Ứng dụng mô hình Logistic trong xếp hạng tín dụng tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam. - Pdf 25

Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
MỤC LỤC
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, đổi mới và phát triển, nền kinh tế
Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống kinh tế ngày một nâng cao. Để
đạt được những thành tựu đó, có sự đóng góp không nhỏ của ngành ngân hàng.
Ngành ngân hàng với vai trò là “người đi vay” và “người cho vay” đã có những
chính sách đổi mới tích cực phù hợp với tình hình thực tiễn, huy động tối đa các
nguồn tiền nhàn rỗi đưa vào lưu thông để phát triển sản xuất. Việc tạo lập nguồn
vốn không những giúp cho ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà
còn góp phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của mọi
doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Cũng như các ngân hàng thương mại (NHTM) khác, Ngân hàng TMCP Hàng
Hải (Maritimebank) kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với chức năng chủ yếu là huy
động vốn để cho vay. Kinh doanh ngân hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro và
ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Trong đó, tín dụng là
một hoạt động kinh doanh quan trọng,mang lại nguồn lợi chính cho ngân hàng.
Đồng thời, rủi ro tín dụng cũng là rủi ro gây thiệt hại, ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt
động của ngân hàng. Do đó, việc xếp hạng tín dụng là khâu đầu tiên, là điều kiện
tiên quyết trước khi cho vay.
Sau một thời gian thực tập, em thấy việc xếp hạng tín dụng có ý nghĩa quan
trọng đối với ngân hàng, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro,hiệu quả hơn trong việc
sử dụng nguồn vốn của xã hội. Ngoài ra mô hình Logistic trong xếp hạng tín dụng
tuy mới ra đời thời gian gần đây nhưng đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới,và đã
thể hiện được những ưu điểm của nó.Vì vậy em đã chọn đề tài:
“Ứng dụng mô hình Logistic trong xếp hạng tín dụng tại ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam.”
Mục đích nghiên cứu
Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn 2010 đến 2015, Maritime Bank tham

TMCP Hàng Hải Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Ngô Văn Thứ ,ban giám đốc và các
anh chị tại sở giao dịch Maritimebank đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
3
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG
TÍN DỤNG Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tín dụng
1.1.1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
và bên đi vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Có nhiều hình thức tín dụng như tín dụng thương mại,tín dụng nhà nước,tín
dụng tiêu dùng,tín dụng thuê mua….ở trong khuôn khổ chuyên đề,chỉ xét tín dụng
ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng
và các tổ chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả. Việc hoàn trả được nợ gốc
trong tín dụng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hoá trên thị trường, còn
việc hoàn trả được lãi vay trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên
thị trường. Tín dụng ngân hàng có ít nhất 1 bên tham gia là ngân hàng và đối tượng
cho vay trong tín dụng ngân hàng là tiền tệ.
1.1.2. Phân loại tín dụng
Dựa trên các hướng tiếp cận khác nhau, hoạt động tín dụng Ngân hàng
thương mại có thể được phân loại theo các hình thức như sau:
Căn cứ hình thức cấp tín dụng
- Cho vay
- Bao thanh toán
- Bảo lãnh ngân hàng

mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số
lượng và thời hạn.
Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy
ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi
theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá
của khoản vay mà khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. (Bank
Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107)
Có ý kiến lại cho rằng : Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân
hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không
trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng
với bất kỳ lý do nào
Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất tức là khả
năng có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay
dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất. Cách hiểu này sẽ
giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích
lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
5
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Tùy thuộc vào mục đích phân loại, chúng ta có nhiều cách phân loại rủi ro
tín dụng.
Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro:
Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
Căn cứ vào nghiệp vụ phát sinh rủi ro:
- Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách
hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình
đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân

trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro
tín dụng của ngân hàng.
1.2.4. Nguyên nhân rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan
Do những bất ổn của tự nhiên như thiên tai, bệnh dịch, …
Do tình hình an ninh,chính trị trong nước và trong khu vực bất ổn
Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân
thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường.
Do những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ vượt quá tầm
kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.
1.2.4.2 Nguyên nhân chủ quan
a. Từ phía Ngân hàng:
- Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận
dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào
một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó.
- CBTD không thực hiện nghiêm túc quá trình cho vay, dẫn tới đánh giá không
đầy dủ, chính xác về khách hàng trước khi cho vay hoặc không kiểm tra, giám sát
chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của khách hàng.
- Thiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin không đầy đủ, kịp thời, chính xác.
- Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của các cán bộ NH nhiều khi chưa
bắt kịp với cơ chế thị trường luôn luôn biến động, dẫn đến hạn chế trong quản lý
các món vay.
- CBTD thiếu đạo đức nghề nghiệp, cố tình làm sai nguyên tắc.
b. Đối với người đi vay:
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số
các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể,
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
7
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân

ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay
đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay.
1.3.2 Đối tượng của xếp hạng tín dụng
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
8
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
Xếp hạng khách hàng chủ yếu dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ cơ bản là
nguy hiểm, cảnh báo và an toàn dựa trên xác suất không trả được nợ PD
(Probability of Default). Cơ sở của xác suất này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứ
trong vòng 5 năm trước đó của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ
trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Dữ liệu được phân theo ba nhóm :
Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như
các đánh giá của các tổ chức xếp hạng; nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên
quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ
liệu về khả năng tăng trưởng của ngành; Và nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên
quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ tình hình số dư tiền
gửi, hạn mức thấu chi. Các nhóm dữ liệu này được đưa vào một mô hình định sẵn
để xử lý, từ đó tính được xác xuất không trả được nợ của khách hàng.
1.3.3 Sự cần thiết xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp trong quản trị
rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại
• Yêu cầu đảm bảo an toàn của các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng:
Hệ thống ngân hàng là một trong những kênh tài chính quan trọng trong nền
tài chính quốc gia do vậy luôn được các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng theo
dõi, quản lý về các mặt rủi ro đặc biệt là rủi ro về tín dụng. Một trong những công
cụ quản lý rủi ro tín dụng mà các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng theo Tiêu
Chuẩn Quản lý Tốt nhất theo khuyến nghị của Basel II đều hướng tới đó là hệ thống
xếp hạng rủi ro tín dụng nội bộ (IRS).
Hiệp định Basel mới (Basel II), dự kiến sẽ có hiệu lực áp dụng từ năm 2007,
yêu cầu các ngân hàng hoạt động ở phạm vi quốc tế phải sử dụng các biện pháp
nhạy cảm với lãi suất hơn để tính toán mức vốn tối thiểu yêu cầu cho rủi ro tín dụng

dụng tự xác định và là nội dung kiểm tra của các cơ quan giám sát.
Với Basel II, việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trở thành một
trong những công cụ xác định và quản trị rủi ro tín dụng được khuyến nghị. Tại hầu
hết các quốc gia trong đó có Việt Nam, Ngân hàng Trung ước đều có những chính
sách yêu cầu hoặc khuyếnkhích các tổ chức tín dụng trong hệ thống của mình xây
dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nôi bộ.
• Yêu cầu tăng cường quản lý tín dụng tập trung, thống nhất trong nội bộ
ngân hàng: áp dụng những chuẩn mực theo quản trị ngân hàng tốt nhất theo khuyến
nghị của BIS, các tổ chức có cơ hội phát triển đều thực hiện việc quản lý rủi ro tập
trung, thống nhất trong nội bộ ngân hàng. Để phục vụ cho mục tiêu này, các tổ chức
tín dụng xây dựng bộ máy quản lý rủi ro tín dụng tại đầu não gồm có các Ủy Ban
Tín Dụng, Ủy Ban Tài sản Nợ Có (ALCO), Ủy Ban Xử lý tài sản đặc biêt…. Một
trong các chức năng chính của các ủy ban này là giám sát chất lượng tín dụng và
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
10
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
quản trị danh mục cho vay. Để thực hiện chức năng này, hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ được xác định là một công cụ quản lý rủi ro hữu hiệu, cho phép xác định
được cơ cấu rủi ro của danh mục cho vay cũng như tạo cơ sở cho việc phát triển tín
dụng tiêu dùng.
Biểu 1.1: Bảng ví dụ về hệ thống xếp hạng nội bộ
Thứ
hạng
Mức độ rủi ro Diễn giải Phân loại
1
Không có rủi
ro nào đáng kể
Khả năng hoàn trả rất bảo đảm Bình thường
2 Rủi ro rất nhỏ Khả năng trả nợ bảo đảm Bình thường
3 Rủi ro ít Khả năng trả nợ khả quan Bình thường

Cần có biện
pháp phòng
ngừa rủi ro
thích hợp
Đã xuất hiện những vấn đề liên quan đến việc
hoàn thành các nghĩa vụ và điều kiện vay, hoặc
tình hình kinh doanh của người vay là xấu hoặc
không ổn định, hoặc có những nhân tố khác cần
được quản lý chặt chẽ.
Cần chú ý
9
Cần đặc biệt
quan tâm
Có nguy cơ phá sản trong tương lai
Nguy cơ phá
sản
10
Cần đặc biệt
quan tâm
Người vay đang rất căng thẳng về tài chính và
hầu như phá sản
Hầu như bị
phá sản
Lượng hóa rủi ro tín dụng mà cụ thể là ước lượng xác suất vỡ nợ đối với mỗi
khách hàng vay và tỷ lệ tổn thất khi xảy ra rủi đối với danh mục tín dụng là một yêu
cầu bắt buộc về quản lý giám sát an toàn ngân hàng của các cơ quan giám sát cũng
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
11
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
như về tăng cường quản trị điều hành trong ngân hàng. Hệ thống xếp hạng tín dụng

tổng thể toàn bộ môi trường vĩ mô.
- Phân tích rủi ro mang tính vĩ mô về xu hướng quốc gia, ngành.
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
12
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
- Phân tích rủi ro hoạt động kinh doanh như tình hình cạnh tranh, xu
hướng thị trường, vị thế kinh doanh của công ty, sự đa dạng hóa hoạt động và
các luật lệ, quy định.
- Phân tích rủi ro tài chính bao gồm hàng loạt chỉ tiêu phụ thuộc vào từng
ngành nghề, kết hợp so sánh giữa rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh, xem xét độ
linh hoạt tài chính cũng như chính sách tài chính.
- Phân tích hướng phát triển của công ty như chất lượng ban quản lý và chiến
lược kinh doanh.
* Nguyên tắc 3: Đơn giản, dễ hiểu, dễ so sánh
Nguyên tắc này xác định rằng hệ thống các chỉ tiêu phân tích được cho điểm,
sau đó tổng hợp lại, phản ánh qua biểu tượng xếp hạng theo mẫu tự latin thống nhất.
1.3.4.2 Một số phương pháp cơ bản về xếp hạng tín dụng khách hàng
doanh nghiệp
* Khái quát về phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp:
Phương pháp xếp hạng tín dụng được ra đời và phát triển phù hợp với sự phát
triển của đối tượng được xếp hạng, sự đầy đủ về thông tin và yêu cầu khách quan
của thị trường. Hiện có nhiều phương pháp xếp hạng tín dụng khác nhau, tuy nhiên
có thể chia thành 03 nhóm chính.
a) Nhóm phương pháp mô hình hóa:
Mô hình kinh tế lượng: là phương pháp dựa trên lý thuyết kinh tế lượng để
lượng hóa các quá trình kinh tế – xã hội thông qua phương pháp thống kê. Thực
chất của phương pháp này là mô tả mối quan hệ giữa các đại lượng kinh tế bằng
một phương trình hoặc hệ phương trình đồng thời. Ví dụ: RiskCalc của Moody,
CreditMonitor của Credit Suise…
Mô hình nhân tố: Là phương pháp phân tích tương quan giữa các chỉ tiêu

dung cần đánh giá.
Sau đó dựa vào những câu trả lời lần thứ nhất, người đánh giá tiến hành điều
chỉnh bản câu hỏi theo hướng thu hẹp phạm vi và đưa ra nội dung cụ thể hơn. Sau
đó bản câu hỏi đã được điều chỉnh và bảng phân tích điểm đánh giá tiếp tục được
gửi đến các chuyên gia đã tham vấn lần thứ nhất. Trong lần này, nếu thấy cần thiết
các chuyên gia có thể điều chỉnh, hoặc giữa nguyên ý kiến ban đầu của họ.
 Bước 3: Tổng hợp các ý kiến đánh giá lần thứ hai
Là giai đoạn kết thúc. Người đánh giá tiến hành tập hợp, phân loại các ý kiến
trả lời, tính điểm trung bình và độ lệch về điểm giữa các câu trả lời.
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
14
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
Kết quả lần thứ hai thường có độ lệch về điểm thấp hơn so với lần 1 và các
câu trả lời thường tập trung hơn.
b) Phương pháp xếp hạng
Phương pháp xếp hạng là phương pháp mà chuyên gia xếp hạng tiến hành sắp
xếp thứ hạng cho đối tượng xếp hạng và tiến hành cho điểm trên cơ sở thang điểm
đã được ấn định trước.
Nội dung của phương pháp xếp hạng: Phương pháp xếp hạng có thể được tiến
hành theo các bước sau:
 Bước 1: Bước chuẩn bị
- Để kết quả đánh giá đạt được độ chính xác cao, người đánh giá cần tiến hành
một số công việc chuẩn bị như sau:
•Xác định những nội dung và tiêp thức cần đánh giá. Người đánh giá tiến
hành rà soát và lựa chọn những nội dung và tiêu thức phù hợp với việc dánh giá
theo phương thức xếp hạng trong các nội dung hoạt động của doanh nghiệp.
•Công việc tiêp theo là xác định biểu điểm cho từng tiêu thức. Có thể chọn
thang điểm 5 hoặc 10 tùy theo độ rộng của biên độ đánh giá.
•Xác định hệ thống thứ hạng và số điểm tương ứng của mỗi hạng, loại.
 Bước 2: Tiến hành đánh giá

Trên cơ sở khái niệm và những nguyên lý chung về xếp hạng tín dụng
doanh nghiệp, khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu xếp hạng tín dụng cần quán triệt
các điểm sau:
 Chỉ lựa chọn các chỉ tiêu có tác động đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Hệ thống chi tiêu phản ánh các mặt hoạt động của doanh nghiệp rất nhiều, song
không phải tất cả các chỉ tiêu được đưa vào để sử dụng phân tích mà chỉ lựa chọn
những chỉ tiêu có tác động đến khả năng trả nợ nhằm giảm thời gian và tránh bị
loãng trong phân tích.
 Đầy đủ và toàn diện: Mọi rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đều phải được
phân tích, đánh giá và được phản ánh theo từng mức độ khác nhau trong kết quả
xếp hạng tín nhiệm cuối cùng cho doanh nghiệp đó. Có nghĩa là phải phân tích,
đánh giá toàn bộ các chỉ tiêu phản ánh sự tác động của các loại rủi ro đến khả năng
trả nợ của công ty theo một trình tự logic hợp lý.
Phương pháp xếp hạng tín dụng truyền thống được thực hiện bởi các công
ty xếp hạng hàng đầu đều nhấn mạnh đến logic từ trên xuống ( top-down) khi
phân rã các rủi ro từ rủi ro vĩ mô của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp và các
rủi ro vi mô ( các yếu tố bên trong doanh nghiệp). Phương pháp tiếp cận như vậy
bảo đảm cho hệ thống chỉ tiêu phản ánh các mặt của doanh nghiệp trong điều
kiện phân tích hợp lý.
 Hệ thống chỉ tiêu xếp hạng tín dụng phải phù hợp với thông lệ quốc tế và
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
16
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
trình độ phát triển kinh tế – xã hội quốc gia:
Hệ thống chỉ tiêu xếp hạng tín dụng phải kế thừa được các kinh nghiệm của
thế giới trên cơ sở các vấn đề nguyên lý cơ bản. Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh
và trình độ phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam có sự khác biệt, nên việc xây
dựng hệ thống chỉ tiêu cần có sự nghiên cứu thấu đáo về các vấn đề nguyên lý để
vận dụng một cách phù hợp với vào điều kiện cụ thể.

 Phân tích định lượng:
 Chất lượng kế toán
 Vốn và cơ cấu vốn
 Khả năng tài trợ và sự linh hoạt tài chính
 Nhận xét:
Qua nghiên cứu các nhóm chỉ tiêu phân tích đánh giá của các tổ chức xếp
hạng chuyên nghiệp sử dụng, có thể thấy rằng các chỉ tiêu được chia thành 02 góc
độ đánh giá: Vĩ mô và Vi mô.
Xét trên góc độ vĩ mô, thì các nhóm rủi ro có thể được chia ra thành:
• Các rủi ro từ môi trường tự nhiên
• Các rủi ro từ môi trường xã hội
• Các rủi ro từ môi trường kinh tế
• Các rủi ro từ môi trường công nghệ
• Các rủi ro từ môi trường chính trị
• Nguyên nhân từ môi trường pháp luật
Tóm lại, môi trường bên ngoài hay các yếu tố trong nền kinh tế quốc gia có
tác động gián tiếp nhưng quan trọng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Việc
phân tích đánh giá các yếu tố này thường rất khó khăn và thường được các chuyên
gia phân tích thực hiện thông qua việc tìm cách trả lời các câu hỏi về những vấn đề
cần phân tích, đánh giá.
 Xét ở góc độ vi mô, các nhóm chỉ tiêu có thể chia thành:
• Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro về môi trường ngành kinh tế
• Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro về sản phẩm phẩm của doanh nghiêp
• Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thị trường của doanh nghiệp
• Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro nguồn nguyên liệu của doanh nghiệp
• Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro về loại hình doanh nghiệp và quản lý
• Các chỉ tiêu phản ánh về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Kết luận rút ra từ việc nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu phân tích của các công
ty xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Moody’s và S&P là: Phân chia hệ thống
chỉ tiêu theo từng nhóm nội dung cần đánh giá, trong đó có nhấn mạnh đến các

TT Tổ chức XHTN XHTN NH XHTN DH
1 Moody P-1 đến P-3 Aaa tới C
2 S&P A-1+ tới D AAA tới D
3 Duff & Phelps Duff-1+ tới Duff-3 1 tới 17
4 Fitch F-1 tới F-4 AAA tới D
5 CBRS A-1 tới A-4 AAA tới D
1.3.4.5 Quy trình xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp
Xếp hạng tín dụng là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách khoa học,
khách quan nhằm đưa ra kết quả chính xác nhất. Tham gia vào quá trình này có
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
19
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
nhiều đối tượng khác nhau như khách hàng doanh nghiệp, các cán bộ tham gia vào
quy trình thẩm định, cấp tín dụng của Ngân hàng.
Khi nói đến quy trình xếp hạng tín dụng , chúng ta thường nói đến các hoạt
động và quy trình đánh giá gồm 3 giai đoạn:
(a) Thu thập thông tin
(b) Phân tích, đánh giá và công bố xếp hạng tín dụng;
(c) Kiểm soát và điều chỉnh xếp hạng tín dụng;
Thu thập và phân tích dữ liệu:
Thu thập thông tin là giai đoạn đầu tiên của quá trình xếp hạng tín dụng, cung
cấp nguyên liệu thô cho việc xếp hạng sau này. Tuy nhiên, đây là giai đoạn rất quan
trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xếp hạng tín dụng cuối cùng. Bởi vì nếu
thông tin trung thực, đầy đủ, kịp thời và chính xác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc xếp hạng tín dụng đem lại kết quả chính xác nhất, ngược lại thông tin sai lệch
thì kết quả sẽ bị sai lệch so với khả năng trả nợ thực tế của khách hàng. Thông tin
phải bảo đảm ba yếu tố cơ bản là số lượng, cất lượng và tính liên tục.
Đánh giá và công bố xếp hạng tín dụng
Sau khi kết thúc giai đoạn thu thập, thông tin được chuyển đến bộ phận xử lý,
phân tích để đánh giá ấn định hạng của khách hàng. Xếp hạng tín dụng vừa mang

phải được nhìn nhận đúng mức từ phía nhà quản trị cấp cao. Khi được đánh giá
đúng, hoạt động xếp hạng tín dụng sẽ có được sự quan tâm đáng được nhận, và các
nguồn lực cũng như sự ủng hộ của cấp quản lý sẽ hỗ trợ cho hoạt động này vận
hành hiệu quả. Nếu cấp quản trị không đánh giá cao hoạt động xếp hạng tín dụng thì
ngân hàng sẽ không thể có được một hệ thống tốt, từ đó gặp khó khăn trong công
tác quản trị rủi ro.
b. Vai trò của bộ phận quản lý rủi ro:
Bộ phận quản lý rủi ro của ngân hàng là cầu nối giữa ý chí của cấp quản trị và
việc hiện thực hóa của bộ phận vận hành. Bộ phận quản lý rủi ro mạnh sẽ kết hợp
với cấp quản trị để thiết lập nên các khẩu vị rủi ro, các công cụ, mô hình dự báo và
phòng ngừa rủi ro… Đối với hoạt động xếp hạng tín dụng, vai trò của bộ phận quản
lý rủi ro được thể hiện lớn nhất ở khâu xây dựng, phát triển hệ thống xếp hạng
thông qua các bước sau:
• Bước xây dựng các yêu tố đánh giá rủi ro tín dụng: trên cơ sở các ý kiến
của các chuyên gia tín dụng kinh nghiệm nhất của tổ chức tín dụng. Yêu cầu bước
thực hiện này phải khách quan và phù hợp với đối tượng khách hàng tín dụng của tổ
chức tín dụng.
• Bước hậu kiêm, và xây dựng mô hình xếp hạng: phải tuân thủ các yêu
cầu khoa học của các lý thuyết xây dựng mô hình toán kinh tế, thống kế và kinh tế
lượng
• Bước triển khai và quản lý hệ thống xếp hạng: hệ thống xếp hạng tín
Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
21
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
dụng sau khi được xây dựng xong phải triển khai thực hiện phù hợp với quy định
pháp luật, đặc trưng của tổ chức tín dụng và được bộ phận quản lý rủi ro quản trị,
định kỳ đánh giá hiệu quả của mô hình.
c. Yếu tố chủ quan của bộ phận sử dụng, vận hành:
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiến hành thực hiện các bước xếp hạng tín
dụng từ thu thập thông tin, thẩm định thông tin đến việc phân tích, chấm điểm. Do

b. Cơ sở dữ liệu, chất lượng nguồn thông tin
Đây là nhân tố có ảnh hưởng tới thông tin mà CBTD thu thập. Khi tiến hàng
thu thập thông tin, CBTD vấp phải nhiều khó khăn từ phía doanh nghiệp do đối với
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì vấn đề bảo mật thông tin mang tính quan
trọng hàng đầu. Họ không muốn tiết lộ nhiều thông tin mang tính cạnh tranh với các
doanh nghiệp khác hoặc những thông tin mật về phương thức và bí quyết kinh
doanh. Vì thế những tài liệu họ cung cấp cho ngân hàng thường không thực sự
chính xác và đầy đủ. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho công tác đánh giá, xếp
hạng doanh nghiệp cảu CBTD gặp nhiều
1.4 Một số nghiên cứu và bài học đối với về xếp hạng tín dụng khách hàng
doanh nghiệp tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
1.4.1 Hệ thống xếp hạng tín dụng tín nhiệm của Moody’s và S&P
Moody’s Investors Service (Moody’s) và Standard & Poor's (S&P) là hai tổ
chức tín nhiệm có uy tín và lâu đời tại Mỹ và cũng là những tổ chức tiên phong
trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, sau đó có thêm Fitch Investors
Service. Ngày nay, các tổ chức tín nhiệm này của Mỹ hoạt động trên các thị trường
tài chính lớn và cả những thị trường mới nổi trên toàn cầu. Kết quả xếp hạng tín
nhiệm của các tổ chức này được đánh giá rất cao.
1.4.2 Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I. Altman
Mô hình điểm số tín dụng phân biệt nhiều biến số do Altman (1981) phát triển
đầu tiên. Sau đó được Steele (1984), Morris (1997) và các nhà nghiên cứu khác phát
triển thêm. Dạng tổng quát của mô hình là Z=c+∑c
i
r
i
(Trong đó : c là hằng số, r
i

các tỷ suất tài chính và chỉ tiêu phi tài chính được sử dụng như những biến số, c
i

Để tăng được chỉ số này cần phải nâng cao năng lực quản trị, rà soát để giảm những
tài sản không hoạt động, tiết kiệm chi phí, xây dựng thương hiệu. Đó chính là sự kết
hợp gián tiếp nhiều yếu tố tài chính và phi tài chính trong mô hình mới tạo được chỉ
số an toàn. Cần lưu ý trường hợp doanh nghiệp ghi tăng vốn chủ sở hữu đồng thời
ghi tăng nợ phải thu hoặc tăng khoản đầu tư dài hạn…điều này làm tăng chỉ số Z
nên cần điều chỉnh số liệu bất thường trước khi tính toán các chỉ tiêu.

Sinh Viên: Hồ Tuấn Vương Toán Tài Chính 50
24
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh Tế
1.4.3 Mô hình Logistic
a. Mô hình Logit – Phương pháp Goldberger
Trong mô hình này, các p
i
được xác định bằng:
p
i
= = = (1.1)
X = (1,X
2
); X
i
= (1,X
2i
); β = (β
1

2
)
Trong mô hình trên, p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status