khủng hoảng (stress testing)
- Các thủ tục đánh giá mô hình từ bên ngoài
- Các quy tắc ngân hàng sử dụng kết hợp cả mô hình nội bộ và phương

kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả.
Tuy nhiên, vấn đề nổi lên hiện nay là nguy cơ suy thoái của kinh tế
toàn cầu từ các cuộc khủng hoảng nợ công xuất phát từ các nước phát
triển đã ảnh hưởng khá mạnh mẽ đối với ngành ngân hàng của các nước
mới nổi trong đó có Việt Nam. Vấn đề rủi ro trong hoạt động ngân hàng
hiện nay diễn biến ngày càng phức tạp, gây ra những tác động to lớn
không thể lường hết được cho nền kinh tế.
2.1. Rủi ro lãi suất:
Trong thực tế các ngân hàng rất khó thuyết phục khách hàng để có
thể huy động phù hợp với chương trình tài sản nợ - tài sản có của ngân
hàng. Ngoài ra đối với các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm rất khó dự
đoán được khoản tiền này sẽ tăng lên hay giảm xuống? Và khả năng thu
hồi nợ đến hạn của khách hàng cũng không chính xác nên việc xây dựng
một dòng tiền ra vào cân xứng với kỳ hạn là rất khó thực hiện.Vì vậy rủi
ro lãi suất luôn luôn tồn tại trong kinh doanh ngân hàng.
Trang 8
Môn: Quản Trị Ngân Hàng
Thứ nhất, Nhìn vào số dư tiền gửi tại các Ngân hàng tới 20.9 tăng
11,23% trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ đạt có 2,35%. Điều đó xảy ra
là do: Thứ nhất, liên tiếp những sự cố về Ngân hàng thời gian qua đang
khiến các Ngân hàng lớn, đặc biệt Ngân hàng quốc doanh có được niềm
tin của người gửi tiền, nên nguồn vốn huy động tăng rất nhanh. Ngược
lại, số Ngân hàng cổ phần nhỏ phải “chịu trận” khi khách hàng không
gửi mới hoặc rút tiền gửi chuyển sang địa chỉ mà họ yên tâm hơn. Và
việc quy định cho phép các tổ chức tín dụng được tự thỏa thuận lãi suất
kỳ hạn trên 1 năm với khách hàng, vô tình tạo ra kẽ hở để các Ngân
hàng gặp khó khăn về thanh khoản tăng lãi suất.
Điều thứ hai, Thực tế tại Việt Nam mức lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12
tháng khá sát và thậm chí có lúc thấp hơn mức lãi suất đối với kỳ hạn ba
tháng. Sự gần nhau của các mức lãi suất này không chỉ phản ánh tính

Thực tế, việc ghi vào sổ tiết kiệm theo quy định và tặng thêm lãi suất
ngoài ở một tờ cam kết khác đã trở nên phổ biến. Để huy động được
tiền, các ngân hàng còn dùng nhiều cách như chuyển vốn ở tài khoản
ATM của khách hàng sang hình thức nhận vốn ủy thác, khách hàng sẽ
được hưởng lãi suất lên tới gần 20%.
2.2. Rủi ro hối đoái:
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại
hối do sự biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền. Trước thời điểm
2/2011, việc Ngân hàng Nhà nước chưa điều chỉnh tỷ giá vì thế trên thị
trường xuất hiện giao dịch hai giá mang nguồn lợi đáng kể cho một số
Ngân hàng và cũng không bỏ qua các rủi ro to lớn đối với một số Ngân
hàng. Việc Ngân hàng nhà nước ổn định thị trường ngoại hối, đảm bảo
tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng là hợp thức hóa những gì xảy
ra trên thị trường thời gian gần đây. Bởi sự điều chỉnh này sẽ xóa bỏ
được tình trạng thu phí ngoại tệ, khiến trong hệ thống xuất hiện tình
trạng hai tỷ giá.
Rủi ro hối đoái đáng quan tâm hơn đến các ngân hàng tái cấp vốn
bằng USD. Còn các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay chủ yếu
cho vay bằng nội tệ nên rủi ro tỷ giá hối đoái không nhiều, nếu tỷ giá
tiếp tục bình ổn như hiện nay. Và việc triệt tiêu hết rủi ro hối đoái là rất
khó vì phụ thuộc nhiều yếu tố vĩ mô khác nhau. Tuy nhiên, các ngân
hàng cần có phương án chuẩn bị các mức thay đổi tỷ giá, kiểm tra sức
chịu đựng của ngân hàng mình, khắc phục tổn thất như thế nào.
2.3. Rủi ro tín dụng
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng; nó thường
chiếm phần lớn trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về
khối lượng công việc cũng như mức độ tạo thuận lợi. Tỷ lệ thuận với nó
là mức độ rủi ro của nghiệp vụ này cũng chiếm phần lớn trong tổng mức
rủi ro của hoạt động ngân hàng.
Trang 10

trọng nợ mất vốn trên tổng nợ giảm so với đầu năm.
Không chỉ có các ngân hàng niêm yết, theo VnEconomy ngày 27/10, từ
đầu năm đến nay, nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng liên tục tăng. Hết
tháng 8/2011, nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng là 3,21% so với 2,53% tại
tháng 8/2010.
Trong tổng số nợ xấu trên 76 nghìn tỷ đồng tính đến hết tháng 8, nợ
nhóm 3 chiếm 30,18%, nhóm 4 chiếm 20,53% và nhóm 5 chiếm trên
49%. Điều đó đồng nghĩa, các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất trắng
khoảng 37,2 nghìn tỷ đồng.
Trang 12
Môn: Quản Trị Ngân Hàng
Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên dư nợ cho vay khách hàng tại thời
điểm 30/9
(data: BCTC/CafeF)
Về con số cụ thể, ngân hàng BIDV có khoản nợ có khả năng mất vốn
cao nhất, lên tới 3.984,4 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 9; của
Vietcombank cũng hơn 3.200 tỷ; của Vietinbank là 2.578 tỷ đồng. Ngân
hàng ACB hiện có 829,1 tỷ đồng nợ có khả năng mất vốn; MB có 629,4
tỷ; Techcombank là 610,8 tỷ…
So với thời điểm cuối năm 2011, nợ có khả năng mất vốn của các
ngân hàng đặc biệt tăng rất mạnh, ngoại trừ KienLongBank giảm gần
4%. Có thể kể đến một số cái tên như LienVietPostBank tăng đến 53 lần
so với cuối 2011 (từ 4,48 tỷ lên 243,8 tỷ); của BaoVietBank tăng hơn 6
lần từ 23,5 tỷ lên hơn 170 tỷ.
2.4. Rủi ro thanh khoản
Hơn hai thập kỷ qua, kể từ khi hệ thống ngân hàng Việt Nam thực
hiện quá trình cải cách các ngân hàng thương mại (NHTM) đã có bước
phát triển mới cả về lượng và chất, nhưng vấn đề rủi ro thanh khoản
dường như chưa được quan tâm đúng mức. Một trong những nhiệm vụ
quan trọng mà các nhà quản lý ngân hàng cần thực hiện là đảm bảo khả

Nguyên nhân chủ yếu là do dòng vốn tiền gửi của các thành phần
kinh tế trong xã hội vào các NHTM bị hạn chế do tác động của lạm phát
và lòng tin. Về phía các NHTM, điều kiện kinh doanh thuận lợi trong
những năm gần đây đã làm nảy sinh tư tưởng chủ quan, tăng trưởng tín
dụng quá nóng trong khi lại buông lỏng chính sách quản lý rủi ro làm
mất cân đối một số tương quan cơ bản trong cơ cấu tài sản, không đảm
bảo đúng các tỷ lệ an toàn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam. Trong bối cảnh đó, khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách
tiền tệ thắt chặt một cách quyết liệt nhằm thu về một khối lượng tiền mặt
đồng Việt Nam khá lớn từ lưu thông thì một số NHTM không thể xoay
chuyển kịp thời, bị mất thanh khoản do cơ cấu đầu tư.
Trang 14
Môn: Quản Trị Ngân Hàng
Các NHTM đã không thực hiện chính sách quản lý rủi ro thanh khoản
một cách khoa học và bài bản. Do tính chất hệ thống đặc biệt chặt chẽ
của ngành trong quan hệ vốn giữa các ngân hàng, chỉ cần một vài ngân
hàng mất khả năng thanh khoản sẽ gây hiệu ứng dây chuyền, nhanh
chóng lan toả trong toàn hệ thống ngân hàng.
Sự sụt giảm mạnh giá cổ phiếu của ngân hàng trong thời gian qua, có
nguyên nhân từ việc nhà đầu tư nhận thấy rằng khủng hoảng thanh
khoản đang hoặc sắp xảy ra với ngân hàng. Nguyên nhân gây nên sự sụt
giảm mạnh cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần, đặc biệt là
hàng loạt ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ cũng xuất phát từ vấn đề
thanh khoản.
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1. Yêu cầu đối với công tác quản trị nói chung, quản trị rủi ro nói
riêng của các NHTM VN hiện nay
- Các NHTM Việt Nam cần chú ý đến khâu quản trị chiến lược, nó có ý

và tài sản nợ, dù vậy khái niệm thời lượng của tài sản cho thấy ngân
hàng vẫn luôn phải chịu rủi ro lãi suất.
- Thời lượng trong mối liên hệ với kỳ hạn đáo hạn của tài sản
- Thời lượng và ảnh hưởng của độ biến đổi lãi suất thị trường
- Sử dụng mô hình thời lượng để phòng ngừa rủi ro lãi suất
3.2.3 Xây dựng hệ thống quản lý tài sản nợ - tài sản có
- Sử dụng NPV – giá trị hiện tại ròng của bảng CĐKT và các giả định
- Vấn đề hành vi hay quyền chọn tiềm ẩn (Behaviour & Implicit options)
3.2.4. Áp dụng các công cụ mới trong quản lý rủi ro thanh khoản
3.2.5. Sử dụng các sản phẩm phái sinh để bảo hiểm rủi ro
Sản phẩm phái sinh là công cụ tài chính có giá trị phụ thuộc vào giá
trị của một tài sản cơ bản (TSCB - underlying asset), ra đời xuất phát từ
nhu cầu “quản trị rủi ro” bao gồm việc chia tách, kiểm soát và chuyển
Trang 17
Môn: Quản Trị Ngân Hàng
đổi rủi ro từ chủ thể này sang chủ thế khác. Nói cách khác, sản phẩm
phái sinh là công cụ để bảo hiểm rủi ro.
3.2.6. Quản lý rủi ro chứng khoán và rủi ro hàng hoá
Như đã đề cập trong Chương I, hiện nay rủi ro chứng khoán và rủi ro
hàng hoá chưa được các NHTM VN quan tâm nhiều so với các dạng rủi
ro thị trường khác, bởi lẽ các NHTMVN chưa trực tiếp có hoạt động
kinh doanh hàng hoá, chứng khoán.
3.2.7. Một số giải pháp khác
- Nâng cao năng lực tài chính.
- Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý.
- Mua sắm, trang bị phần mềm quản trị rủi ro thị trường.
- Hoàn thiện mô hình tổ chức quản trị rủi ro thị trường.
- Đào tạo nguồn nhân lực quản lý rủi ro.
3.3. Một số kiến nghị
Bên cạnh những giải pháp đưa ra đối với các NHTM, quá trình

nghiệp vụ phát sinh trong thực tế. Với tư cách đó, nhằm phát triển hoạt
động QTRRTT tại Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cần:
- Thứ nhất, đứng ra tổ chức các buổi toạ đàm, Hội thảo nghiên cứu về
hoạt động QTRRTT trong đó cần tập trung vào một số chuyên đề quan
trọng như: sự phối hợp giữa các TCTD tham gia QTRRTT, hạn chế rủi
ro trong hoạt động QTRRTT
- Thứ hai, làm đầu mối cho các NHTM Việt Nam cùng chia sẻ kiến thức,
kinh nghiệm trong quá trình tìm kiếm đối tác, nghiên cứu triển khai hệ
thống QTRRTT
- Thứ ba, tìm hiểu và nghiên cứu việc triển khai hoạt động QTRRTT tại
các nước trên thế giới, qua đó có sự tư vấn kịp thời cho các Ngân hàng
về vấn đề xây dựng và hoàn thiện quá trình QTRRTT, cụ thể như việc
xây dựng Quy định QLRRTT đối với các NHTM, các Mẫu biểu áp dụng
để đảm bảo tính khoa học, thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trang 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status