Công tác chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn ở Bảo hiểm xã hội Thành phố Vinh giai đoạn 2007 - 2011. Trực trạng và giải pháp - Pdf 25

Chuyờn tt nghip GVHD: TS Nguyn Th Chớnh
trờng đại học kinh tế quốc dân
KHOA BO HIM

ơ
chuyên đề tốt nghiệp
Đề tài:
CễNG TC CHI TR CC CH BO HIM X HI
DI HN BO HIM X HI THNH PH
VINH
GIAI ON 2007 - 2011. TRC TRNG V GII PHP
Giáo viên hớng dẫn: TS. NGUYN TH CHNH
Sinh viên thực hiện : THI TH MAI
Mã sinh viên : cq503396
Lớp : BO HIM X H I 50
Khoá : 50
Hệ : chính quy
Thỏi Th Mai Bo him xó hi 50
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
MỤC LỤC
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Hµ Néi - 2012
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
ASXH An sinh xã hội
BLĐ - TBXH Bộ lao động - Tương binh xã hội
ĐSCB Định suất cơ bản
ĐSND Định suất nuôi dưỡng
TNLĐ - BNN Tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiẹp

trọng tâm của công tác chi trả BHXH, chiếm phần lớn nguồn kinh phí dùng để chi
trả cho các chế độ BHXH. Thời gian qua, cùng với việc hoàn thiện các chế độ
BHXH dài hạn, công tác chi trả các chế độ BHXH dài hạn cũng được coi trọng,
củng cố và phát triển không ngừng góp phần bảo vệ cuộc sống cho hàng triệu NLĐ
và gia đình họ.
Thành phố Vinh là địa bàn có số người hiện đang hưởng trợ cấp các chế độ
BHXH dài hạn rất lớn với số tiền chi trả hàng năm lên tới hàng trăm tỷ đồng. Công
tác chi trả các chế độ BHXH dài hạn đang tác động trực tiếp tới cuộc sống của hàng
nghìn NLĐ trên địa bàn thành phố. Giai đoạn vừa qua, với sự cố gắng, nỗ lực không
ngừng của tập thể cán bộ công nhân viên chức BHXH Thành phố Vinh, công tác chi
trả các chế độ BHXH dài hạn ngày càng đi vào nề nếp, được dư luận đồng tình ủng
hộ, đã tạo được niềm tin của người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH dài
hạn. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế - xã hội hiện
nay, hội nhập với kinh tế thế giới và thực hiện chương trình cải cách hành chính của
Nhà nước và của ngành, đòi hỏi BHXH Thành phố Vinh cần phải nghiên cứu đổi
mới, hoàn thiện hơn nữa công tác chi trả các chế độ BHXH dài hạn nhằm phục vụ
đối tượng hưởng ngày càng tốt hơn.
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 2 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên và với mong muốn được tìm
hiểu, đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần nhỏ bé để giải quyết những tồn tại đó,
trong thời gian thực tập tại cơ quan BHXH Thành phố Vinh em đã chọn đề tài:
“Công tác chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn ở Bảo hiểm xã hội Thành
phố Vinh giai đoạn 2007 - 2011. Trực trạng và giải pháp” cho chuyên đề thực tập
của mình.
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, xem xét, đánh giá công tác chi trả các chế
độ BHXH dài hạn hiện nay ở cơ quan BHXH Thành phố Vinh, từ đó, đề xuất một
số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới.
Để phục vụ mục đích đó, chuyên đề thực tập tốt nghiệp được kết cấu thành 3
chương (không kể Lời mở đầu và Kết luận) như sau:

tính quy luật và ngẫu nhiên của bản thân họ làm cho họ bị giảm, mất thu nhập hoặc
các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn trong lao
động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị
suy giảm…vv. Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc
sống không những vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất
hiện thêm một số nhu cầu mới như: Cần được khám chữa bệnh và điều trị khi ốm
đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc, nuôi dưỡng…vv. Bởi vậy,
muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và
thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: San sẻ, đùm bọc lẫn nhau
trong nội bộ cộng đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước… Rõ
ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.
Khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển, gắn liền với chế độ tư
bản chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường và sức lao động được coi là hàng hoá đặc
biệt, xuất hiện việc thuê mướn công nhân. Lúc đầu, giới chủ chỉ cam kết trả công
lao động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một
số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm
đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp… Trên thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không
xảy ra và giới chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 4 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
dập buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không mong muốn. Do
đó, mâu thuẫn chủ - thợ xảy ra ngày càng gay gắt. Giới thợ đã liên kết lại đấu tranh
buộc giới chủ phải thực hiện cam kết cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn
và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội. Để giải quyết mâu thuẫn này
Nhà nước phải đứng ra can thiệp bằng cách yêu cầu giới chủ và giới thợ cùng đóng
góp một khoản tiền nhất định theo định kỳ, được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở
xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê, vào một quỹ tài chính chung trên
phạm vi quốc gia. Quỹ này được sử dụng để bù đắp phần thu nhập bị mất do không
được trả lương khi NLĐ gặp phải những rủi ro trên. Ngoài ra, đứng trên giác độ là
người quản lý vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước cũng đóng góp một phần vào quỹ tài

đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu. Vào năm 1850, dưới thời tổng
thống Bis-mác, nhiều bang của nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã giúp các địa
phương lập quỹ bảo hiểm ốm đau do các công nhân đóng góp để được bảo hiểm.
Năm 1883, ở nước Phổ đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới,
đánh dấu sự ra đời của BHXH. Năm 1884, xuất hiện chế độ bảo hiểm rủi ro nghề
nghiệp. Năm 1889, xuất hiện chế độ bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật. Từ đó,
BHXH lần lượt xuất hiện ở các nước khác trên thế giới dưới mức độ khác nhau
nhưng cùng chung một mục đích là đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ.
Trong khoảng thời gian từ năm 1883 đến 1889, một hệ thống BHXH lớn lần đầu
tiên đã ra đời áp dụng nguyên tắc người được BHXH phải đóng phí BHXH.
Theo gương nước Đức, năm 1918 nước Pháp đã thực hiện BHXH phổ cập
trong cả nước nhưng không thành công. Đến năm 1930, Pháp thông qua đạo luật
thứ hai về BHXH áp dụng chủ yếu cho ngành công nghiệp và thương mại. Từ thập
kỷ 30 thế kỷ XX, liên tiếp các nước Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canada đều có đạo luật
về BHXH. Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, sau khi giành được độc lập,
nhiều nước châu Phi, châu Á và vùng Carribê cũng lần lượt áp dụng cơ chế BHXH
tương tự. Lúc này, BHXH đã được thực hiện ở trên một trăm nước trên thế giới, tuy
nhiên, tuỳ theo đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi nước mà họ áp dụng các chế độ
BHXH khác nhau và nội dung cụ thể của từng chế độ cũng không đồng nhất giữa
các nước.
Sau khi ra đời, BHXH đã trở thành một trong những quyền của con người và
được xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/8/1945) đã
ghi: “Tất cả mọi người lao động với tư cách là thành viên của xã hội có quyền
hưởng bảo hiểm xã hội…” Ngày 4 tháng 6 năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế
(ILO) đã ký công ước Giơnevơ số 102 về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” và
khuyến nghị các nước thực hiện BHXH cho NLĐ theo khả năng và điều kiện kinh
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 6 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
tế của mỗi nước. Từ đó, các nước vận dụng khuyến nghị của ILO, đã có những
chính sách, biện pháp phù hợp với từng điều kiện cụ thể, tạo môi trường cho BHXH

Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 7 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
Do đó, ngày 22/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời về
các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế. Nội dung của Nghị định này
là nhằm xoá bỏ tư duy bao cấp, ỷ lại trong lĩnh vực BHXH, mở ra loại hình BHXH
bắt buộc và loại hình BHXH tự nguyện, thực hiện cơ chế đóng góp phí BHXH đối
với người được bảo hiểm.
Nhưng BHXH Việt Nam chỉ thật sự có bước đột phá sau khi có Nghị định
12/CP của Chính phủ ngày 26/01/1995 về việc ban hành “Điều lệ BHXH” đối với
CNVC Nhà nước và mọi NLĐ theo loại hình BHXH bắt buộc; Nghị định 45/CP
ngày 15/7/1995 của Chính phủ về ban hành Điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân;
Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam. Từ đây mở
ra một trang mới trong lịch sử hình thành và phát triển của BHXH ở nước ta, phù
hợp với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Để phù hợp với quá trình phát triển và hội nhập, từ năm 1998 đến nay Chính
phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách BHXH. Sự thay
đổi về chính sách BHXH đã được cụ thể hoá tại Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày
09/01/2003 của Chính phủ và đặc biệt là tại Luật BHXH Việt Nam. Luật BHXH
được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
29/6/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 là một sự kiện vô cùng quan
trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH ở nước ta. Nhiều nội
dung mới, thể hiện những bước cải cách cần thiết trong lĩnh vực BHXH đã được
đưa vào Luật BHXH. Đó là việc quy định lại đối tượng tham gia BHXH bắt buộc;
số lượng, nội dung của các chế độ BHXH bắt buộc như mức đóng, mức hưởng, thời
gian hưởng… cũng có nhiều thay đổi. Ngoài ra, Luật BHXH còn mở ra loại hình
BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp với những quy định về đối tượng tham
gia, mức đóng, điều kiện hưởng, thời gian và mức hưởng rất rõ ràng, cụ thể. Hiện
nay, Luật BHXH là văn bản có tính pháp lý cao nhất về BHXH ở Việt Nam.

của con người như: Ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… Hoặc cũng có
thể là những trường hợp không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Thai sản, tuổi già…
Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố,
rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích
lại. Nguồn quỹ này được hình thành do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủ
yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ
trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Và mục tiêu này đã
được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho NLĐ những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 9 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
sống thiết yếu của họ;
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật cho NLĐ;
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu
đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em vv.
1.1.4. Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi
quốc gia. Nó là những quy định chung về cả đối tượng, phạm vi, các mối quan hệ
và những giải pháp lớn nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra đối với BHXH. Tuy
nhiên, chính sách BHXH lại rất khó thực hiện nếu không được cụ thể hoá và không
thông qua các chế độ BHXH.
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy định
cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với
NLĐ. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hoá về đối
tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp cụ thể. Chế độ
BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và dưới luật, các
thông tư, điều lệ…
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã nêu trong Công

Các chế độ BHXH dài hạn gồm 3 chế độ là chế độ TNLĐ - BNN, chế độ hưu
trí và chế độ tử tuất.
* Chế độ tai nạn lao đông và bệnh nghề nghiệp:
Chế đọ TNLĐ - BNN là chế độ BHXH nhằm trợ cấp phần thu nhập bị giảm
hoặc mất của người lao động do bị giảm hoặc mất sức lao động từ TNLĐ - BNN.
Cụ thể đới với chế độ tai nạn lao động, người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội
bị tai nạn lao động trong các trường hợp dưới đây dẫn đến suy giảm khả năng lao
động từ 5% trở lên thì được hưởng trợ cấp tai nạn lao động do quỹ bảo hiểm xã hội
chi trả: Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; Bị tai nạn ngoài nơi làm
việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử
dụng lao động; Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong
khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý. Đối với chế độ bệnh nghề nghiệp, người
lao động được hưởng trợ cấp bệnh nghề nghiệp do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả khi
bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do làm việc trong môi trường hoặc nghề
có yếu tố độc hại dẫn đến suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.
* Chế độ hưu trí:
Chế độ hưu trí: Đây là một chế độ BHXH lớn, được xây dựng với mục đích
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 11 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
trợ cấp thu nhập cho người lao động khi về già, không còn làm việc nữa. Điều kiện
hưởng lương hưu được quy định tại điều 70 Luật BHXH ban hành ngày 29 tháng 6
năm 2006 như sau: người lao động có đủ 2 điều kiện là nam đủ 60 tuổi, nữ đủ năm
mươi lăm tuổi và phải đủ 20 năm đóng BHXH trơ lên. Đối với trường hợp nam đủ
60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm thời
gian quy đinh thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm tham gia BHXH.
Người lao động đã đóng BHXH trên 30 năm đối với nam và trên 25 năm đối với nữ,
khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp hưu 1 lần. Mức trợ cấp hưu
1 lần được tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và
năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cữ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0.5 tháng
mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.

con nuôi, người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. Đối
với lao đông nữ sinh con và nhận nuôi con nuôi phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở
lên trong 12 tháng trước khi sinh con hoạc nhận con nuôi.
1.1.5. Quỹ BHXH
1.1.5.1. Khái niệm và đặc điểm quỹ BHXH
• Khái niệm:
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, nằm ngoài ngân sách
Nhà nước. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng, mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng
để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc
rủi ro. Chủ thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình
thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Để nâng cao
khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ BHXH, thì việc bảo tồn và tăng
trưởng quỹ là một vấn đề hết sức quan trọng. Trong đó, việc xác định rõ nguồn hình
thành và sử dụng quỹ đúng mục đích, hiệu quả là một vấn đề mang tính cốt lõi.
Như vậy, quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, hạch toán độc lập với ngân
sách Nhà nước, được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu. Quỹ này được quản lý theo cơ
chế cân bằng thu chi do đó quỹ BHXH không đơn thuần ở trạng thái tĩnh mà luôn
có sự biến động theo chiều hướng tăng lên hoặc thâm hụt. Quỹ BHXH hình thành
và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người
tham gia với tổng dự trữ ít nhất, do rủi ro được dàn trải cho số đông người tham gia.
Đồng thời quỹ này cũng góp phần giảm chi NSNN; khi có biến cố xã hội xảy ra như
thiên tai, hạn hán, dịch bệnh, quỹ BHXH cũng là một khoản không nhỏ giúp Nhà
nước thay cho cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội, …
• Đặc điểm quỹ BHXH:
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 13 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
Qũy BHXH có đặc điểm sau:
- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ
thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa NSNN với các tổ
chức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài chính dân cư.

xảy ra đối với NLĐ mà mình thuê mướn. Đồng thời, nó còn góp phần giảm bớt tình
trạng tranh chấp, xây dựng được mối quan hệ chủ - thợ tốt đẹp. Đối với NLĐ, việc
đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi
ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt
chẽ. Hầu hết ở các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn
nêu trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH lại có sự khác nhau giữa các nước.
Về phương thức đóng góp BHXH của NLĐ và NSDLĐ hiện nay vẫn tồn tại
2 quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc xác định mức đóng góp BHXH
phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan
điểm thứ hai lại cho rằng cần căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của NLĐ được cân
đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định NSDLĐ phải chịu toàn bộ
chi phí cho chế độ TNLĐ – BNN, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các
chế độ còn lại cả NLĐ và NSDLĐ cùng đóng góp. Một số nước khác lại quy định,
Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…
Bảng 1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới
Tên nước Chính phủ
Tỷ lệ đóng góp của
người lao động so
với tiền lương (%)
Tỷ lệ đóng góp của người
sử dụng lao động so với
quỹ lương (%)
CHLB
Đức
CH Pháp
Inđônêxia
Philipin
Malaixia

Trong đó:
- Phí thuần tuý là phí sử dụng để trợ cấp cho BHXH cả các chế độ ngắn hạn
và dài hạn.
- Đối với các chế độ BHXH dài hạn như hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động -
bệnh nghề nghiệp, quá trình đóng và hưởng BHXH tương đối độc lập với nhau và
diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên, sự cân bằng giữa đóng và hưởng
phải được dàn trải trong cả thời kỳ dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự
phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.
- Phí quản lý được sử dụng để trang trải chi phí quản lý như: tiền lương cho
những người làm việc trong hệ thống BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng
phẩm…vv
• Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH chủ yếu được sử dụng cho các mục đích sau:
- Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Trong đó, chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH là khoản chi lớn nhất và
quan trọng nhất của quỹ BHXH.
Việc quản lý quỹ BHXH là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý
BHXH nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, không thất thoát và đủ để chi trả cho quyền
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 16 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
lợi của NLĐ. Tuỳ thuộc vào phương thức quản lý của từng nước mà quỹ BHXH chỉ
có một quỹ tập trung duy nhất hay được quản lý dưới dạng các quỹ thành phần,
thông thường bao gồm các quỹ sau: Quỹ BHYT, quỹ BHTN, quỹ hưu trí,…
Việc chi trả các chế độ BHXH cũng phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH
theo phương thức sau:
- Nếu chỉ thành lập một quỹ tập trung thống nhất thì việc chi trả cũng phải
đảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi. Điều này có nghĩa là, tất cả các
nguồn thu BHXH đều được tập trung để hình thành một quỹ duy nhất, sau đó quỹ

tuất ), đồng thời số người tham gia đóng phí và hưởng tại một thời điểm thường có
chênh lệch dương (đôi khi khá lớn) nên quỹ BHXH tại một thời điểm nhất định có
số tiền kết dư lớn.
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Phạt
Chi trả trợ cấp
Trợ cấp
ngắn hạn:
- Chăm sóc
y tế
- Ốm đau
- Thai sản
- Mai táng
Đóng góp từ chủ sử
dụng lao động
Đóng góp từ người
được bảo hiểm
Hỗ trợ của Nhà nước
Thu nhập từ đầu tư
Qũy BHXH Tài sản đầu tư
Phí quản lý Phí đầu tư
Trợ cấp
dài hạn:
- Mất sức
lao động
- Tuổi già
- Tử tuất
Trợ cấp tai nạn
lao động:
- Chăm sóc y tế

kinh tế phát triển bền vững.
* Lợi ích và các hình thức đầu tư của quỹ BHXH
Hoạt động đầu tư trước hết giúp mang lại lợi ích cho chính quỹ BHXH.
Thông qua hoạt động đầu tư quỹ BHXH vào các lĩnh vực có khả năng sinh lời của
nền kinh tế, nguồn tài chính nhàn rỗi từ quỹ BHXH có thể tạo ra một nguồn tài
chính tương đối lớn bổ sung vào quỹ, từ đó tăng quy mô và sức mạnh cho quỹ
BHXH. Mặt khác, quy mô số người tham gia BHXH ngày càng tăng cũng tạo nên
sự tăng trưởng cho quỹ, đảm bảo khả năng chi trả thường xuyên cho các đối tượng
hưởng chế độ BHXH.
Đối với nền kinh tế, nguồn vốn lớn có được từ tín dụng quỹ BHXH sẽ hỗ trợ
quan trọng để đầu tư phát triển một số dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước,
giúp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế
đang phát triển, nhu cầu vốn cho đầu tư không ngừng tăng nhanh thì bên cạnh việc
thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, việc cung ứng vốn từ nền
kinh tế thông qua các tụ điểm tài chính như quỹ BHXH có ý nghĩa rất quan trọng,
nhất là tạo ra sự tự chủ và thế chủ động trong việc phát triển kinh tế đất nước.
Mặt khác, thông thường Nhà nước phải hỗ trợ một phần ngân sách Nhà nước
để cân bằng thu - chi quỹ BHXH. Quỹ BHXH đầu tư hiệu quả, đem lại một nguồn tài
chính không nhỏ sẽ giúp ngân sách nhà nước giảm gánh nặng bù đắp cho quỹ BHXH.
Hiện nay, quỹ BHXH thường được đầu tư vào các lĩnh vực như: mua các
loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu công ty; gửi tiết
kiệm ở ngân hàng, mua kỳ phiếu ngân hàng; mua cổ phiếu; cho các công ty vay
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50
Chuyên đề tốt nghiệp 19 GVHD: TS. Nguyễn Thị Chính
vốn; trực tiếp liên doanh hoặc uỷ thác kinh doanh; kinh doanh bất động sản. Trong
đó, mua trái phiếu chính phủ và gửi ngân hàng là an toàn hơn cả và được hầu hết
các nước áp dụng.
Tuy nhiên, ở những nước có hệ thống BHXH trưởng thành và hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, Nhà nước một mặt để hệ thống BHXH tự chủ về tài chính, mặt
khác luôn hậu thuẫn để BHXH dám đầu tư vào lĩnh vực có thể ít lãi hơn nhưng có

khoa học, từ đó mới có được quyết định đầu tư đúng đắn, mang lại lợi nhuận cao.
Nguyên tắc thứ ba: là phải chú trọng đến tính thanh khoản của dòng vốn (dễ
luân chuyển vốn). Quỹ BHXH luôn vận động không ngừng, đó là quá trình tạo lập
và sử dụng quỹ để chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH. Do vậy, đầu tư
quỹ vào lĩnh vực nào, dưới hình thức nào cũng phải đảm bảo khả năng chuyển đổi
các tài sản đầu tư thành tiền mặt để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ chi trả cho người
lao động.
Thủ tục thanh toán cũng là một vấn đề cần xem xét khi quyết định đầu tư,
đảm bảo thủ tục không không quá phức tạp, dẫn đến tồn khoản. Ngoài ra, đầu tư
tăng trưởng quỹ BHXH còn phải đảm bảo lợi ích kinh tế và xã hội, bởi BHXH là
một chính sách xã hội quan trọng của Nhà nước.
Tuỳ theo tính chất và nội dung đầu tư mà các nguyên tắc trên có tầm quan
trọng khác nhau. Chẳng hạn, khi đầu tư dài hạn thì nguyên tắc “dễ luân chuyển
vốn” không quan trọng bằng nguyên tắc “an toàn” và “hiệu quả”. Ngược lại, đầu tư
ngắn hạn thì nguyên tắc “dễ luân chuyển vốn” phải được ưu tiên hàng đầu.
Tóm lại, đầu tư nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH có vai trò quan
trọng và góp phần đảm bảo quyền lợi cho người lao động, thực hiện an sinh xã hội.
Song với sự vận động không ngừng của thực tiễn kinh tế, nội dung và hình thức đầu
tư cần được tiếp tục nghiên cứu để hoạt động đầu tư quỹ BHXH đạt hiệu quả cao
nhất, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước.
1.2 – CÔNG TÁC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI DÀI HẠN
1.2.1. Đặc điểm các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn
Như chúng ta đã biết, theo công ước quốc tế Giơnevơ số 102 (1952) của Tổ
chức lao động quốc tế (ILO), hệ thống các chế độ BHXH bao gồm 9 chế độ sau:
Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn
lao động - bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp sinh đẻ, trợ cấp khi tàn phế,
trợ cấp cho người còn sống. Trong đó, các chế độ trợ cấp ốm đau, trợ cấp sinh đẻ
(thai sản) được gọi là các chế độ BHXH ngắn hạn. Còn các chế độ trợ cấp tuổi già
(hưu trí), trợ cấp cho người còn sống (tử tuất), TNLĐ - BNN được gọi là các chế độ
BHXH dài hạn.

độ BHXH này liên quan trực tiếp đến cuộc sống của nhóm đối tượng nhạy cảm nhất
trong xã hội. Đa số họ đều là những người đã cống hiến rất nhiều cho đất nước
trong khi đang công tác. Và sau cả cuộc đời làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào
khoản tiền trợ cấp BHXH. Vì vậy, công tác chi trả các chế độ BHXH dài hạn có
một vai trò rất quan trọng; ngoài việc nó chính là hoạt động cụ thể, thiết thực nhất
nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, nó còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối
với sự cống hiến của họ cho xã hội.
Thái Thị Mai Bảo hiểm xã hội 50

Trích đoạn Cơ sở và nguyờn tắc chi trả cỏc chế độ bảo hiểm xó hội dài hạn Phương thức và cơ sở vật chất phục vụ chi trả cỏc chế độ bảo hiểm xó hội dài hạn 3 GIẢI PHÁP NHĂM HOÀN THIỆN CễNG TÁC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI DÀI HẠN Ở BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ VINH 4 KIẾN NGHỊ NHĂM HOÀN THIỆN CễNG TÁC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI DÀI HẠN Ở BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ VINH Tăng cường cụng tỏc thụng tin tuyờn truyền, phổ biến CSBHXH: Cụng tỏc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status