Báo cáo thực tập Khoa: Bảo hiểm
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH
BẮT BUỘC Ở BHXH QUẬN BA ĐÌNH.
2.1 Thực trạng chi trả các chế độ các chế độ BHXH bắt buộc ở BHXH
quận Ba Đình.
Trong giai đoạn 2004-2008 vừa qua, với việc thực hiện đúng nội quy,
quy trình và nguyên tắc chi trả các chế độ BHXH bắt buộc, với phương thức
chi trả phù hợp, BHXH quận Ba Đình đã đạt được mục tiêu “chi đúng, chi
đủ, chi kịp thời và an toàn” cho các đối tượng hưởng các chế độ BHXH bắt
buộc trên địa bàn quận. Kết quả của hoạt động chi trả chế độ BHXH bắt buộc
cụ thể như sau:
Bảng 1:Số tiền chi trả các chế độ BHXH bắt buộc ở quận Ba Đình giai
đoạn: 2006-2009.
(Nguồn: BHXH quận Ba Đình ).
Qua bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy : trong 4 năm qua (2006-
2009), BHXH quận Ba Đình đã thực hiện tốt công tác chi trả các chế độ
BHXH bắt buộc trên địa bàn quận, với số tiền chi trả trung bình hàng năm lên
tới 675 tỷ đồng và không ngừng tăng qua các năm: năm 2006 số tiền chi trả
mới chỉ đạt mức 454 tỷ đồng nhưng tới năm 2009 con số này đã là hơn 865 tỷ
đồng ( gấp gần 2 lần). Mức tăng này thể hiện trong việc chi trả các chế độ, cụ
thể như sau:
2.1.1. Thực trạng chi trả chế độ ốm đau, thai sản.
2.1.1.1. phương thức chi trả.
Đối với chế độ ốm đau, BHXH quận chọn phương thức:Thanh toán
trực tiếp cho đối tượng hưởng trợ cấp 1lần tại BHXH quận Ba Đình.
1
Sinh viên: Lường Thị Yến Lớp: Đ2-BH1
Chỉ tiêu
Năm
Ngân sách Nhà nước Quỹ BHXH Tổng
Số tiền
Đồng thời thực hiện phương thức chi trả này giúp cơ quan BHXH quận
Ba Đình được tiếp xúc trực tiếp với đối tượng hưởng, hiểu được tâm tư,
nguyện vọng của đối tượng hưởng, để từ đó phục vụ đối tượng tốt hơn.
2.1.1.2. Quy trình chi trả.
Với phương thức chi trả trực tiếp cho đối tượng hưởng, quy trình chi
trả của BHXH quận Ba Đình được thực hiện theo quy trình sau:
BHXH lấy tiền từ Ngân hàng, sau khi kiểm tra cẩn thận đối tượng và số
tiền được hưởng, thực hiện đầy đủ thủ tục cần thiết sẽ trực tiếp giao tiền cho
đối tượng hưởng tại trụ sở của cơ quan BHXH. Đối tượng hưởng ký xác nhận
rồi lĩnh tiền. Quy trình này được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
bHXHBH
2
Sinh viên: Lường Thị Yến Lớp: Đ2-BH1
Đối tượng
hưởng
BHXH quận
Ba Đình
Ngân hàng
2
Báo cáo thực tập Khoa: Bảo hiểm
2.1.1.3. Kết quả chi trả chế độ ốm đau, thai sản.
Ốm đau là hiện tượng phổ biến của tất cả mọi người. Không ai có thể
khẳng định 1 cách chắc chắn rằng trong cuộc đời mỗi người không một lần
bị ốm. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi hiện tượng ô nhiễm môi trường
và các dịch bệnh lây lan với mức độ chóng mặt. Cùng với ốm đau, việc sinh
nở nuôi con cũng là quy luật tất yếu của hầu hết phụ nữ. Trong thời gian này,
NLĐ mất một khoảng thời gian dài để sinh và chăm sóc con.
Để bù đắp, thay thế phần thu nhập bị mất khi NLĐ gặp ốm đau, thai
sản, BHXH thực hiện chi trả 2 chế độ ngắn hạn này để đảm bảo thu nhập
cũng như quyền lợi cho NLĐ. Trong những năm qua, BHXH quận Ba Đình
3
Sinh viên: Lường Thị Yến Lớp: Đ2-BH1
3
Báo cáo thực tập Khoa: Bảo hiểm
nhiều nguy cơ làm cho NLĐ mắc phải rủi ro ốm đau. Mặc dù điều kiện
chăm sóc y tế ngaỳ càng nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được hết các
nhu cầu của NLĐ, đây cũng là nguyên nhân làm cho mức chi trả trợ cấp
ốm đau hàng năm ngày càng tăng ngoài nguyên nhân mức lương tối thiểu
tăng.
Năm 2006, mức chi trả chế độ trợ cấp ốm đau mới có 1.223.961
nghìn đồng, đến năm 2009 đã lên tới 1.882.962 nghìn đồng, tăng tới 1,68
lần so với năm 2006. Do mức chi trả tăng, vì thế mức chi trả trung bình
của từng đối tượng cũng tăng từ 3,47 triệu / người / năm (2006) lên 4,56
triệu /người / năm (2009).
Chế độ thai sản trong những năm qua cũng có sự biến động tăng cả
về số người và mức tiền chi trả. Số đối tượng hưởng trợ cấp trên địa bàn
quận Ba Đình là rất lớn. Là quận trung tâm của thành phố Hà Nội, tập
trung nhiều cơ quan đầu não, nhiều đơn vị doanh nghiệp trong và ngoài
nước, thu hút nhiều lao động tham gia nên lao động nữ cũng chiếm số
lượng lớn. Năm 2006, trên địa bàn quận Ba Đình có 3178 lao động nữ
hưởng chế độ thai sản, đến năm 2009 đã lên tới 3843 lao động nữ hưởng
chế độ này. Đặc biệt năm 2007- năm Đinh Hợi được xem là năm “ con heo
vàng”, theo quan niệm của người Việt Nam, nếu ai sinh ra vào năm này sẽ
gặp nhiều may mắn, hạnh phúc và sung túc. Do vậy, số lao động nữ sinh
con trong giai đoạn này tăng đột biến, số lao động nữ hưởng chế độ thai
sản nhiều, năm 2007 tăng so với năm 2006 là 1,22 lần và tương đương với
720 lao động hưởng chế độ thai sản.
Mức trợ cấp thai sản cũng tăng nhanh, năm 2006 số tiền trợ cấp thai
sản là 11.627.263 nghìn đồng, số tiền trợ cấp này đã tăng lên 19.198.039
nghìn đồng năm 2009, tăng gấp 1,65 lần. Sở dĩ, số trợ cấp tăng nhanh như
Với việc áp dụng 2 phương thức chi trả trên, BHXH quận Ba Đình
thực hiện chi trả cho đối tượng hưởng theo 2 quy trình sau:
Quy trình chi trả trực tiếp: BHXH quận Ba Đình lấy tiền từ Ngân
hàng, sau khi kiểm tra cẩn thận đối tượng và số tiền được hưởng, thực hiện
đầy đủ thủ tục cần thiết sẽ trực tiếp giao tiền cho đối tượng hưởng tại trụ sở
của cơ quan BHXH. Đối tượng hưởng ký xác nhận rồi lĩnh tiền.
Quy trình này được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Quy trình chi trả gián tiếp thông qua đại lý chi trả : Hàng tháng BHXH
quận Ba Đình lấy tiền từ Ngân hàng giao cho đại lý chi trả từng phường,
xã . Các đại lý chi trả sẽ tiến hành chi trả cho đối tượng hưởng trong địa
bàn phường mình quản lý. Sau khi thanh toán hết cho đối tượng hưởng, các
đại lý này phải báo cáo kết quả hoạt động của mình lên cơ quan BHXH
5
Sinh viên: Lường Thị Yến Lớp: Đ2-BH1
Ngân hàng
Đối tượng
BHXH quận
Ba Đình
5
Báo cáo thực tập Khoa: Bảo hiểm
quận Ba Đình . Đây là chế độ thường xuyên nên lịch chi trả rất đều đặn,
các khâu chi trả tiến hành rất ngắn gọn, nhanh chóng và thường diễn ra
trước ngày 15 hàng tháng. Quy trình của phương pháp này được biểu diễn
qua sơ đồ sau:
2.2.2.3. Kết quả chi trả.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, TNLĐ - BNN là nguy cơ đối
với tất cả NLĐ, đặc biệt là lao động trực tiếp. Khoa học – kỹ thuật phát
triển với nhiều máy móc, trang thiết bị hiện đại thì rủi ro trong lao động
ngày càng tăng. Khi gặp rủi ro, NLĐ bị gián đoạn thu nhập và phát sinh
các chi phí như: chi phí y tế, chi phí tiêu dùng cá nhân…Mục đích của
Năm
Ngân sách nhà nước. Quỹ BHXH. Tổng cộng Số tiền chi
BQ (nghìn
đồng/người)
Số người
( người)
Số tiền
(nghìn
đồng)
Số người
(người)
Số tiền
(ngìn đồng)
Số người
(ngườ)
Số tiền
(nghìn
đồng)
2006 627 188.136 582 151.832 1029 339.968 280,9
2007 787 223.900 570 205.609 1363 429.509 315,6
2008 916 274.246 564 235.310 1480 509.556 344,1
2009 1106 418.806 796 537.060 1902 955.866 502,3
(Nguồn: BHXH Ba Đình.)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số đối tượng hưởng và số tiền trợ cấp
TNLĐ - BNN hàng tháng trên địa bàn quận trong thời gian qua tăng qua các
năm.
Số người hưởng trợ cấp TNLĐ - BNN tăng từ 627 người năm 2006 lên
1106 người năm 2009, tăng gấp 1,5 lần tương đương với tăng 479 người. Sở
sĩ có mức tăng như trên là do trong địa bàn quận có nhiều đơn vị doanh
(nghìn/ người)
2006 43 192.890 3.480
2007 51 252.112 4.942
2008 42 164.250 3.830
2009 20 105.138 5.260
( Nguồn: BHXH quận Ba Đình)
Qua bảng số liệu ta thấy: Quỹ BHXH là nguồn đảm bảo chi trả duy
nhất cho các đối tượng hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN 1 lần. Nhìn chung trong
giai đoạn 2006-2009 số người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN 1 lần không chiếm
đáng
kể (trung bình mỗi năm chỉ có 39 người), do đó số tiền chi trả cũng không
nhiều. Điều này một phần là do đặc điểm địa bàn quận Ba Đình là 1 quận
trung tâm Hà Nội,…do đó việc trang bị bảo hộ lao động cho người lao động
được các nhà máy hết sức quan tâm; góp phần hạn chế tối đa số người bị mắc
TNLĐ-BNN trong các năm. Trong thời gian qua số người hưởng trợ cấp
TNLĐ-BNN 1 lần trên địa bàn quận Ba Đình biến động không đồng đều
nhưng lại có xu hướng giảm mạnh: từ 43 người năm 2009, xuống chỉ còn 20
người năm 2009. Đặc biệt, số đối tượng hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN 1 lần
giảm đột biến vào năm 2009 từ 42 người 2008 xuống còn 20 người năm
2009.
Số tiền chi trrả trợ cấp TNLĐ - BNN 1lần cũng giảm từ 192.890 nghìn
đồng năm 2006 xuống còn 105.138 nghìn đồng nguyên nhân là do số đối
tượng hưởng trợ cấp giảm. Điều này cho thấy công tác bảo hộ lao động của
các đơn vị, doanh nghiệp trong địa bàn quận Ba Đình được chú trọng, các chủ
sử dụng lao động đã ý thức được tầm quan trọng của an toàn lao động. Tuy
nhiên, để hạn chế mức thấp nhất TNLĐ - BNN xảy ra thì đòi hỏi người sử
dụng lao động cần có các biện pháp nâng cao điều kiện làm việc cho người
8
Sinh viên: Lường Thị Yến Lớp: Đ2-BH1
8