Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay ở NHTM cổ phần xăng dầu Petrolimex chi nhánh Bà Triệu - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
Chuyên đề tốt nghiệp
TỪ NGỮ VIẾT TẮT
TTCK: Thị trường chứng khoán
CTCK: Công ty chứng khoán
VaR: Value At Risk
HOSE: Ho Chi Minh Stock Exchange
HNX: Hanoi Stock Exchange
HASTC: Hanoi Securities Trading Center
SGDCK: Sở Giao Dịch Chứng Khoán
HS: Historical Simulation
FII: Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
GDP: Gross Domestic Product (tổng sản phẩm quốc nội)
OTC: Over The Counter (Thị trường phi tập trung)

Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Thị trường tài chính luôn tiềm ẩn những rủi ro, cuộc khủng hoàng tài chính
vừa qua là một minh chứng cho điều đó, khi mà những mô hình phân tích định
lượng rủi ro đã không đưa ra được những dự báo chính xác. Những dao động mạnh
trên thị trường tài chính đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu, các chuyên gia quan tâm
hơn tới những mô hình định lượng, quản trị rủi ro và một trong số đó là Value at
Risk, một công cụ phổ biến trong lĩnh vực quản trị rủi ro thị trường vốn.
Value At Risk được cho là một công cụ quản trị rủi ro thị trường vốn rất tốt

hợp, có thể áp dụng vào phân tích, dự báo rủi ro cho thị trường chứng khoán Việt
Nam thông qua chỉ số VNindex
Nguồn số liệu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu này là chuỗi giá của chỉ
số VNindex từ 2002 – 2011 (đã bao gồm giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008
-2011).
Sau cùng, em xin gửi lời chân thành cám ơn tới sự hướng dẫn tỉ mỉ và tận tình
của thầy Nguyễn Quang Dong và cô Phạm Thị Nga, cũng như sự giúp đỡ của các
thầy cô khoa Toán Kinh tế, đã tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề này.
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THỊ TRƯỜNG
VÀ VALUE AT RISK
1.1 Rủi ro và rủi ro thị trường
1.1.1 Khái niệm rủi ro
Rủi ro là khả năng rằng một hành động hoặc hoạt động (bao gồm cả sự lựa
chọn của không hành động) sẽ dẫn đến một sự tổn thất, (một kết quả không mong
muốn). Khái niệm này ám chỉ một sự lựa chọn có ảnh hưởng đến kết quả có thể xảy
ra hoặc đã hiện hữu. Bản thân tổn thất tiềm năng cũng có thể được gọi là "rủi ro".
Hầu như bất kỳ nỗ lực nào của con người đều đi kèm với rủi ro, nhưng một số có
chứa nhiều rủi ro hơn những thứ khác.
Khái niệm
Hiện nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái
khác nhau đưa ra những định nghĩa về rủi ro khác nhau. Nhìn chung ta có thể chia
thành hai trường phái lớn là truyền thống và hiện đại.
Theo định nghĩa truyền thống, rủi ro là sự tổn thất mất mát, không may, nguy
hiểm. Nó được xem là điều không tốt, xảy đến một cách bất ngờ. Là sự tổn thất về
tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là
bất trắc ngoài ý muốn trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác
động không tốt đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.Tóm lại, theo trường

trên thị trường. Ví dụ, khi ngân sách quốc gia bị thâm hụt thì Chính phủ sẽ có động
thái phát hành thêm trái phiếu đế bù đắp, như vậy sẽ làm tăng mức cung trên thị
trường. Nhà đầu tư sẽ mua các loại trái phiếu này nếu lãi suất của chúng cao hơn lãi
suất của các chứng khoán khác đang lưu hành.
Như vậy, có một cơ cấu hợp lý giữa các loại công cụ lãi suất liên hệ với nhau.
Sự thay đổi của lãi suất tham chiếu sẽ ảnh hưởng tới cả hệ thống. Hệ quả của lãi
suất tham chiếu tăng là giá của các tài sản khác như chứng khoán sẽ giảm xuống, và
ngược lại.
- Rủi ro cổ phiếu (equity risk)
Rủi ro cổ phiếu là rủi ro giá cổ phiếu có nguy cơ giảm do những dao động trên
thị trường chứng khoán. Phương pháp tính rủi ro cổ phiếu điển hình là độ lệch
chuẩn của giá cổ phiếu trong một số thời kỳ nhất định. Độ lệch chuẩn có thể phác
họa những dao động thông thường mà một nhà đầu tư có thể kỳ vọngvề mức độ an
toàn trên hay dưới mức trung bình. Tuy nhiên, kể từ khi nhà đàu tư không coi các
dao động trên mức trung bình là rủi ro, các nhà kinh tế học thích sử dụng các
phương pháp đo lường khác.
1.2 Tổng quan về Value at Risk
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
4
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.1 Lịch sử mô hình VaR
Đo lường rủi ro là một vấn đề không mới trong lĩnh vực thống kê, kinh tế học,
hay tài chính. Quản trị rủi ro tài chính đã trở thành mối quan tâm của các nhà làm
luật và cả những chuyên gia tài chính cao cấp trong một thời gian dài. Những phân
tích trong quá khứ đã cho thấy sự tồn tại của một số mô hình kiểu như VaR trong
lịch sử, nhưng phải mãi đến những thập niên 1980, VaR mới nổi lên là một khái
niệm độc lập. Sự quan tâm tới mô hình VaR được dấy lên bởi sự kiện thị trường
chứng khoán đổ vỡ vào 1987.
Sự đổ vỡ không chỉ dấy lên những quan ngại đối với những mô hình thống kê
chuẩn mà còn đặt ra câu hỏi với toàn bộ những cơ sở định lượng trong tài chính.

là Financial and Operating Combined Uniform Single (FOCUS).
Các quy định đầu tiên đã gợi đến Value at Risk, mặc dù được khởi xướng
trong những năm 1980, khi SEC đã gắn các yêu cầu về vốn của các công ty dịch vụ
tài chính với những thiệt hại mà có thể phát sinh, với khoảng tin cậy 95% trong một
khoảng thời gian ba mươi ngày, với các mức độ an toàn khác nhau. Những dự liệu
lịch sử đã được sử dụng để tính toán những thiệt hại tiềm năng trong tương lai.
Đã có thời gian, các danh mục đầu tư và các ngân hàng thương mại đã trở nên
lớn hơn và nhiều biến động hơn, tạo ra nhu cầu về các biện pháp tinh vi và kịp thời
hơn nhằm kiểm soát rủi ro. Ken Garbade ở công ty Banker’s Trust, trong một tài
liệu nội bộ, đã trình bày một số phương pháp VaR rất tinh vi đối với danh mục
fixed income của công ty.dựa trên hiệp phương sai về lợi tức của các trái phiếu với
kỳ hạn khác nhau.
Đầu những năm 1990, nhiều công ty dịch vụ tài chính đã phát triển các biện
pháp thô sơ tính VaR. Thời gian đó, đã có rất nhiều tổn thất lớn liên quan đến việc
sử dụng phái sinh và đòn bẩy từ năm 1993 đến 1995 xuất hiện, mà đỉnh điểm của sự
thất bại là Barings, ngân hàng đầu tư của Anh, do những giao dịch trái phép các hợp
đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai trên chỉ số Nikkei của Nick Leeson, một
nhà đầu tư trẻ ở Singapore. Năm 1995, J.P.Morgan phổ biến rộng rãi việc truy cập
vào dữ liệu về phương sai và hiệp phương sai trên nhiều loại chứng khoán và tài
sản, nó đã được sử dụng trong nội bộ gần một thập niên để quản lý rủi ro, và cho
phép các lập trình viên phát triển những phần mềm để đo lường nó.
Và từ đó, VaR đã trở thành biện pháp hoàn chỉnh để đo lường các nguy cơ rủi
ro trong các công ty dịch vụ tài chính và thậm chí đã bắt đầu được chấp nhận trong
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
6
Chuyên đề tốt nghiệp
các công ty dịch vụ phi tài chính
1.2.2 Các khái niệm cơ bản về Value at Risk
Mức thua lỗ lớn nhất mà tôi có thể mất trong khoản đầu tư này là bao nhiêu?
Đó là câu hỏi mà hầu hết một nhà đầu tư hay một người đang cân nhắc đầu tư vào

khoảng thời gian cố định cho mức rủi ro được đánh giá, và một khoảng tin cậy. VaR
có thể được tính toán cho tài sản của một cá nhân, một danh mục đầu tư các tài sản,
hay thậm chí cho toàn bộ một công ty.
1.2.3 Những giới hạn của mô hình VaR,
Dù mô hình VaR được sử dụng rất phổ biến trong giới quản trị rủi ro nhưng
vẫn còn những lý do để nghi ngờ về tính chính xác của mô hình này như một công
cụ quản lý rủi ro và việc sử dụng nó trong việc ra quyết định. Các nhà nghiên cứu
đã chỉ ra nhiều vấn đề đối với mô hình từ các hướng khác nhau được phân loại sau
đây:
1.2.3.1 Mô hình VaR có thể sai
Không hề có một phương pháp chính xác để đo giá trị chịu rủi ro (value at
risk), mỗi phương pháp đều có những điểm hạn chế nhất định. Kết quả cuối cùng là
giá trị chịu rủi ro mà chúng ta tính toán cho một tài sản, danh mục hoặc một công ty
có thể sai và đôi khi sai sót đó lớn đến mức mà giá trị VaR khi là một chỉ số hoàn
toàn sai về mức độ rủi ro. Lý do của những sai sót này có thể khác nhau tùy từng
công ty hoặc tùy vào phương pháp tính VaR.
a. Phân phối lợi nhuận (return distributions) mỗi phương pháp tính VaR
đều dựa trên một số giả định về phân phối lợi nhuận, mà những giả định này nếu bị
vi phạm sẽ dẫn đến những ước lượng không chính xác về giá trị chịu rủi ro. Với ước
lượng chuẩn delta (delta-normal) của VaR, giả định phân phối của lợi nhuận là phân
phối chuẩn vì giá trị VaR dựa hoàn toàn vào độ lệch chuẩn (standard devitation) của
lợi nhuận. Với phương pháp giả định Monte Carlo, có thể có nhiều lựa chọn hơn về
loại phân phối lợi nhuận, tuy nhiên chúng ta vẫn có thể sai khi đưa ra những đánh
giá. Cuối cùng, với phương pháp mô phỏng lịch sử (historical simulatons), sự phân
phối của lợi nhuận trong quá khứ có thể dùng đại diện cho sự phân phối lợi nhuận
trong tương lai
Có rất nhiều bằng chứng cho thấy lợi nhuận thường không phân phối chuẩn và
các kết quả khác biệt hẳn (outlier), không chỉ khác so với thực tế mà giá trị thực tế
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
8

Sự đơn giản của giá trị VaR là do khái niệm rủi ro được sử dụng trong mô hình
này được thu hẹp lại. Do đó, việc sử dụng giá trị VaR là tiêu chí duy nhất đo lường
rủi ro có thể dẫn đến các sai lầm khi ra quyết định.
a. Loại rủi ro:
VaR đo lường khả năng lỗ tiềm tàng có thể xảy ra đối với một tài sản hoặc danh
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
9
Chuyên đề tốt nghiệp
mục do những rủi ro của thị trường. Trước hết, rủi ro luôn mang giá trị âm trong mô
hình VaR. VaR được đo lường theo các khoản lỗ tiềm tàng chứ không phải là các
khoản lợi nhuận. Thứ hai, hầu hết các phương pháp tính VaR được xây dựng xung
quanh những ảnh hưởng của rủi ro thị trường, mà không xét tới các loại rủi ro khác.
Nói cách khác, giá trị thực của VaR có thể lớn hơn nhiều giá trị VaR được tính toán
khi xét đến rủi ro chính trị, rủi ro thanh khoản, rủi ro pháp lý…
b. Ngắn hạn:
Giá trị VaR có thể tính toán theo quý hoặc theo năm nhưng thường thì giá trị này
được tính toán theo ngày, hoặc tuần. Có 3 lý do cho việc tập trung vào ngắn hạn.
Thứ nhất, các định chế tài chính thường quan tâm tới việc quản lý rủi ro từng ngày
hơn là những rủi ro dài hạn. Thứ hai là yếu tố quản lý (regulatory authorities), các
cơ quan quản lý thường có yêu cầu kiểm tra rủi ro mà các định chế tài chính gặp
phải thường xuyên. Thứ ba, số liệu đầu vào cho việc tính toán các giá trị VaR (dù
theo bất cứ phương pháp nào) sẽ thuận tiện nhất khi là số liệu cho các giai đoạn
ngắn.
c. Giá trị tuyệt đối :
Giá trị VaR được tính toán không phải là sai số chuẩn hoặc một tham số để đo lường
rủi ro tổng thể mà là một giá trị cụ thể về một khoản lỗ tiềm tàng theo một xác suất
nào đó. Giá trị cụ thể sẽ là một tiêu chí tốt khi công ty lo lắng về năng lực vốn của
mình (capital adequacy). Tuy nhiên, khi công ty muốn so sánh giữa các khoản đầu
tư khác nhau với quy mô và lợi nhuận khác nhau thì giá trị VaR lúc này sẽ không
phù hợp.

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM, VNINDEX VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
VALUE AT RISK
2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (tên tiếng Anh là Hanoi Stock Exchange, viết tắt
là HNX) trước là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HASTC – Hanoi
Securities Trading Center), được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg
ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Sở giao dịch chính thức được đi vào hoạt
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
11
Chuyên đề tốt nghiệp
động từ năm 2005 với các hoạt động chính là tổ chức thị trường giao dịch chứng
khoán niêm yết, đấu giá cổ phần và đấu thầu trái phiếu. Một bước ngoặt với
HASTC là ngày 2/1/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 01/2009/QĐ-
TTg chuyển đổi TTGDCK Hà Nội, thành Sở GDCK Hà Nội. Khác biệt lớn nhất
giữa HNX và HASTC là về cơ cấu tổ chức. Trước chuyển đối, HASTC là đơn vị
trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, sau chuyển đổi, HNX là công ty TNHH
một thành viên thuộc sở hữu nhà nước, do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý và đại
diện chủ sở hữu, dưới sự giám sát của UBCK Nhà nước. Với vốn điều lệ là 1.000 tỷ
đồng, đến nay, quy mô của Sở GDCK Hà Nội đã có những bước phát triển mạnh
với 3 thị trường giao dịch: cổ phiếu, thị trường trái phiếu Chính phủ và thị trường
UPCoM; bên cạnh đó Sở GDCK Hà Nội cũng tổ chức các hoạt động đấu giá cổ
phần và đấu thầu trái phiếu Chính phủ.
Sở GDCK Hà Nội là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức quản lý và điều phối
các giao dịch trên thị trường chứng khoán. Mục tiêu của Sở là đảm bảo một thị
trường giao dịch minh bạch, công bằng, và hiệu quả; duy trì hạ tầng cơ sở phục vụ
cho thị trường, thể hiện vai trò là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế
thông qua việc thu hút đầu tư trong nước và quốc tế, và trên hết, đem lại lợi ích cao
nhất có thể cho doanh nghiệp và nhà đầu tư trên thị trường.

tư mở tại các công ty chứng khoán (CTCK) đã lên tới gần 298 ngàn tài khoản trong
đó có trên 7 ngàn tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.
SGDCK TP.HCM đã thực hiện giao dịch khớp lệnh liên tục từ ngày
30/07/2007 và từng bước triển khai giao dịch nhập lệnh từ xa để đáp ứng với nhu
cầu của thị trường.
2.1.2.2 Chỉ số Vnindex
Kèm với sự ra đời của thị trường chứng khoán, chỉ số VN – Index được ra đời
như là một chỉ số đại diện của chỉ số chứng khoán Việt Nam. VN - Index xây dựng
căn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết. Thông qua chỉ
số này, nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổng quát.
Chỉ số VN -Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ
sở vào ngày gốc 28-7-2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt
động.
Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trong các
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
13
Chuyên đề tốt nghiệp
trường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốn
niêm yết.
Phương pháp tính:
VnIndex được tính toán theo phương pháp chỉ số giá bình quân Passcher bởi
UBCK Nhà nước theo công thức sau:
Vn-Index =
Trong đó:
P
1i
: Giá hiện tại của cổ phiếu i trên thị trường
Q
1i
: Khối lượng đang lưu hành trên thị trường của cổ phiếu i

Cổ
phiếu Khối lượng (s)
Tỷ
lệ
free-
float
(f) -
%
Giới
hạn tỷ
trọng
(c) - % STT
Cổ
phiếu Khối lượng (s)
Tỷ lệ
free-
float
(f) -
%
Giới
hạn
tỷ
trọng
(c) -
%
1 STB 973.967.664 75 96,04 16 BVH 680.471.434 15 100
2 VIC 549.383.305 65 32,22 17 ITA 341.989.092 50 100
3 SSI 349.611.742 60 100 18 HPG 344.980.713 60 100
4 MSN 515.272.269 25 92,59 19 CTG 2.022.972.161 10 100
5 FPT 215.946.274 80 100 20 SJS 99.041.940 60 100

s: là khối lượng cổ phiếu lưu hành,
f: là tỷ lệ free-float,
c: là giới hạn tỷ trọng vốn hóa.
Việc thay đổi các hệ số f, c và s sẽ được xem xét định kỳ 6 tháng một lần vào cùng
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
15
Chuyên đề tốt nghiệp
thời điểm xem xét định kỳ chỉ số.
Trường hợp tỷ lệ free float (f) thay đổi quá 5% so với cận trên hoặc cận dưới
của dải giới hạn liền kề sẽ được điều chỉnh ngay lập tức.
Hệ số (c) cũng được điều chỉnh ngay nếu tỷ trọng vốn hóa của cổ phiếu trong
chỉ số liên tục vượt mức giới hạn cho phép 5% trong 10 phiên liên tiếp.
Hệ số (s) được điều chỉnh ngay khi tỷ lệ thay đổi tích lũy về khối lượng lưu
hành của các cổ phiếu so với tổng khối lượng lưu hành của chỉ số từ 10% trở lên,
hoặc tỷ lệ thay đổi về khối lượng lưu hành của mỗi cổ phiếu lớn hơn 5%.
2.1.3 Tóm tắt diễn các giai đoạn phát triển của thị trường từ 2000 – 2012
2.1.3.1. Giai đoạn 2000-2005, sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt
Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời được đánh dấu bằng việc đưa Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh đi vào vận hành ngày 20/07/2000 và
chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào 28/07/2000. Với số vốn 270 tỷ
đồng ở thời điểm đó, của 2 doanh nghiệp với 2 mã cổ phiếu niêm yết (REE và
SAM) và một số ít Trái phiếu CP được niêm yết và giao dịch. Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSTC) đầu tiên mới chỉ là một sàn giao dịch
chứng khoán, hoạt động trong tình trạng sơ khai và vận hành mang tính chất thí
điểm trong suốt 5 năm hoạt động đầu tiên. Trong giai đoạn 5 năm đó thị trường luôn
vận động ở trong trạng thái cầm chừng, ngoại trừ cơn sốt vào 6 tháng đầu năm năm
2001 khi mà chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm. Nhưng chưa đầy 4 tháng
sau, từ tháng 6 đến tháng 10, VNindex liên tục sụt giảm và thị trường nguội lạnh
kéo dài, các chứng khoán niêm yết đã mất gần 70% giá trị, VN Index từ mức 571,04

Nam, chỉ số VN-Index đã tăng gần 2,5 lần so với đầu năm, một con số cực kỳ đáng
kể.
Cuối năm 2006, tổng giá trị vốn hóa thị trường ước đạt 13,8 tỉ USD (tương
đương 22,8% GDP). Trong đó có 4 tỉ USD là giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư
nước ngoài đang nắm giữ, chiếm 16,5% mức vốn hóa của toàn thị trường. Giai đoạn
này, mỗi ngày có gần 100 mã cổ phiếu được giao dịch. Tại thị trường (OTC), khối
lượng giao dịch ước tính gấp 5 lần so với khối lượng giao dịch trên sàn Hà Nội,
HASTC. Số lượng công ty được niêm yết tăng gần 5 lần, từ con số 40 công ty vào
năm 2005, sang 2006 đã lên tới 195 công ty, cùng với đó số tài khoản giao dịch đạt
hơn một trăm ngàn tài khoản, gấp 3 lần so với năm 2005 và hơn 30 lần so với giai
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
17
Chuyên đề tốt nghiệp
đoạn thị trường bắt đầu hình thành. Đến cuối năm 2006, ước tính có trên một trăm
ngàn tài khoản được mở tại các công ty chứng khoán, trong đó số lượng tài khoản
của nhà đầu tư nước ngoài là hơn hai ngàn.
Kể từ khi Luật Chứng khoán ra đời và có hiệu lực từ đầu năm 2007, thị trường
đã được thúc đẩy phát triển một cách đáng kể và cùng với đó khả năng, mức độ hội
nhập quốc tế cũng được cải thiện rõ rệt. Với sự ra đời của Luật Chứng khoán, tính
công khai, minh bạch trên thị trường được tăng cường, tạo cơ sở hành lang pháp lý
rõ ràng hơn cho nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp niêm yết.
Năm 2007 đánh dấu bởi một mốc đỉnh 1.170,67 điểm của VNindex lần đầu
tiên trong lịch sử. HASTC-Index cũng tăng lên mốc 459,36 điểm. Nhìn chung,
trong năm 2007, toàn thị trường nói chung và giá cả của các chứng khoán nói riêng
trong các phiên giao dịch đã trải qua nhiều biến động, các chỉ số VNindex và HNX
index của cả 2 sàn đều có biên độ giao động lớn. Phiên cuối năm 2007, VNIndex
đạt mức 927 điểm, còn Hastc-Index đóng cửa ở mức 323,5 điểm, như vậy VNindex
kết thúc năm 2007 với mức tăng trưởng là 24%; còn Hastc-Index kết thúc năm với
mức tăng 33% so với cuối năm 2006.
Tính đến thời điểm cuối cùng của năm 2007, số phiên giao dịch mà SGDCK

- Giai đoạn thị trường điều chỉnh, 4/2007 - 9/2007
Lo sợ về một thị trường đang có dấu hiệu “bong bóng”, các cơ quan quản lý
đã vào cuộc để hạ nhiệt bằng các biện pháp, công cụ kiểm soát chặt chẽ hơn, những
thiết chế nhằm hạn chế và kiểm soát sự tăng trưởng quá khích của thị trường được
đưa ra. Trước điều này, TTCK đã có những phản ứng bằng các đợt điều chỉnh
mạnh. Thị trường đã điều chỉnh trong một khoảng thời gian rất dài bắt đầu từ cuối
tháng ba đến đầu tháng chin.
Sự trầm lắng của hai sàn HOSE và HASTC là đặc điềm của giai đoạn này, tất
cả các thông số phản ánh sức khỏe của thị trường đều sụt giảm nghiêm trọng. Trong
vòng 1 tháng, VNindex đã rơi xuống sát mức 900 điểm, giảm gần 23% so với mức
đỉnh vào tháng 3, còn HNX Index giảm về mốc 320 điểm, giảm 30% so với mức
đỉnh. Trong giai đoạn này, khối nhà đầu tư nước ngoài cũng tỏ ra thờ ơ thể hiện ở
sự giảm sút mạnh về khối lượng giao dịch của nhóm này trên cả hai sàn. Giá trị
bình quân giao dịch trong một phiên của khối ngoại quãng thời gian này đạt khoảng
170 tỷ đồng, giảm hơn 50% so với thời điểm đầu năm.
- Giai đoạn cuối năm 2007: phục hồi
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ đầu tháng 9 đến cuối 10/2007. thị trường hồi phục mạnh. Cổ phiếu trên cả
hai sàn có xu hướng hồi phục nhanh chóng, đặc biệt là các blue – chip. Các cổ phiếu
blue-chip trên cả hai sàn đều trở về tương đương với mức giá đã giảm sáu tháng
trước đó. Tuy vậy, sức bật của chúng vẫn chưa đủ mạnh để đưa giá trở về mức đỉnh
cũ được thiết lập vào cuối tháng 3. VNIndex giai đoạn này đã có lúc giao dịch vượt
trên ngưỡng 1.100 điểm còn chỉ số HNX– Index trên sàn Hà Nội cũng đã có lúc gần
chạm mức 400 điểm. Trong giai đoạn này, có một số cổ phiếu blue chip thể hiện đà
tăng giá rõ rệt như VIC, FPT… trên sàn thành phố Hồ Chí Minh và nhóm cổ phiếu
ngành xây dựng Sông Đà trên HASTC: S99, S91… Nhưng sau đợt này, thị trường
lại nhanh chóng điều chỉnh giảm, rơi vào giai đoạn cuối năm. Trong khoảng thời
gian này, đôi lúc xuất hiện các đợt phục hồi giả tạo (bull trap) với sự gia tăng lmạnh

Tâm lý của nhà đầu tư trong giai đoạn này bị ảnh hưởng bởi nhiều tin xấu, chủ
yếu xuất phát từ những yếu kém nội tại của nền kinh tế, như những bất ổn trong
việc điều hành chính sách vĩ mô, lạm phát gia tăng, chính sách tiền tệ thắt chặt, hay
sự tăng giá của xăng dầu…đi kèm với đó là sức ép giải chấp từ phía ngân hàng đối
với nhà đầu tư và cả những công ty chứng khoán với những khoản đầu tư vào thị
trường chứng khoán
Giai đoạn 2: Quý III-2008 – hồi phục ngắn hạn
Sau một thời gian giảm sâu, nhiều cổ phiếu xuống dưới mệnh giá, cộng với sự
tái thiết lập vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue chip…và cả những hỗ trợ tích
cực từ khối nhà đầu tư ngoại, cả hai sàn đã có được những phiên hồi phục mạnh
trong giai đoạn này. Các mức cản tâm lý quan trọng lần lượt được chinh phục, chỉ
số của cá hai sàn có được nhiều chuỗi tăng khá dài, kéo toàn bộ thị trường trở lại
trạng thái giao dịch sôi động. Lực cầu mạnh, khối lượng giao dịch lớn, kèm với giá
trị giao dịch được duy trì ở mức cao, VNIndex đã tăng được gần 170 điểm, tương
đương hơn 45% trong giai đoạn này.
Giai đoạn 3: 4 tháng cuối năm 12
Thị trường rơi vào trạng thái giảm điểm trở lại do cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu tiếp tục tiếp diễn với chiều hướng xấu, với thông tin về các cuộc khủng
hoảng nợ. VNIndex trở lại xu hướng giảm điểm, thậm chí giảm sâu hơn giai đoạn
đầu 2008, xuyên thủng nhiều mức hỗ trợ được thiết lập trước đó. Ước tính trong cả
giai đoạn này, VNIndex giảm gần 223 điểm, hơn 40%. Khối lượng giao dịch trung
bình cũng bị giảm sút đáng kể.
Nguyễn Hoàng Việt Lớp: Toán Tài Chính 50
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyên nhân lớn nhất cho sự sụt giảm của thị trường chứng khoán Việt Nam
trong giai đoạn này chính là sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính
trên toàn thế giới với hiệu ứng lan tỏa của nó. Cùng chung với bối cảnh trên thế
giới, hai chỉ số chứng khoán đại diện cho hai sàn HoSE và HaSTC tiếp tục giảm
điểm. Nhóm cổ phiếu các ngành tài chính và công nghệ, nguyên vật liệu có tốc độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status