Đặc điểm quá trình dạy học trẻ em tài năng trong nhà trường tiểu học ở Mỹ và xu hướng vận dụng vào Việt Nam - Pdf 25

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nông
Khánh Bằng - người thầy đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS – TS Phạm Hồng
Quang đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc tìm kiếm tài liệu phục vụ cho
việc nghiên cứu đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Th.S Phạm Văn Thịnh – GVC Khoa
Ngoại ngữ - người đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc biên dịch tài liệu để em
có thể hoàn thành đề tài này.
Đề tài nghiên cứu trong luận văn của em là một lĩnh vực mới và tại
Việt Nam chưa có hệ thống lý luận cụ thể và thống nhất nên trong quá trình
thực hiện em gặp rất nhiều khó khăn. Dù đã cố gắng hoàn thành đề tài song
do năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn luận văn của em
không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp,
chỉ bảo của Thầy Cô giáo cùng toàn thể bạn đọc quan tâm để em hoàn thiện
hơn nữa đề tài nghiên cứu trong luận văn của mình.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2008
Tác giả đề tài
C.N Nguyễn Thị Ngọc
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
MỤC LỤC
Mở đầu T
rang
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 4
2. Mục đích nghiên cứu 6

3. Tìm kiếm, phát hiện và tuyển chọn trẻ tài năng trong hệ thống giáo dục
tiểu học của Mỹ. 38
Chương II: Hình thức tổ chức, nội dung, phương pháp dạy trẻ tài năng
trong trường tiểu học của Mỹ và một số phương hướng vận dụng vào
Việt Nam. 57
1. Hình thức tổ chức dạy học nổi bật trong nhà trường tiểu học ở Mỹ. 58
2. Nội dung dạy học cho trẻ tài năng trong nhà trường tiểu học ở Mỹ 61
3. Phương pháp dạy học trẻ tài năng trong nhà trường tiểu học ở Mỹ. 71
4. Một số phương hướng vận dụng trong dạy học trẻ tài năng bậc tiểu học
tại Việt Nam. 82
Quan điểm về đào tạo trẻ tài năng ở Việt Nam 82
Một số phương pháp vận dụng trong công tác nhận dạng, tìm kiếm và phát
hiện tài năng trẻ em ở bậc tiểu học tại Việt Nam. 84
Một số phương hướng vận dụng cơ bản trong việc xây dựng nội dung dạy
học, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho trẻ tài năng
trong nhà trường tiểu học. 86
Kết luận. 91
Tài liệu tham khảo 92
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của toàn cầu hóa và nền
kinh tế tri thức, trong đó chắc chắn mọi lĩnh vực của đời sống toàn nhân loại,
của mỗi cộng đồng và của từng cá nhân sẽ có những thay đổi vô cùng sâu sắc,
mau lẹ và diễn ra theo phương thức hoàn toàn mới. Trước những cơ hội to lớn
và những thách thức hết sức nghiêm trọng và phức tạp đặt ra trong thiên niên
kỷ mới, nhiều dân tộc, nhiều quốc gia đang ra sức xem xét lại chiến lược phát
triển của mình, dự báo và hoạch định chiến lược ngắn hạn, dài hạn, trong thực

khoa học dựa trên các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ.
Mỗi quốc gia đều tiềm ẩn những tài năng trẻ đầy triển vọng, vấn đề cơ
bản là cần biết phát hiện và kịp thời bồi dưỡng, tạo điều kiện cho những tài
năng này phát triển. Trong rất nhiều những cuộc thi quốc tế về các lĩnh vực
như Ôlimpic Toán học, hóa học, sinh học, vật lý, những cuộc thi sáng tạo
Rôbôcon… chúng ta luôn giành được những huy chương cao quý. Điều đó
cho thấy Việt nam là một trong những quốc gia có tiềm lực trí tuệ to lớn. Tuy
nhiên chúng ta chưa phát huy được tối đa sức mạnh nguồn lực này để phục
vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến
sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục trẻ em tài năng
nói riêng. Phát hiện, bồi dưỡng nhân tài là một trong các nhiệm vụ trọng tâm
của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.( Luật giáo dục 2005)
Quá trình dạy học hướng tới việc tìm kiếm và phát hiện tài năng phải bắt
đầu từ khi trẻ còn nhỏ, ở những cấp học đầu tiên. Lứa tuổi tiểu học là thời kỳ
trẻ bộc lộ rõ nhất những tư chất của mình, do đó để tiến hành dạy học có hiệu
quả nhà giáo dục phải đặc biệt chú trọng giai đoạn này.
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy, hiện nay ở nước ta quá trình
dạy học trẻ em tài năng chưa thực sự đạt hiệu quả cao, thực trạng này là do
nhiều nguyên nhân mang lại: Điều kiện cơ sở vật chất, lý luận và phương
pháp dạy học dành cho trẻ em tài năng còn thiếu, các công trình nghiên cứu
khoa học về giáo dục trẻ em tài năng còn hạn chế…
Khắc phục được những khó khăn trên là một công việc khó khăn và phức
tạp đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và đầu tư thỏa đáng về nhiều mặt. Một
trong những biện pháp tích cực đó là học tập có chọn lọc những kinh nghiệm
dạy học của các quốc gia phát triển trên thế giới đặc biệt là những quốc gia đã
thành công trong lĩnh vực này.

Đ
ề tài nghiên
cứu d
ựa trên quan
đ
iểm
h

thống
và quan
đ
iểm
lịch s
ử –
lôgic.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích.
Phương pháp tổng hợp.
Phương pháp hệ thống hóa.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm…
8. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm quá trình dạy học trẻ em tài năng trong nhà
trường tiểu học ở Mỹ.
9. Cấu trúc của đề tài
Bao gồm:
Phần mở đầu.
Phần nội dung: Chương I + Chương II
Kết luận.

kinh,của não bộ. Chính các tư chất bẩm sinh di truyền này là cơ sở của những
năng lực ban đầu của con người gọi là năng lực tự nhiên. Năng lực tự nhiên là
loại năng lực được nảy sinh trên cơ sở những tư chất bẩm sinh di truyền,
không cần đến các tác động giáo dục đào tạo. Nó cho phép con người giải
quyết được những yêu cầu tối thiểu, quen thuộc đặt ra cho mình trong cuộc
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
sống. Do sự khác biệt về tư chất nên các em khác nhau về năng lực tự nhiên.
Nhưng sự khác nhau đó không lớn đến mức quyết định hoàn toàn sự khác
nhau về năng lực của con người trong suốt cuộc đời.
Sự đáp ứng yêu cầu của các năng lực tự nhiên là rất hạn hẹp, trong khi cuộc
sống phát triển không ngừng luôn đặt ra những yêu cầu mới cần giải quyết.
Chính yêu cầu đó trong cuộc sống đã dẫn đến sự hình thành những năng lực
loại mới ở con người bằng con đường giáo dục đào tạo. Những năng lực được
đào tạo này là loại năng lực được hình thành trên nền tảng của năng lực tự
nhiên nhưng là một bậc phát triển cao hơn so với năng lực tự nhiên. Các tài
liệu khoa học hiện nay khẳng định rằng, năng lực được đào tạo (hay năng lực
tự tạo) là những phẩm chất của quá trình hoạt động tâm lý tương đối ổn định
và khái quát của con người, nhờ nó chúng ta giải quyết được (ở mức độ này
hay mức độ khác) một hoặc một vài yêu cầu mới nào đó trong cuộc sống. (T1).
Năng lực tự tạo chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải
quyết những yêu cầu mới mẻ và do đó nó gắn liền với tính sáng tạo. Khi đã
được hình thành ổn định, các năng lực tự tạo thường đi vào hệ thống các năng
lực tự nhiên. Còn các năng lực tự nhiên lại báo trước trong chừng mực nào đó
về năng lực tự tạo của con người khi họ giải quyết những yêu cầu
thuộc
loại
mới.
Năng lực con người ( tự nhiên và tự tạo) là hệ thống tiền đề bên

1.1.3. Giỏi
*Giỏi: Thuật ngữ này thường xuyên trong cuộc sống chúng ta bắt gặp.
"Giỏi" là thuật ngữ dùng để chỉ mức độ cao của năng lực, chỉ sự lành nghề, sự
thành thạo một hoạt động với những kỹ xảo tinh tế hoàn hảo hay sự uyên
thâm kinh nghiệm đến mức điêu luyện trong hoạt động đó. "Giỏi" là cái do
con người tạo ra cho mình chứ không phải do trời phú. Trong kỹ thuật, nghệ
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
thuật, nghề thủ công...thì khái niệm "giỏi" được hiểu như khái niệm "tài
năng". Theo các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về tài năng thì để đào tạo
một chuyên gia (người giỏi trong một lĩnh vực) ở bất cứ lĩnh vực nào, nghề
nào cũng cần đến một khoảng thời gian tối thiểu là khoảng trên dưới 10 năm.
Những học sinh có năng khiếu cao về một lĩnh vực nào đó thì dễ dàng
thành giỏi trong lĩnh vực ấy hơn. Tuy nhiên có thể không có năng khiếu cao
đặc biệt nhưng nếu luyện tập chăm chỉ với lòng say mê cao độ và trong những
điều kiện thuận lợi vẫn có thể trở nên giỏi ở một lĩnh vực, ví dụ như giỏi
ngoại ngữ, giỏi lịch sử, giỏi ngoại giao...
Thời gian khoảng 10 năm cũng là thời gian đủ để đào tạo một chuyên
gia trong khoa học công nghệ. ở Cộng hoà liên bang Đức nhà nước đặt ra học
vị Juniorprofessor để phong cho những nhà khoa học giỏi trẻ tuổi. Họ là
những cử nhân khoa học loại ưu, được làm thẳng tiến sỹ, đã bảo vệ luận án
chuyên ngành loại xuất sắc. Các Juniorprofesser được giao đứng đầu một
nhóm các nhà khoa học chuyên ngành mới hiện đại. Như vậy họ không chỉ
được phong chức danh khoa học mà quan trọng hơn là các nhà khoa học trẻ
giỏi ở nước Đức trong thực tế đã được công nhận là chuyên gia, là người giỏi
một chuyên ngành hay một tài năng khoa học công nghệ. Tuổi đời của họ
thường khoảng trên dưới 30. Cũng vào độ tuổi này ở nước ta hiện nay đã một
số người có bằng tiến sỹ chuyên ngành được đào tạo trong nước. Bao nhiêu
phần trăm số tiến sỹ trẻ này thực sự là chuyên gia trong một ngành khoa học

định nghĩa ít nhiều khác nhau. "Tài năng" cũng là một hiện tượng như vậy.
Thật ra việc thoả thuận giữa các nhà nghiên cứu về khái niệm tài năng về cơ
bản luôn bị quy định bởi nền văn hoá, bởi các giá trị và thái độ xã hội cũng
như cơ cấu xã hội hoá. Tuy nhiên lịch sử phát triển khoa học cho thấy, có
những hiện tượng chưa có định nghĩa một cách khái quát, chính xác và chưa
được mọi người thừa nhận vẫn được các nhà khoa học nghiên cứu và ứng
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
dụng. Vậy tài năng được hiểu ra sao? Đây còn là một câu hỏi mà sau hàng
trăm năm nghiên cứu, tâm lý học vẫn chưa đưa ra được câu trả lời khái quát
và thống nhất chung một cách tuyệt đối.
1.1.5.1. Những định nghĩa tài năng phiến diện (T1)
Thực chất của việc định nghĩa tài năng cũng chính là việc cắt nghĩa về
bản chất và nguồn gốc của tài năng. Điều này đồng thời cũng là cơ sở để nhận
dạng và đào tạo tài năng. Từ việc nghiên cứu, phân tích trên 130 định nghĩa
khác nhau về tài năng được đưa ra trong vòng 100 năm qua, các nhà khoa học
đã phân định những định nghĩa ấy thành các loại điển hình sau:
- Định nghĩa dựa vào các yếu tố đã bộc lộ: Đây là định nghĩa dựa vào
các yếu tố đã bộc lộ ra bên ngoài. Theo cách định nghĩa này, một người nào
đó được coi là tài năng khi anh ta đã hoàn thành vượt trội một hoạt động
nhất định. Định nghĩa về người có tài năng kiểu này được vận dụng để lựa
chọn người có tài năng dựa theo những kết quả đã thể hiện ra trong hoạt động
của họ. Cách định nghĩa này không phục vụ cho công tác đào tạo tài năng, mà
phục vụ cho việc xác định và đánh giá tài năng để làm cơ sở cho việc khen
tặng và tôn vinh tài năng.
- Định nghĩa dựa vào chỉ số IQ: Kiểu định nghĩa này được nhà tâm lý
học Mỹ Terman sử dụng với giá trị IQ >= 140 theo Test Standford - Binet,
theo đó "một người được gọi là tài năng khi người đó có hệ số trí tuệ bằng
hay lớn hơn 140 theo test Standford - Binet". Tuy nhiên khi áp dụng định

học tập chúng thuộc số 15- 20 % xếp thứ hạng từ trên xuống dưới. Tuy nhiên,
có bao nhiêu phần trăm quần thể được coi là có tài năng thì không có sự thống
nhất giữa các nhà khoa học.(T1)
- Định nghĩa dựa vào tính sáng tạo: định nghĩa này được hình thành
dựa trên cơ sở phê phán, bác bỏ kiểu định nghĩa thuần tuý chỉ dựa vào chỉ số
thông minh IQ và chủ trương đặt tính sáng tạo làm cơ sở tiên quyết cho việc
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
đánh giá tài năng con người.Theo quan niệm này, nhà nghiên cứu Gowan cho
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
rằng :"Học sinh, sinh viên tài năng là người có tính sáng tạo cao". Theo nhà
nghiên cứu Mỹ - Terman thường trong 100 người có trí thông minh cao thì có
43 người có trí sáng tạo cao. Do vậy chỉ có 43% số này vừa thông minh vừa
sáng tạo.
- Định nghĩa "Thông minh - Sáng tạo": Nhà tâm lý học Lucitô đề xuất
định nghĩa về tài năng dựa vào mô hình trí tuệ, trong đó có định nghĩa về tính
sáng tạo. Theo kiểu định nghĩa này "Học sinh tài năng là người có năng lực trí
tuệ tiềm năng cao biểu hiện trong năng lực sáng tạo, trong tư duy đánh giá có
phê phán ở mức độ cao, hứa hẹn là họ sẽ giải quyết chính những vấn đề của
tương lai, thực hiện những đổi mới và đánh giá có phê phán nền văn hoá hiện
tại nếu như họ nhận được những điều kiện giáo dục xứng đáng".( T1)
Có thể nhận thấy ngay rằng những định nghĩa trên đây mới chỉ đề cập đến
một mặt của khái niệm tài năng. Để đưa ra được khái niệm đúng và đầy đủ
cần xem xét chúng trong chỉnh thể thống nhất của nó.
1.1.5.2. Những định nghĩa tài năng liên kết phức tạp
- Định nghĩa tài năng của Renzulli(1978):
Lần đầu tiên vào năm 1978, R.S . Renzulli và cộng sự đã đề xuất mô

Bền vững về xúc cảm
Với việc thừa nhận môi trường xung quanh cùng với sự hỗ trợ tối ưu từ
bên ngoài, 2 nhà tâm lý học này đã đi xa hơn Renzulli trong việc xác định rõ
hơn, chi tiết hơn về nội dung và vai trò của động cơ môi trường đối với tài
năng con người. Theo phân tích của 2 tác giả này thì yếu tố xúc cảm, ý chí,
thái độ đối với môi trường bên ngoài cũng như thái độ hay sự thừa nhận, hỗ
trợ khuyến khích của môi trường bên ngoài có tác động quan trọng đến sự
phát triển của tài năng. Cách quan niệm của 2 nhà tâm lý học này đã giúp cho
chúng ta có được cái nhìn cụ thể hơn về cấu trúc, nội dung của tài năng để
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
làm cơ sở cho việc thiết kế soạn thảo những công cụ đo đạc, nhận dạng tài
năng của con người kể cả tài năng trí tuệ và tài năng chuyên biệt.(T1+ T4)
- Định nghĩa tài năng nhiều yếu tố của Moenk (1985): Moenk là nhà
tâm lý học giáo dục của Đức, Ông đã tiếp thu có phê phán các mô hình năng
khiếu cao của các tác giả và cho rằng những cơ sở di truyền của nhận thức và
những thuộc tính nhân cách của con người là khác nhau. Trong cuộc sống và
hoạt động con người bị hạn chế, ức chế hoặc được hỗ trợ khuyến khích từ bên
ngoài. Họ có thể bị cô lập hoặc được hoà nhập trong xã hội, với gia đình, bạn
bè, họ có thể bị nhận định nhầm lẫn là không có năng lực do cách nhận dạng
của xã hội, do nhà trường chưa tốt hoặc có thể bị nhận định là thiếu ý chí
trong trường học... Vì vậy, tài năng không chỉ được xét dưới 3 góc độ hay 3
thành tố được đặt chông chênh trừu tượng ngoài xã hội như quan niệm của
Renzulli, mà tài năng phải được coi là một cơ cấu mở trong đó bao gồm cả
các yếu tố của môi trường xã hội. Moenk đã đưa ra mô hình tích hợp về tài
năng có tên là "mô hình 3 yếu tố phụ thuộc nhau của tài năng" hay "mô hình
các yếu tố của tài năng".
Ba yếu tố đó bao gồm: động cơ, các năng lực vượt trội, tính sáng tạo,
theo Moenk thì đây chính là 3 yếu tố trụ cột tạo nên tài năng. Mô hình tài

thụ khi được xã hội hỗ trợ, thừa nhận và người tài được xã hội tin dùng, nuôi
dưỡng và đãi ngộ thoả đáng kịp thời.
Như vậy, "Tài năng là một tổ hợp thuộc tính được cấu tạo nên do sự
tương tác của các tổ hợp cơ bản những thuộc tính của nhân cách là trí
thông minh cao, động cơ mạnh và năng lực chuyên biệt vượt trội với hiệu
quả tác động của các yếu tố môi trường là xã hội, gia đình, trường học và
bạn bè. Người tài năng là người có được những tổ hợp thuộc tính trên đây
làm tiền đề cho sự hoàn thành có chất lượng cao những hoạt động của
mình trong xã hội và vì xã hội".( T1)
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
1.2. Khái niệm trẻ tài năng theo quan điểm của các nhà khoa học Mỹ
Nước Mỹ mãi đến thế kỷ 19 mới chú ý đến vấn đề giáo dục học sinh
tài năng cho đến năm 1920 đã có tới 2/3 các thành phố lớn của Hoa Kỳ đã
thực hiện chương trình giáo dục học sinh giỏi, học sinh tài năng. Trong suốt
thế kỷ 20 giáo dục học sinh giỏi học sinh tài năng đã trở thành một vấn đề của
nước Mỹ. Hàng loạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu bồi dưỡng học
sinh giỏi, học sinh tài năng ra đời: Mensa (1946) The American Association
for the Gifted (1947); The National Association for the Gifted (1953) ... Năm
2002 có 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dục học sinh giỏi, học sinh
tài năng trong đó có 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc giáo dục học
sinh giỏi, học sinh tài năng.
Khái niệm học sinh tài năng ở Mỹ được định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau:
Luật bang Georgia định nghĩa như sau: Học sinh tài năng là học sinh
chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao hoặc có khả năng sáng tạo, thể hiện
một động cơ học tập mãnh liệt hoặc đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết khoa
học. Đó là người cần một sự giáo dục đặc biệt và sự phục vụ đặc biệt để đạt
được trình độ tương ứng với năng lực của người đó.(T3)

màu, muôn vẻ được đặt ra để hình thành nhân cách nói chung (cũng như từng
thuộc tính của nó nói riêng) cho phù hợp với mục đích giáo dục do xã hội đề
ra.
Như vậy, từ những trình bày trên đây, có thể nói rằng : là một thuộc
tính của nhân cách, tài năng mang đặc tính của nhân cách và có thể giáo dục
đào tạo được. Các nhà giáo dục ở Liên bang Nga những năm cuối thập kỷ 80
của thế kỷ trước đã quan tâm rất nhiều đến vấn đề này. Họ cho rằng trong
nhân dân có rất nhiều tài năng, và tài năng không phải tự nhiên có được mà
chính là do con người tạo ra. Sở dĩ xã hội thiếu tài năng là vì nhà trường và xã
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
hội không đặt ra nhiệm vụ đào tạo tài năng hoặc có đặt ra nhưng chưa đào tạo
đúng mà thôi.
Theo quan niệm và kinh nghiệm hơn 30 năm đào tạo tài năng, tiến sỹ
Volkow cho rằng về nguyên tắc, đào tạo tài năng là không khó, chỉ cần mỗi
trường biết tạo ra những điều kiện để học sinh thử sức nhiều lần trong những
hoạt động độc lập, sáng tạo khác nhau. Từ những kinh nghiệm của mình, các
nhà giáo dục Nga cũng thấy rằng để đào tạo một chuyên gia giỏi trong mọi
lĩnh vực chúng ta cần một khoảng thời gian tương đương nhau vào khoảng
trên dưới 10 năm. Bắt đầu bồi dưỡng tài năng càng sớm thì người tài xuất
hiện càng sớm. Hiện tượng một số em tốt nghiệp tú tài, thậm chí là nhận bằng
cử nhân ở độ tuổi 13 - 14 ở Nga, Mỹ và các nước khác hiện nay chính là kết
quả của giáo dục đào tạo.
Các nhà giáo dục Đức cho rằng, bồi dưỡng tài năng trước hết là hình
thành ở học sinh những đặc điểm và thuộc tính nhân cách như nhu cầu và
hứng thú trí tuệ, mức độ nhu cầu, tính nhạy cảm, trí tưởng tượng và khả năng
làm việc tốt trong thời gian hạn định và khả năng cộng tác. Theo kinh nghiệm
của họ thì bồi dưỡng tài năng có nghĩa là: làm bộc lộ nhu cầu trí tuệ và khát
vọng thực hiện nhu cầu đó; tạo được mục đích riêng và theo đuổi nó một cách

càng đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo các ưu thế cạnh tranh của đất
nước ở trình độ quốc gia cũng như là trên thế giới. Sự phát triển của nền giáo
dục Mỹ trong những năm gần đây ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành nền
kinh tế cơ bản - trí tuệ của con người. Trong báo cáo kinh tế của Tổng thống
Mỹ B.Clintơn tại hội nghị năm 1999 đã thẳng thắn chỉ ra rằng "chính nền giáo
dục là chiếc chìa khoá mở ra sự phồn vinh trong tương lai của đất nước".(T5)
Nền giáo dục ở Mỹ được coi là lĩnh vực thuộc thẩm quyền của các
bang và chính quyền địa phương. Cho đến nay ở Mỹ có 50 hệ thống giáo dục
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http: / /ww w .lr c - t n u.e d u. v n
khác nhau ở các bang. Trong mỗi bang có một cơ quan quản lý nền giáo dục
của mình. Chính điều này tạo nên sự khác biệt và những đặc trưng riêng của
mỗi khu nhưng vẫn trong giới hạn do Luật giáo dục quy định. Hiện nay ở Mỹ
có khoảng 15 ngàn trường phổ thông đang hoạt động. Quyền hạn của chính
phủ Liên bang chỉ giới hạn trong vấn đề cung cấp kinh phí giáo dục đảm bảo
sự bình ổn trong xã hội của đất nước Mỹ. Tuy nhiên có thể nói giáo dục là
một lĩnh vực được quan tâm hàng đầu ở Mỹ. Đây là lĩnh vực được đầu tư cao
và nó luôn chiếm một vị trí đáng kể trong các chương trình vận động tranh cử
qua các đời tổng thống.
Vấn đề dạy học trẻ em có năng khiếu cao để phát triển thành tài năng ở
Mỹ được quan tâm đặc biệt nhưng nó không tách rời khỏi quá trình dạy học ở
các nhà trường Tiểu học của Mỹ nói chung. Vấn đề là ở chỗ ngay trong quá
trình dạy học tại các lớp thông thường họ đã có những phương thức giảng dạy
giúp học sinh tài năng có thể phát huy đuợc năng lực của bản thân và khẳng
định đẳng cấp riêng của mình giữa những học sinh bình thường. Không cần
sự tách biệt một cách rõ rệt thành trường chuyên, trường năng khiếu như ở
Việt Nam nhưng tài năng không bị thui chột mà vẫn có thể toả sáng. Cách mà
các trường Tiểu học ở Mỹ lựa chọn để dạy học trẻ tài năng và trẻ có năng
khiếu cao đó là dạy học cá nhân hoá ngay trong các lớp học, trong các trường

những tư chất được bộc lộ. Từ đó tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát
triển khả năng và tài năng của mỗi học sinh. Khi dạy cho học sinh tài năng
cần tính đến sự kế thừa giữa các khâu của quá trình giáo dục Mỹ.
Giáo dục Tiểu học có vị trí vô cùng quan trọng vì nó chính là giai đoạn
đặt nền móng của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chủ yếu không chỉ xác định tính
chất sau này của việc dạy học mà cả đường đời của mỗi cá nhân học sinh.
Trường tiểu học có mối liên hệ chặt chẽ với các bậc học tiếp theo của thang
giáo dục,

Trích đoạn Phương pháp dạy học trẻ tài năng trong nhà trường tiểu học của Mỹ Một số phương hướng vận dụng trong dạy học trẻ tài năng ở bậc tiểu học tại Việt Nam Một số hướng vận dụng cơ bản trong việc xây dựng nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho trẻ tài năng trong KẾT LUẬN CHUNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status