Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
LỜI MỞ ĐẦU
Chi Bảo hiểm xã hội là khâu cuối cùng trong việc thực hiện các chế độ Bảo
hiểm xã hội và liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người lao động. Chỉ có chi
đúng, chi đủ, chi kịp thời và an toàn đến tay người tham gia Bảo hiểm xã hội mới
đảm bảo quyền lợi của họ cũng như phát huy hết vai trò của chính sách Bảo hiểm xã
hội. Công tác chi trả Bảo hiểm xã hội phản ánh chất lượng của dịch vụ bảo hiểm xã
hội và trong một trừng mực nhất định, nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ
xã hội.
Thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh
được thành lập ngày 1-10-1997, trên cơ sở tách ra từ Bảo hiểm xã hội Hà Bắc cũ, có
nhiệm vụ thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội. Đến tháng 1-2003 thực hiện thêm
chính sách Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh. Đối tượng tham gia bảo hiểm ngày càng
đông vì vậy vấn đề chi trả cũng gặp nhiều khó khăn, chẳng hạn như: đối tượng quản
lý và nguồn kinh phí chi trả phức tạp, phương tiện và chi phí chi trả chưa đáp ứng
đủ nên ảnh hưởng không nhỏ đến sự an toàn trong quá trình vận chuyển.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên và mong muốn được tìm
hiểu và đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần giải quyết những khó khăn đó,
trong thời gian thực tập tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh nên em chọn đề tài:
“Thực trạng công tác chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội
tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2008” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của
mình. Mục đích của đề tài là nghiên cứu, đánh giá công tác chi trả các chế độ Bảo
hiểm xã hội bắt buộc hiện nay ở Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh không bao gồm
Bảo hiểm y tế. Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác này trong
thời gian tới. Kết cấu của chuyên đề, ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm 3
chương:
Chương I: Lý luận chung về Bảo hiểm xã hội và công tác chi trả các chế
độ Bảo hiểm xã hội.
Chương II: Thực trạng công tác chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội tại
Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2008.
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chi trả các chế
khác… khi rơi vào các trường hợp đó nhu cầu của con người không thế mà mất đi.
Trái lại có cái còn tăng lên, thậm trí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới. Bởi vậy,
muốn tồn tại con người và xã hội phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải
quyết khác nhau. Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản
thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động phải được bảo trợ
từ cộng đồng và xã hội. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển thành
nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích
cực đến ý thức và công việc xã hội của nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau.
Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ
thống Bảo hiểm xã hội đã có những cơ sở hình thành và phát triển. Qúa trình công
nghiệp hóa làm cho đội ngũ làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ
thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương
trong các trường hợp ốm đau, thai sản, già yếu, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, rủi ro… đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những
người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối
mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người lao động phải tìm
cách giải quyết bằng những hành động tương thân tương ái, đồng thời đòi hỏi giới
chủ và Nhà nước phải có trợ giúp để đảm bảo cuộc sống cho họ.
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
3
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
Con người là trụ cột chính trong xã hội. Trong cuộc sống cũng như trong
hoạt động kinh doanh thường gặp phải những rủi ro mà không ai có thể tránh khỏi.
Khi gặp những rủi ro thì nhu cầu đối với con người và trong sản xuất không mất đi
thậm trí còn tăng lên rất nhiều. Chính vì vây, cuộc sống của con người càng khó
khăn hơn. Còn sản xuất thậm trí bị đình đốn. Khi đó người lao động trích một phần
tiền lương, tiền công và người sử dụng lao động trích một phần lợi nhuận tạo thành
một quỹ chung. Nhà nước cũng tham gia đóng góp vào quỹ. Qũy này dùng để hỗ trợ
những người lao động khi không may họ bị tai nạn, ốm đau, gia cảnh khó khăn giúp
họ ổn định cuộc sống, và Nhà nước cũng đứng ra quản lý quỹ này để đảm bảo tính
Để có được sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của con người và sự phát triển
của xã hội thì cần phải có người tạo ra sản phẩm và nhờ vào quá trình sản xuất để
tạo ra sản phẩm cần thiết cho con người, cho xã hội. Những người biết vận dụng sức
lao động của công nhân để tạo ra sản phẩm cho xã hội đó chính là người sử dụng
lao động. Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được đảm bảo thì người chủ sử
dụng lao động phải tạo được mối quan hệ tốt với người lao động, giải quyết những
vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của người sử dụng lao động thật tốt để người lao
động yên tâm tham gia lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống, từ đó lao
động sản xuất hăng hái hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản
xuất kinh doanh của người sử dụng lao động đạt kết quả cao. Muốn vây, chủ sử
dụng lao động phải tham gia đóng BHXH cho người lao động của mình để BHXH
đảm bảo những khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến người lao động khi họ gặp phải
những rủi ro bất chắc như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp
Việc tham gia đóng BHXH cho người lao động của chủ sử dụng lao động là góp
phần vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển hơn,
nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp cũng như nâng cao thu
nhập cho người lao động và góp phần vào phát triển kinh tế.
- Đối với nền kinh tế:
Góp phần gắn bó giữa giới chủ và giới thợ từ đó làm cho thị trường lao động
phát triển lành mạnh, bền vững. Đặc biệt là mâu thuẫn vốn có của giới chủ và giới
thợ về cơ bản được giải quyết và đây là tiền đề rất quan trọng giúp cho người lao
động nâng cao năng suất lao động, phát huy sáng tạo, góp phần làm cho sản xuất
ngày càng phát triển.
Nhờ có chính sách BHXH mà quỹ BHXH được hình thành và tồn tích lại
theo thời gian và bắt đầu những năm 60 của thế kỷ 20 quỹ BHXH ở các nước, đặc
biệt là các nước phát triển đã trở thành một khâu tài chính trung gian vô cùng quan
trọng góp phần đầu tư, phát triển, tăng trưởng kinh tế cho đất nước.
- Đối với xã hội:
Thứ nhất: cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động dịch
vụ, cơ quan BHXH là một “doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch vụ “bảo hiểm”
những rủi ro xảy ra, ở đây BHXH thực hiện nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”. Tuy
nhiên, tính kinh tế và xã hội của BHXH không tách rời nhau mà đan xen lẫn nhau.
Khi nói đến bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là nói lên tính xã
hội của BHXH, ngược lại khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi
ro xã hội thì đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH.
1.1.2. Bản chất, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội
1.1.2.1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội
Với những vai trò của BHXH đã nêu ở trên thì bản chất của BHXH được thể
hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
6
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ
thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì
BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH
hay BHXH không vượt qua trạng thái kinh tế của mỗi nước.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao
động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người
sử dụng lao động. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan
chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và
gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong
BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người
như: ốm đau, tai nạn lao đông- bệnh nghề nghiệp… Hoặc có thể là những trường
hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời những
biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp những biến
cố, rủi ro, sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn
bảo an toàn xã hội”.
- Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH cũng được xuất phát trên cơ sở
quan hệ lao động và quan hệ quản lý xã hội, cụ thể:
+ Bên tham gia BHXH: có thể bao gồm người lao động, người sử dụng lao
động và nhà nước và có thể chỉ có người lao động và nhà nước.
+ Bên BHXH: thông thường là cơ quan chuyên trách do nhà nước đứng ra
thành lập và bảo trợ, cơ quan này tổ chức hoạt động theo đúng khuôn khổ pháp luật.
+ Bên được bảo hiểm chính là người lao động và gia đình họ khi có đủ các
điều kiện ràng buộc cần thiết.
Cơ sở chủ yếu của các mối quan hệ giữa các bên chính là quỹ tài chính
BHXH vì quỹ này do tất cả các bên tham gia đóng góp và mức đóng của từng bên là
do sự thỏa thuận giữa các bên sau đó được tiến hành luật hóa và cụ thể thực hiện.
Đứng trên bình diện xã hội thì BHXH là quá trình sử dụng một phần tổng sản
phẩm quốc nội để đảm bảo an toàn về kinh tế cho người lao động và toàn xã hội.
Bởi vậy, quỹ tài chính BHXH là điều kiện tiên quyết để san sẻ rủi ro, san sẻ tài
chính cho các bên tham gia.
Mục đích chính của BHXH là nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của người
lao động và gia đình họ trong trường hợp người lao động bị giảm hoặc mất thu
nhập, mất việc làm. Mục đích này được tổ chức lao động quốc tế cụ thể hóa như
sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất đi để đảm bảo
nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khỏe chống lại bệnh tật.
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
8
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư, nhu cầu đặc biệt
của người già và trẻ em.
Tất cả những mục đích nói trên, thế giới ngày nay đều thừa nhận và cho rằng
góp phần đảm bảo ASXH cho từng nước và toàn thế giới.
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
9
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
lao động và xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động vốn có những
mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động. Thông
qua BHXH, những mâu thuẫn đó được điều hòa và giải quyết. Đối với Nhà nước và
xã hội thì chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng
vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp
phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an
toàn hơn.
1.1.2.3 Tính chất của BHXH
- Tính khách quan phát sinh không đồng đều theo không gian và thời gian:
Trong quá trình lao động sản xuất, người lao động có thể gặp nhiều biến cố,
rủi ro khi đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không kém
như: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợp đồng lao động
luôn được đặt ra để thay thế…Sản xuất càng phát triển thì rủi ro đối với người lao
động càng nhiều và dẫn đến mối quan hệ chủ thợ ngày càng gay gắt. Để giải quyết
vấn đề này nhà nước đứng ra giải quyết thông qua BHXH. BHXH ra đời hoàn toàn
mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.
- BHXH có tính ngẫu nhiên:
Tính chất này gắn chặt với tính ngẫu nhiên khi phát sinh sự kiện bảo hiểm.
Phát sinh không đồng đều theo không gian và thời gian. Có một số sự kiện mang
tính ngẫu nhiên vào thời điểm nhưng mang tính tất nhiên về thời gian. Từ những
phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian ảnh hưởng đến mức trợ cấp
BHXH theo từng chế độ cho người lao động.
- BHXH vừa có tính kinh tế vừa có tính xã hội, vừa có tính nhân đạo nhân văn
+ Tính kinh tế: tính kinh tế được thể hiện ở chỗ. Qũy BHXH muốn được
hình thành bảo toàn và tăng trưởng quỹ thì phải có sự đóng góp của các bên tham
gia, phải được quản lý chặt chẽ và đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên được
tính rất cụ thể dựa trên sác xuất rủi ro, thiệt hại của tập hợp người tham gia BHXH.
động.Tuy vậy, tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có
thể là tất cả hoặc là một bộ phận người lao động tham gia BHXH. Người lao động
tham gia BHXH nhằm đảm bảo cuộc sống cho chính họ và gia đình họ khi họ gặp
phải rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm. Còn người sử dụng lao động họ tham gia bảo
hiểm để bảo hiểm cho người lao động mà họ sử dụng nhằm ổn định sản xuất.
Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH đều thực hiện BHXH đối với
các viên chức Nhà nước, những người làm công ăn lương. Vì khi đó BHXH chưa
phát triển và những đối tượng này chỉ có một khoản thu nhập cố định đó là tiền
lương của họ. Nếu họ không may gặp phải rủi ro, hoặc sự kiện bảo hiểm thì họ sẽ bị
mất thu nhập, và không thể trang trải cuộc sống. Khi tham gia BHXH nếu họ không
may gặp phải sự kiện bảo hiểm thì được quỹ BHXH chi trả giúp họ ổn định cuộc
sống.
1.1.4 Các chế độ Bảo hiểm xã hội
Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định
cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
11
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
người lao động. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hóa
về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng cho từng trường hợp BHXH cụ thể. Chế
độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và dưới luật, các
thông tư, điều lệ… Tuy nhiên, dù có cụ thể đến đâu thì các chế độ BHXH cũng khó
có thể bao hàm được đầy đủ mọi chi tiết trong quá trình thực hiện chính sách
BHXH. Vì vậy, khi thực hiện mỗi chế độ thường phải nắm vững những vấn đề
mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để đảm bảo tính đúng đắn và nhất quán
trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.
Theo khuyến nghị của ILO đã nêu trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952
tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
quốc tế coi đây là chế độ đầu tiên trong 9 chế độ BHXH. Mục đích là để bảo vệ và
phục hồi cải thiện sức khỏe cho người lao động, từ đó tái sản xuất sức lao động cho
họ giúp họ làm việc một cách bình thường. Đồng thời còn giúp bản thân gia đình họ
ứng phó với các nhu cầu phát sinh cá nhân để đảm bảo cuộc sống.
Chế độ này có đối tượng rất rộng bởi vì không chỉ có người lao động tham
gia BHXH mà thậm chí cả vợ hoặc chồng con cái họ bởi lẽ nếu những người này
được chăm sóc y tế có cuốc sống khỏe mạnh bình thường thì bản thân người lao
động cũng yên tâm, phấn khởi tham gia sản xuất. Góp phần nâng cao năng suất lao
động cá nhân.
Đây là chế độ đặc thù trong 9 chế độ có đối tượng rộng nhưng BHXH sẽ tiến
hành chi trả trợ cấp theo tất cả những chi phí phát sinh trong suốt thời gian điều trị
chăm sóc những người được bảo vệ. Tuy nhiên để tránh chuộc lợi BHXH người ta
quy định người tham gia BHXH phải có ít thất 1 thời gian nhất định có đóng
BHXH. Đây là chế độ BHXH ngắn hạn vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính
chất không hoàn trả. Những nước thiết lập quỹ BHYT thì mức phí phải nộp phụ
thuộc chủ yếu 3 yếu tố: số người tham gia BHXH; số người được chăm sóc y tế
hàng năm; chi phí bình quân một người được chăm sóc y tế hàng năm.
- Chế độ trợ cấp ốm đau:
Ốm đau là loại rủi ro rất phổ biến trong cuộc sống của mỗi con người và hầu
như ai cũng gặp phải. Khi bị ốm đau bản thân người ốm và gia đình gánh chịu
những chi phí phát sinh và nếu tham gia BHXH thì chế độ chăm sóc y tế gánh vác.
Nếu ốm đau còn điều trị dài ngày thì nghỉ ốm sẽ mất thu nhập và thu nhập bị gián
đoạn, khoản chế độ này sẽ được bù đắp hoặc thay thế bởi chế độ ốm đau. Bởi vậy
mục đích của chế độ này là nhằm đảm bảo tính liên tục về thu nhập cho người lao
động và gia đình họ, giúp họ ổn định cuộc sống. Việc quy định mức trợ cấp và thời
gian trợ cấp tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước.
Chế độ này cũng là chế độ trợ cấp ngắn hạn, vừa mang tính hoàn trả, vừa
mang tính không hoàn trả.
- Chế độ trợ cấp thất nghiệp
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
cho người lao động, gia đình họ khi không may gặp tai nạn lao động…, phục hồi
khả năng lao động cho người lao động từ đó giúp họ sớm quay lại thị trường lao
động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cả người lao động và người sử dụng lao
động, trách nhiệm này thực hiện cả khi người lao động còn khỏe mạnh lẫn cả khi bị
tan nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
Đây là chế độ vừa mang tính ngắn hạn, vừa mang tính dài hạn nên việc quản
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
14
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
lý rất khó khăn nó liên quan đến ngành nghề, giới tính, thời điểm xảy ra tai nạn, nơi
sảy ra tai nạn… Bởi vậy khi luật hóa chế độ này phải hết sức cụ thể và sát với thực tiễn.
- Trợ cấp hưu trí
Trong hệ thống 9 chế độ thì chế độ trợ cấp hưu trí là một chế độ quan trọng
nhất. Vì chế độ này liên quan đến tất cả người lao động trong xã hội từ khi bước vào
độ tuổi lao động đến khi người ta chết. Đặc biệt là mức đóng và mức hưởng của chế
độ này luôn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng mức phí và trong tổng quỹ
BHXH. Ngoài ra hoạt động thu, chi của chế độ này cũng có liên quan đến tất cả các
cơ quan, các hoạt động BHXH. Chính vì vậy, chế độ hưu trí được đa số các nước áp
dụng và cũng là một chế độ được thực hiện sớm nhất.
Đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động sau khi đã hoàn thành
nghĩa vụ lao động đối với xã hội. Thể hiện sự quan tâm của chính phủ, người sử
dụng lao động không chỉ khi họ còn trẻ khỏe mà cả khi họ đã già yếu không thể lao
động được nữa. Sự quan tâm này không chỉ thuần túy là nghĩa vụ và trách nhiệm
mà còn là đạo lý của mỗi dân tộc, mỗi một chế độ chính trị xã hội. Ngoài ra, giúp
cho người lao động tiết kiệm cho bản thân ngay từ trong quá trình lao động để đảm
bảo ổn định cuộc sống khi về già, từ đó giảm bớt gánh nặng cho gia đình và người
thân và cho xã hội.
Đối tượng, mức trợ cấp và khoảng thời gian trợ cấp phụ thuộc vào điều kiện
kinh tế, xã hội của từng nước.
Chế độ hưu trí là chế độ trợ cấp dài hạn được thực hiện ngoài quá trình lao
chính sách BHXH cần phải chú ý đến chính sách sử dụng lao động nữ và chính sách
đãi ngộ đối với họ. Trong hệ thống chính sách BHXH, lao động nữ không chỉ là đối
tượng tham gia BHXH được hưởng trợ cấp mà họ còn là đối tượng nghiêm cứu để
hoàn thành toàn bộ hệ thống BHXH nói chung. Thực hiện tốt chế độ trợ cấp thai sản
sẽ bù đắp thay thế được nguồn thu nhập cho lao động nữ khi họ sinh đẻ và nuôi con
nhỏ. Tái sản xuất cho lao động nữ và những thế hệ lao động kế tiếp, góp phần thực
hiện quyền bình đẳng nam nữ và quyền phụ nữ nói chung.
- Trợ cấp tàn tật
Thực hiện chế độ này nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động
và gia đình họ khi người lao động không may bị tàn tật, từ đó góp phần đảm bảo an
sinh xã hội, khuyến khích người lao động hăng hái tham gia BHXH. Đây cũng là
một chế độ thể hiện tính nhân đạo nhất. Chế độ này vừa mang tính hoàn trả vừa
mang tính không hoàn trả. Tuy nhiên, đây cũng là chế độ rất dễ bị lạm dụng trong
khâu giám định y khoa.
- Trợ cấp tử tuất
Đây là một chế độ bảo hiểm nhân đạo nhất trong tổng số 9 chế độ BHXH
cho nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện, thực hiện chế độ này nhằm
góp phần khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống cho gia đình người lao động
không may bị chết. Khuyến khích những người còn sống tham gia BHXH và góp
phần đảm bảo ASXH cho đất nước. Chế độ này thường được các nước chia làm 2
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
16
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
phần:
+ Trợ cấp mai táng, chon cất cho người lao động bị chết.
+ Trợ cấp dài hạn cho vợ hoặc chồng, bố mẹ 2 bên theo luật quy định nhưng
mức trợ cấp tối đa cho những người này không vượt quá tiền lương đang làm việc
của người lao động khi còn sống.
1.1.5. Qũy Bảo hiểm xã hội
1.1.5.1 Khái niệm và đặc điểm của quỹ BHXH
quốc gia chịu sự chi phối của pháp luật nhà nước. Tuy nhiên, mỗi khâu tài chính
được tạo lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với một chủ thể nhất định. Vì
vậy, chúng luôn độc lâp với nhau trong quản lý và sử dụng.
+ Sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH là do điều kiện kinh tế xã hội và
điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất định của đất nước. Kinh tế-xã hội ngày
càng phát triển thì ngày càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu
cầu thỏa mãn về BHXH ngày càng được nâng cao. Đồng thời kinh tế xã hội phát
triển họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH…
1.1.5.2 Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ 3 nguồn sau
+ Người lao động đóng góp
+ Người sử dụng lao động đóng góp
+ Nhà nước bù thiếu
Ngoài ra nó còn được hình thành từ một số nguồn khác như lãi đầu tư quỹ
nhàn rỗi bổ sung thêm, sự đóng góp của các tổ chức quốc tế và các tổ chức từ thiện
khác nếu có. Trong các nguồn hình thành nói trên thì người lao động và người sử
dụng lao động đóng góp là cơ bản và chủ yếu. Thông thường nhà nước chỉ bù thiếu.
Mức đóng BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định
cân đối thu chi cho quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một cách khoa
học. Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi
từ mức hưởng sau xác định mức phí phải đóng… Việc xác định mức phí đóng
BHXH là khá phức tạp vì nó liên quan đến người lao động và người sử dụng lao
động và Nhà nước.
Phí BHXH được xác định theo công thức:
P=f 1+f 2+f 3x
Trong đó P-Phí BHXH
f 1-Phí thuần túy trợ cấp BHXH
f 2-Phí dự phòng
f 3-Phí quản lý
Vì vậy để xác định mức phí đóng BHXH phải dựa vào nhiều yếu tố, nhiều
- Đầu tư là yêu cầu khách quan: do đặc thù người tham gia BHXH đóng phí
trong một thời gian dài và rất lâu sau họ mới được hưởng chế độ trợ cấp dài hạn
như: hưu trí, tử tuất. Đồng thời số người tham gia đóng phí và hưởng tại một thời
điểm thường có sự chênh lệch dương (đôi khi khá lớn) nên quỹ BHXH tại một thời
điểm nhất định có số tiền kết dư lớn. Mặt khác, quỹ BHXH cũng luôn phải đối mặt
với những nguy cơ rủi ro, như việc tính toán mức đóng-mức hưởng của đối tượng
không khoa học, những biến động xã hội đặc biệt dẫn đến việc bội chi quỹ; bị giảm
giá trị do lạm phát thông thường, do lạm phát từ các cuộc khủng hoảng kinh tế,
chính trị, xã hội trong và ngoài nước tác động….
- Những đặc thù đó đòi hỏi quỹ BHXH phải được chú trọng đến hoạt động
đầu tư tăng trưởng để tránh việc bội chi. Sự quay vòng bảo toàn và tăng trưởng quỹ
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
19
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
BHXH là một đặc trưng cơ bản của hoạt động xã hội trong nền kinh tế thị trường.
Hoạt động đầu tư quay vòng vốn để bảo toàn và tăng trưởng giá trị quỹ BHXH là
một yêu cầu cần thiết khách quan, đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển và phát huy tác
dụng của chính sách BHXH trong việc đảm bảo ASXH và hỗ trợ cho nền kinh tế
phát triển bền vững.
- Lợi ích của hoạt động đầu tư quỹ BHXH: mang lại lợi ích cho chính quỹ
BHXH, đảm bảo cho sự chi trả thường xuyên các đối tượng hưởng chế độ BHXH.
Ngoài ra nguồn vốn lớn có được từ tín dụng quỹ BHXH sẽ hỗ trợ quan trọng để đầu
tư, phát triển một số dự án phát triển kinh tế-xã hội của nhà nước, giúp thúc đẩy
tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Hiện nay quỹ BHXH thường được đầu tư vào các lĩnh vực như mua các
loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu công ty; gửi tiết
kiệm ở ngân hàng, mua kì phiếu ngân hàng; mua cổ phiếu; cho các công ty vay vốn;
trực tiếp liên doanh hoặc ủy thác kinh doanh; kinh doanh bất động sản. Trong đó,
mua trái phiếu chính phủ và gửi ngân hàng là an toàn hơn cả và được hầu hết các
nước áp dụng.
Các hoạt động chi trả các chế độ BHXH họ đều dựa vào luật, các văn bản, các quy
định của nhà nước, các văn bản do cơ quan BHXH trung ương hướng dẫn. Đồng
thời căn cứ vào đặc điểm kinh tế, nguồn chi và tiền lương đóng BHXH, điều kiện
làm việc, mức độ rủi ro… để xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với từng
quốc gia.
- Nguyên tắc chi trả Bảo hiểm xã hội
BHXH là trụ cột chính trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, là chỗ dựa
cho người lao động lúc gặp khó khăn. Vậy để thực hiện chi BHXH một cách có
hiệu quả cần đạt được mục tiêu chi đúng, chi đủ, chi an toàn và chi kịp thời đến tận
tay đối tượng hưởng. Cần có hoạt động quản lý chi một cách có tổ chức theo đúng
quy định của pháp luật.
+ Chi đúng là chi đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng thời hạn … đảm bảo
lợi ích cho người lao động.
+ Chi đủ: là chi đủ khoản tiền trợ cấp mà đối tượng đáng được hưởng.
+ Chi an toàn: là đảm bảo khoản tiền từ cơ quan BHXH đến tay người lao
động không bị thất thoát.
+ Chi kịp thời: là chi đúng thời điểm người lao động cần sự trợ giúp của
BHXH. Nó giúp người lao động yên tâm hơn vào cơ quan BHXH nói riêng và pháp
luật của nhà nước nói chung.
1.2.2. Phân cấp chi trả
Công tác chi trả các chế độ BHXH được tổ chức theo ngành dọc, từ Trung
ương đến địa phương. Tránh tình trạng chống chéo, đảm bảo hiệu quả cao trong
công tác chi trả.
Cơ quan BHXH Trung ương chịu trách nhiệm quản lý chung, cấp và ứng tiền
cho đơn vị cấp dưới để chi trả cho các đối tượng hưởng. Ban hành các Luật, các
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
21
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
thông tư, quyết định giúp cho công tác chi trả được thuận tiện hơn.
Cơ quan BHXH tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trong việc chi trả, quyết toán
trả và thanh toán sau khi chi trả.
Quy trình chi trả trực tiếp
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
22
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
Khi thực hiện phương thức chi trả trực tiếp thì có ưu điểm và nhược điểm như sau:
+ Ưu điểm:
Do cơ quan BHXH trực tiếp chi trả với từng đối tượng hưởng BHXH cho
nên đã xác lập được quan hệ giữa cơ quan BHXH với đối tượng hưởng. Do đó sẽ
nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh của từng đối tượng. Đồng thời tuyên
truyền giải thích các chế độ chính sách cho các đối tượng. Phát hiện được những bất
hợp lý để tìm ra biện pháp và hướng giải quyết thỏa đáng.
Thực hiện chi trả trực tiếp còn giúp cho cơ quan BHXH kiểm tra và quản lý
chặt chẽ được đối tượng sẽ nắm bắt được tình hình tăng, giảm để từ đó kịp thời điều
chính hoặc phát hiện trường hợp hưởng không đúng hoặc hưởng trùng chế độ.
Do nắm bắt được đối tượng quản lý cho nên việc chi trả được thực hiện một
cách nhanh gọn, đầy đủ, chính xác, đảm bảo được quyền lợi của đối tượng hưởng,
tạo niềm tin và sự phần khởi cho người dân nói chung.
Phương thức chi trả trực tiếp tạo điều kiện thanh quyết toán của cơ quan
BHXH được kịp thời, khắc phục được hiện tượng dây dưa, tồn đọng của các đại lý
chi trả. Đặc biệt tránh được kẽ hở trong khâu thanh toán, quyết toán cũng như tiêu
cực khác trong khâu chi trả.
+ Nhược điểm:
Không thể tiến hành chi trả nhiều đơn vị, nhiều địa điểm trong cùng một thời
gian, thời gian chi trả bị kéo dài. Đòi hỏi lịch trình công tác của cán bộ phải khoa
học, chính sách đầy đủ. Đối với những khu vực vùng sâu, vùng xa, hải đảo thì việc
chi trả cũng gặp nhiều khó khăn về phương tiện đi lại cũng như là phương tiện vận
chuyển tiền, cũng như phương tiện đảm bảo an toàn cho tiền. Phương thức chi trả
được thực hiện đúng kỳ và đủ số thì nguồn kinh phí chi trả phải được đảm bảo đầy
đủ về số lượng và thời gian. Vấn đề này đòi hỏi cần phải có sự phối hợp chặt chẽ
kiểm soát và phản ánh được kịp thời cho cơ quan BHXH. Cắt giảm đối tượng bị
chết, điều chỉnh lại các đối tượng hưởng các chế độ mà không theo đúng quy định.
Các đại lý chi trả thường là do ủy ban nhân dân giới thiệu với cơ quan
BHXH, được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương giúp cho công tác chi trả được
thực hiện một cách thuận lợi và hiệu quả nhất.
+ Nhược điểm:
Nếu chi trả gián tiếp thì cơ quan BHXH không nắm bắt được tâm tư, nguyện
vọng của đối tượng hưởng để giải quyết, giải đáp những thắc mắc cho họ.
Đại lý này ở địa phương giới thiệu, có nhiều người đại lý không có ý thức tốt
thực hiện các quy định của ngành về quản lý tài chính như số tiền lĩnh không đầy
đủ, danh sách chi trả và phiếu lĩnh tiền chưa có chữ ký của đối tượng hưởng. Một số
SV: Trần Thị Lan Lớp: Bảo hiểm xã hội 48
24
BHXH
Đại lý chi trả Đối tượng hưởng
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
đại lý chi trả còn thu thêm tiền đối tượng.
Lệ phí chi trả cho các đại lý thường thấp, không khuyến khích được các đại
lý chi trả. Điều kiện đi lai khó khăn trong quá trình thực hiện chi trả.
Mặc dù, phương thức này có thể tiến hành đồng thời trên các địa bàn nhưng
việc chi trả cho đối tượng trong phạm vi một xã lại có thể kéo dài. Đặc biệt là trên
địa bàn có số đối tượng đông, vì vậy việc thanh quyết toán đối với cơ quan BHXH
sau mỗi thời kỳ chi trả thường chậm chễ so với quy định.
Quy trình chi trả thông qua Ngân hàng, Bưu điện:
1.2.3.2. Quy trình chi trả
Quy trình chi trả là sự kế tiếp các khâu có liên quan đến công tác chi trả
nhằm theo dõi sự vận động của đồng tiền từ khi ra khỏi quỹ BHXH đến tay đối
tưởng hưởng BHXH. Đến khi thu hồi chứng từ về và bảo toàn chúng.
Xem xét dưới góc độ nghiệp vụ thì quy trình phụ thuộc chặt chẽ vào cơ chế
quản lý, vào phương thức vận hành từng loại chế độ BHXH. Quy trình chi trả gồm