Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
MỤC LỤC
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại.
NHNN : Ngân hàng Nhà nước.
TGTK : Tiền gửi tiết kiệm.
TMCP : Thương mại cổ phần.
HTX : Hợp tác xã.
CCTG : Chứng chỉ tiền gửi.
GTCG : Giấy tờ có giá.
HĐQT : Hội đồng quản trị.
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra cho đến năm 2020 là phải hoàn
thành nhiệm vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đưa Việt nam từ một
nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp tiên tiến.
Để thực hiện được mục tiêu này thì vốn là một trong những yếu tố rất
quan trọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế, mức tăng trưởng phụ
thuộc vào quy mô và hiệu quả vốn đầu tư. Vì vậy để đáp ứng nhu cầu phát
triển và cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam cũng đòi hỏi phải được mở
rộng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, đổi mởi dây chuyền công nghệ,
nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, vươn lên cạnh tranh với hàng hóa,
dịch vụ của các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Bởi vậy nhu cầu
vốn đầu tư cho nền kinh tế ngày càng tăng. Một địa chỉ quen thuộc và tiện ích
nhất mà người cần vốn nghĩ đến đó là các Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng TMCP An Bình –
Chi nhánh Nguyễn Văn Cừ – Hà Nội.
Chương III: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
An Bình – Chi nhánh Nguyễn Văn Cừ – Hà Nội.
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
1- Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1- Khái niệm về Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng với nền kinh tế
nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự
nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân hàng có
thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong
nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang
thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng
cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả
các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của
ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các
tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch
vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt
động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
• Ngân hàng là gì?
Ngân hàng trước tiên là một tổ chức trung gian tài chính. Trung gian tài
chính là gì? Trung gian tài chính là một tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân
thực hiện các chức năng trung gian giữa hai hay nhiều bên trong một hoạt
động tài chính nhất định. Cũng có thể hiểu theo một cách định nghĩa khác,
trung gian tài chính là một tổ chức hỗ trợ các kênh luân chuyển vốn giữa
người cho vay và người đi vay theo phương thức gián tiếp. Những tổ chức
Phõn loi ngõn hng thng mi:
Trên thế giới các ngân hàng thơng mại hoạt động với chức năng, nghiệp
vụ khá giống nhau, đó là việc: nhận tiền gửi ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và
có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ
kinh doanh khác của chính ngân hàng. Để phân loại các Ngân hàng thơng mại
ta có thể dựa trên các tiêu chớ sau:
* Căn cứ vào hình thức sở hữu: Các Ngân hàng thơng mại đợc phân
Trõn Thiện Sơn- NHC_ CĐ25 Trang
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thành:
- Ngân hàng sở hữu t nhân: Là ngân hàng đợc thành lập bằng vốn của
một cá nhân. Đây là các ngân hàng nhỏ, thờng chỉ hoạt động trong phạm vi
một địa phơng với đối tợng phục vụ chủ yếu là những ngời trong địa phơng.
- Ngân hàng sở hữu của các cổ đông: Là ngân hàng đợc hình thành từ
nguồn vốn thông qua tập trung phát hành cổ phiếu. Những ngời nắm giữ cổ
phiếu này chính là những ngời chủ của ngân hàng. Họ có quyền tham gia vào
các hoạt động của ngân hàng và đợc chia lãi cổ tức. Do huy động từ nhiều ng-
ời nên các ngân hàng này có vốn chủ sở hữu lớn, có các hình thức kinh doanh
đa dạng.
- Ngân hàng sở hữu nhà nớc: Là loại hình ngân hàng có vốn chủ sở hữu
thuộc về Nhà nớc. Đây là loại hình ngân hàng có thể nói là an toàn nhất, rất ít
khi bị phá sản. Tuy nhiên, các ngân hàng này nhiều khi phải thực hiện những
nhiệm vụ nhà nớc giao, ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
* Căn cứ theo tính chất hoạt động:
- Ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng đa năng.
Ngân hàng chuyên doanh là ngân hàng hoạt động theo hớng chuyên
doanh, thờng chỉ cung cấp một số dịch vụ ngân hàng nhất định.
Ngân hàng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng. Đây là
xu hớng chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thơng mại.
cả hai cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ
giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với
một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín
dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn. Như vậy, trung
gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm , từ đó khuyến khích
tiết kiệm, đồng thời làm giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu
nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính
đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu
thuẫn tín dụng trực tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi
nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi
ro và giảm chi phí giao dịch.
Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của ngân hàng
bằng cách chỉ ra sự không hoàn hảo trong hệ thống tài chính. Chẳng hạn, các
khoản giảm tín dụng và chứng khoán không thể chia thành những khoản nhỏ
mà mọi người đều có thể mua. Ngân hàng cung cấp một dịch vụ có giá trị
trong việc chia chứng khoán đó thành các chứng khoán nhỏ hơn (dưới dạng
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
tiền gửi) phục vụ cho hàng triệu người.
Một đóng góp khác của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản
cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho
người gửi. Thực tế các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân hàng
cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng
thẩm định thông tin. Sự phân bổ không đồng đều thông tin và năng lực phân
tích thông tin làm giảm tính hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả
năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các
công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro
– lợi nhuận hấp dẫn.
khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa,
toàn bộ hệ thống nh có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh
toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo
ra chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự
trữ vượt bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi
không phải là tiền gửi thanh toán…
1.2.1.3-Trung gian thanh toán:
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện việc thanh toán
nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách
hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ
thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và
cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện việc
thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua
các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt nhiều
hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy,
công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
tìm cách áp dụng một cách rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn
hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân
hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các
trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh
toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan
trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.2.2- Vai trò của Ngân hàng thương mại:
Có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:
1.2.2.1- Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh (NHTM).
Nếu NHNN có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông
qua các công cụ như: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất… thì các NHTM
một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các công cụ này mặt khác nó còn tham
gia gián tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế,
cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Nói cách khác, thông qua hoạt
động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên
quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại NHNN, giúp
NHNN có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng
thời kỳ để đảm bảo thúc đấy nền kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để
đảm bảo thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định.
1.2.2.4- Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền
tài chính quốc tế:
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế
quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc
đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính
quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua
hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận
tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ
tín dụng của các ngân hàng Nhà nước với các ngân hàng thương mại trực tiếp
hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu
và thông qua đó ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính
trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.3- Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại:
Ngay từ xa xưa, với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã làm xuất
của ngân hàng.
Bước chuyển mình lớn nhất của hệ thống ngân hàng bắt đầu từ thế kỷ 20
khi mà các ngân hàng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào hoạt động
của mình. Hàng loạt sản phẩm mới ra đời đáp ứng mọi nhu cầu của khách
hàng như bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, ủy thác tư vấn, môi giới
chứng khoán… Ngày nay ngân hàng đã trở thành một bộ phận không thể
thiếu của mỗi nền kinh tế. Nó được coi là mạch máu của một quốc gia.
* Các dịch vụ của ngân hàng thương mại:
1.3.1- Thực hiện trao đổi ngoại tệ:
Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được
thực hiện là trao đổi ngoại tệ- một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán loại tiền
này, chẳng hạn USD lấy một loại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và
hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ
sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc
gia hay thành phố họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại
tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như
vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
1.3.2- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại:
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng thương mại đã chiết khấu thương
phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương những người
bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền
mặt. Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
15
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây
dựng văn phòng và thiết bị sản xuất.
1.3.3- Nhận tiền gửi:
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm
kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn
Chức năng quản lý của tài sản này được gọi là dịch vụ uỷ thác (trust service).
Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ uỷ thác thông thường
cho cá nhân hộ gia đình và uỷ thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua phòng uỷ thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các
khoản tiền để cho con đi học, Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó
cho đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai
trò là người được uỷ thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua
đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả,
và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản tiền thừa kế.
Trong phòng uỷ thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng
khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng
vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ
phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng uỷ thác trả lãi hoặc cổ tức cho
chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách
thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ chứng khoán.
1.3.8- Cho vay tiêu dùng:
Trong lịch sử hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá
nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung
có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở
nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế kỷ này, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều
hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ và cho vay đã buộc các ngân hàng
phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong
những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Mặc dầu vậy, tốc độ
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêu dùng ngày
càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên,
người tiêu dùng vẫn tiếp tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra
trong loại hình tín dụng này nói chung là cao nên chúng thường được thực
hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng,
cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro.
1.3.13- Bán các dịch vụ bảo hiểm:
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách
hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị
chết hay bị tàn phế. Hiện nay ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng
thông qua các liên doanh hoặc các thoả thuận đại lý kinh doanh độc quyền.
1.3.14- Cung cấp các kế hoạch hưu trí:
Phòng uỷ thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lý kế hoạch hưu
trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát
lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế.
Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ khác nữa.
2- Vốn và công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại:
2.1- Khái niệm về vốn:
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng
thương mại tạo lập thông qua việc huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hoặc
thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân phối, tiêu dùng, mà người
sở hữu gửi vào ngân hàng với các mục đích khác nhau, họ chỉ có quyền sở
hữu còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho ngân hàng, để rồi
ngân hàng phải trả cho họ một khoản lãi. Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
19
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
trò tập trung vốn và phân phối vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá
trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển.
Đồng thời chính các hoạt động đó lại quyết định đến việc tồn tại và phát triển
Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động và bảo vệ người gửi
tiền. Chức năng điều chỉnh cũng đã được xác định cho vốn chủ sở hữu của
NHTM. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các cơ quan quản lý xác
định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ như các ngân hàng chỉ có thể
cho một khách hàng lớn vay nhưng không quá 15% vốn tự có của ngân hàng.
Nếu như ngân hàng cho vay quá số đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động an toàn
của ngân hàng.
2.1.2- Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là những
giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá
nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ ký thác, các
nghiệp vụ khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,
ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách
nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến hạn (nếu là tiền gửi có kỳ hạn)
hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không kỳ hạn). Vốn
huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. NHTM huy động vốn dưới các hình thức: Nhận tiền gửi (tiền gửi không
kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín
phiếu, trái phiếu) và nguồn vốn đi vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được
hình thành thông qua việc làm đại lý ủy thác, đại lý cho tổ chức trong và
ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền tự động
từ máy ATM…
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn
nhất, chiếm khoảng từ 70- 80% và nó có tính biến động. Nhất là đối với loại
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
21
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy động chịu tác động
vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt như:
Séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi… Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông
qua công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng thì coi đây là một khoản
tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào. Tuy
nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để làm vốn kinh doanh của
mình bởi vì trong quá trình lưu chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh
lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoản của khách hàng.
• Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách
hàng gửi vào ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn về tài sản. Tiền gửi không kỳ
hạn thuần túy cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc
nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi
không kỳ hạn thuần túy cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Mục đích của
người gửi tiền bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác định được thời gian
nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
2.3.1.2- Tiền gửi có kỳ hạn:
Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thỏa thuận trước về
thời hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn định vì ngân
hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách
hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó
vào mục đích kinh doanh trong thơig gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này,
ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng… mục đích
là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn phù hợp với thời gian nhà rỗi của
khoản tiền mà họ có. Chính vì là loại tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng
nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi
suất tiền gửi không kỳ hạn.
2.3.1.3- Tiền gửi tiết kiệm:
Việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng để hình thành vốn sử dụng
có tính ổn định cao, đồng thời nhằm giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có
tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiền tiết kiệm hạn chế. Ngân
hàng thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức:
2.3.2.1- Phát hành trái phiếu:
Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ (cả gốc và lãi) của ngân hàng
phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngân hàng khi
phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và dài hạn. Việc phát hành
trái phiếu các Ngân hàng thương mại chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà
nước, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoản và có thể bị chi
phối bởi uy tín của ngân hàng.
2.3.2.2- Phát hành chứng chỉ tiền gửi:
Là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong 1 năm). Nó có đặc điểm giống như
trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu vì vậy nó được sử dụng cho
mục đích huy động vốn ngắn hạn ở ngân hàng.
Trân ThiÖn S¬n- NHC_ C§25 Trang
25