LỜI MỞ ĐẦU
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, nó quyết định sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. Với điều kiện cụ thể khác nhau, cơ chế vận
hành hoạt động kinh doanh khác nhau thì kết quả lợi nhuận cũng khác nhau.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước
cấp phát vốn, cung ứng vật tư, nguyên liệu, lãi nộp Nhà nước, lỗ Nhà nước chịu,
lợi nhuận đó chưa phản ánh đầy đủ các chi phí sản xuất và yêu cầu thực tế của thị
trường, chưa kích thích trực tiếp sản xuất. Do đó có tình trạng lãi giả, lỗ thật.
Nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài trở thành gánh nặng cho
nền kinh tế gây lãng phí.
Thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước
ban hành các chế độ chính sách, sắp xếp lại các doanh nghiệp, tạo điều kiện để
các doanh nghiệp chủ động sáng tạo, tự chịu trách nhiệm lỗ lãi về các hoạt động
của mình. Từ khi có quyết định của Chính phủ được phép thành lập các Công ty
TNHH, Công ty cổ phần, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ và các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nhiều mô hình khách nhau, hoạt động của
các doanh nghiệp được cải thiện, nhiều doanh nghiệp bắt đầu làm ăn có lãi, tạo
điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động, giải
quyết công ăn việc làm cho xã hội. Bởi vậy, không ngừng nâng cao lợi nhuận là
việc làm rất cần thiết của các doanh nghiệp. Công ty TNHH Thế hệ trẻ là một
trong số các doanh nghiệp như vậy.
Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Thế hệ trẻ, vận dụng những
kiến thức đã học vào thực tế hoạt động kinh doanh của Công ty và hoàn thành
chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “ Một số biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận ở
Công ty TNHH Thế hệ trẻ”.
1
Chuyên đề gồm 3 chương:
CHƯƠNG I: Tổng qua về lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tết
hị trường.
CHƯƠNG II: Thực trạng lợi nhuận của Công ty TNHH thế hệ trẻ.
hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý”. Doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp
NHà nước hoạt động công ích là Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất,
cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp
thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Công ty (Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần ) là doanh nghiệp
trong đó các thành viên cùng nhau góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ
tương ứng với góp vốn của mình và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công
ty trong phạm vi phần góp vốn của mình.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bồ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm: doanh nghiệp liên doanh,
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh là doanh
nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp
đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước
ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác
với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu
tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam.
b.Hoạt động của doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh là một hoạt động đặc thù của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp kinh doanh những hàng hoá, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu, trong khả
năng nguồn lực hiện có của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận cao nhất, nâng cao
thu nhập của người lao động, tích luỹ để đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở
rộng, góp phần tăng thu nhập quốc dân và thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát
triển. Để sản xuất hàng hoá và cung cấp dịch vụ doanh nghiệp phải mua nguyên
nhiên liệu, các bộ phận , linh kiện rời hay bán thành phẩm của các doanh nghiệp
4
khác ở trong và ngoài nước. Như vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải có mối
quan hệ tương hỗ với các thành viên khác trong nền kinh tế.
thái biểu hiện khác của giá trị thặng dư, tức phần giá trị do lao động được trả
công tạo ra. Ông đã định nghĩa : “ Lợi nhuận là khoản khấu trừ vào giá trị sản
phẩm do người lao động tạo ra”. Nguồn gốc của lợi nhuạn là do toàn bộ tư bản
đầu tư đẻ ra trong cả lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Lợi nhuận là nguồn gốc của
các thu nhập trong xã hội và của mọi giá trị trao đổi.
Adam-Smith cho rằng không chỉ có lao động nông nghiệp mà cả lao động
công nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận. Nhà tư bản tiền tệ cho nhà tư bản sản xuất vay
vốn và nhận được lợi tức cho vay. Đó là một biểu hiện khách của lợi nhuận đã
được tạo ra trong sản xuất. Chính các nhà tư bản (cho vay-sản xuất) sẽ thoả thuận
để phân chia giá trị thặng tư được tạo ra từ sản xuất-kinh doanh tư bản chủ nghĩa.
Sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển thì tính cạnh tranh càng quyết liệt.
A.Smith còn phát hiện việc phân chia lợi nhuận theo tỷ suất lợi nhuận bình quân
và khi quy mô đầu tư tư bản càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút.
Tuy còn những sai lầm trong hệ thống lý luận của mình nhưng A.Smith đã
chỉ ra được rằng:
Nguồn gốc thực sự cho giá trị thặng dư là do lao động tạo ra, còn lợi
nhuận, địa tô, lợi tức chỉ là biến thể, là hình thái biểu hiện khác nhau của giá trị
thặng dư mà thôi.
D.Ricacdo và những người kế tục đã xây dựng học thuyết kinh tế của mình
trên cơ sở những tiền đề và phát kiến của A.Smith. D.Ricacdo cũng hoàn dựa vào
lý luận giá trị lao động để phân tích chỉ rõ nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận
trong sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa.
D.Ricacdo đã khẳng định: Lao động là nguồn gốc của giá trị và giá trị hàng
hoá sản phẩm lao động được phân thành các nguồn thu nhập tiền lương, địa tô,
lợi nhuận. Ông kết luận : “Lợi nhuận chính là phần giá trị lao động thừa ra ngoài
6
tiền công, lợi nhuận là lao động không được trả công của công nhân. D.Ricacdo
coi lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công, giá trị hàng hoá do công
nhân tạo ra luôn luôn lớn hơn số tiền công, số chênh lệch đó chính là lợi nhuận:
Việc hạ thấp tiền lương làm cho lợi nhuận tăng và ngược lại, tiền lương tăng làm
thặng dư được quan niệm là toàn bộ con đẻ của tư bản ứng trước, mang hình thái
chuyển hoá là lợi nhuận” và “ giá trị thặng dư (là lợi nhuận) là phần giá trị dôi ra
của giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng
số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá với số lượng lao động được trả công
chứa đựng trong hàng hoá.
Vượt trên tất cả các nhà lý luận trước đây, C.Mác đã phân tích tất cả các
khía cạnh khác nhau của lợi nhuận, sự hình thành lợi nhuận và sự vận động của
quy luật lợi nhuận bình quân, xuyên qua các quan hệ kinh tế là các quan hệ chính
trị-xã hội của phạm trù lợi nhuận. Là nhà tư tưởng vĩ đại của giai cấp công nhân,
sự nghiên cứu về kinh tế của C.Mác là cơ sở, là phương tiện vạch rõ những mâu
thuẫn nội tại của xã hội tư bản, những mâu thuẫn đối kháng đẩy chủ nghĩa tư bản
đến chỗ tất yếu bị diệt vong, xây dựng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai
cấp.
Lợi nhuận được xem như một cức đối lập với tiền lương trong cơ chế phân
phối thu nhập tư bản chủ nghĩa. C.Mác viết: Giá cả sức lao động biểu hiện ra
dưới hình thái chuyển háo là tiền công, nên ở cực đối lập, giá trị thặng dư biểu
hiện ra dưới hình thức chuyển hoá là tiền công, nên ở cực đối lập, giá trị thặng dư
biểu hiện ra dưới hình thức chuyển hoá lợi nhuận. Trong doanh nghiệp tư bản
chủ nghĩa, để theo đuổi mục tiêu của lợi nhuanạ tiền trả cho việc thuê sức lao
động có xu hướng giảm sút. Mác tóm tắt như sau: “Tiền công và lợi nhuận là tỷ
lệ nghịch với nhau”. Giá trị trao đổi của tư bản, tức là lợi nhuận tăng lên theo tỷ
lệ mà giá trị trao đổi của lao động tức là lao động tiền công giảm xuống và giảm
8
xuống theo mức độ tiền công tăng lên”. Và “ Lợi nhuận tăng lên không phải vì
tiền công đã sụt xuống vì lợi nhuận tăng lên”.
Tóm lại, hầu hết các nhà lý luận khi xây dựng học thuyết kinh tế của mình
đều cố gắng vạch rõ bản chất nguồn gốc của lợi nhuận của nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa. Tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô được xem là những vấn đề trọng yếu
của các lý thuyết kinh tế.
Kết luận:
Lợi nhuận từ
hoạt động +
kinh doanh
Lợi nhuận
hoạt động +
tài chính
Lợi nhuận
hoạt động
bất thường
3.1.Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất-kinh doanh là: lợi nhuận do tiêu thụ sản
phẩm lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp, là
khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi giá thành toàn
bộ của sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ và thuế theo quy định của pháp luật
(trừ thuế thu nhậ doanh nghiệp).
Đây là bộ phận lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ lợi nhuận. Bộ
phận lợi nhuận này được xác định bằng công thức sau:
Lợi nhuận
hoạt động =
SXKD
Doanh
thu thuần -
trong kỳ
Giá vốn
- Hàng bán
Chi phí quản lý
Doanh nghiệp
Trong đó:
*Doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh lá: toàn bộ giá trị của sản phẩm
hàng hoá cung ứng dịch vụ trên thị trường được thực hiện trong một thời kỳ nhất
đã tiêu thụ trong kỳ.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là hai khoản lớn có ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp còn có các hoạt
động hay nghiệp vụ thuộc lĩnh vực khác như hoạt động tài chính và nghiệp vụ bất
thường.
3.2. Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Đây là bộ phận lợi nhuận được xác định
bằng chênh lệch giữa các khoản thu và chi về hoạt động tài chính bao gồm:
-Lợi nhuận về hoạt động góp vốn tham gia liên doanh.
-Lợi nhuận về hoạt động đầu tư, mua bán, bán chứng khoán ngắn hạn,dài
hạn.
-Lợi nhuận về cho thuê tài sản.
-Lợi nhuận về hoạt động đầu tư khác.
-Lợi nhuận về chênh lệch lãi tiền gửi ngân hàng và lãi tiền vay ngân hàng.
-Lợi nhuận cho vay vốn.
-Lợi nhuận do bán ngoại tê.
Lợi nhuận
hoạt động =
tài chính
Thu nhập
hoạt động -
tài chính
Chi phí
hoạt động
tài chính
Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản thu và lãi liên quan đến hoạt
động về vốn.
Chi phí hoạt động tài chính là những khoản chi phí và các hoạt độn lỗ liên
-Các khoản thu sau khi trừ đi các khoản chi phí là lợi nhuận bất thường.
Tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong lợi nhuận doanh nghiệp có sự
khác nhau giữa các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và
thuộc các môi trường kinh tế khác nhau. Việc xem xét kết cấu lợi nhuận có ý
nghĩa quan trọng trong việc cho ta thấy được các khoản mục tạo nên lợi nhuận và
13
tỷ trọng của từgn khoản mục trong tổng lợi nhuận,từ đó xem xét, đánh giá kết quả
của từng hoạt động, tìm ra các mặt tích cực cũng như tồn tại trong từng hoạt động
để đề ra quyết định thích hợp để nâng cao hơn nữa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nhìn chung, trong các doanh nghiệp, lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là bộ phận chủ yếu quyết định phần lớn tổng lợi nhuận
của doanh nghiệp so với lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động bất
thường.
Để đạt được các khoản doanh thu đó, trong hoạt động sản xuất kinh doanh
nhất thiết các doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những khoản chi
phí đó bao gồm:
-Chi phí về vật chất tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá như: chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu phụ phục vụ sản xuất, khấu
hao máy móc thiết bị.
-Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đắp chi phí lao động
sống cần thiết họ đã bỏ ra trong quá trình sản xuất đó để tạo ra sản phẩm, hàng
hoá.
-Các khoản tiền thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Đó là các khoản
thuế gián thu phải nộp cho Nhà nước theo luật định: Thuế GTGT, thuế tiêu thụ
đặc biệt
Quản lý những khoản chi phí này là một vấn đề cấp thiết được đặt ra cho
các doanh nghiệp bởi nếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh những
khoản chi phí không hợp lý, không đúng với thực chất của nó đều gây ra những
khó khăn trong quản lý, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy để kiểm
soát tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, các doanh nghiệp đã sử dụng
nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, tăng khả năng cạnh
tranh, sản xuất ra nhiều sản phẩm mới đây là tạo đà nâng cao lợi nhuận của doanh
nghiệp.
15
-Sản xuất kinh doanh có hiệu quả đạt lợi nhuận cao có điều kiện nâng cao
thu nhập, cải thiện đời sống người lao động.
-Lợi nhuậnlà điều kiện tài chính để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ trách
nhiệm với Nhà nước và xã hội. Thông qua việc nộp ngân sách đầy đủ tạo điều
kiện cho đất nước phát triển, tăng trưởng kinh tế.
III.CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
1.Tỷ suất lợi nhuận:
*Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
a) Ý nghĩa:
Khi tính toán hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh ta không thể coi
lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Trước hết lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, các nhân tố này có tác động lẫn nhau. Do
điều kiện sản xuất kinh doanh, thị trường tiêu thụ, thời điểm tiêu thụ có khác
nhau làm lợi nhuận của doanh nghiệp cũng khác nhau.
Ngoài ra quy mô của các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng khác nhau.
Do vậy để đánh giá một cách đầy đủ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thì phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, vì nó biểu
hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và các chi phí sản xuất thực tế, thể hiện trình độ
kinh doanh của các nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tố đó.
b)Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận:
*Tỷ suất lợi nhuận của vốn:
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn đã chi ra bao
gồm vốn cố định và vốn lưu động:
16
Công thức:
Tổng số lợi nhuận
Tỷ suất doanh lợi =
Tổng doanh thu tiêu thụ
Hàng hoá và dịch vụ
Qua công thức cho thấy hiệu quả của một đồng doanh thu thì tạo ra được
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
*Tỷ suất lợi nhuận theo vốn chủ sở hữu:
Tỷ suất lợi Tổng số lợi nhuận
nhuận của vốn =
chủ sở hữu Tổng số vốn chủ sở hữu
*Tỷ suất lợi nhuận theo lao động:
Là so sánh giữa tổng lợi nhuận với số lượng lao động tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh hoặc với tổng chi phí về tiền lương (tiền công) sử dụgn
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này có tác dụng khuyến khích các
doanh nghiệp quản lý và sử dụng tốt lao động trong doanh nghiệp theo các hợp
đồng lao động.
Công thức:
Tỷ suất lợi Tổng số lợi nhuận
nhuận theo =
lao động Tổng lao động sử dụng trong kỳ
2.Các biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp:
2.1.Các biện pháp về doanh thu:
a)Tăng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu thị trường:
Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường rất đa dạng và
phong phú, dễ biến động do sự cạnh tranh gay gắt giữa các Công ty. Việc tăng
18
lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầu thị trường sẽ làm tăng doanh
thu dẫn đến tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần
phải chuẩn bị tốt các yếu tố và điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất kinh
cả các mặt hàng sản xuất kinh doanh như:
a)Nhân tố sản lượng sản phẩm tiêu thụ:
Khi các nhân tố khác không biến đổi (nhân tố về giá cả giá thành sản
phẩm, thuế ) thì sản lượng tiêu thụ tăng giảm bao nhiêu thì số lợi nhuận tiêu thụ
cũng tăng giảm bấy nhiêu. Việc tăng sản lượng tiêu thụ phản ánh kết quả tích
cực của doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
b)Nhân tố giá bán sản phẩm:
Trong điều kiện bình thường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
thì giá bán sản phẩm do doanh nghiệp xác định. Trường hợp gía bán sản phẩm
thay đổi thường do chất lượng sản phẩm thay đổi. Mặt khác, việc thay đổi giá bán
cũng do tác động của nhu cầu thị trường quan hệ cung cầu, của cạnh tranh là
tác động của yếu tố khách quan.
c)Nhân tố mặt hàng tiêu thụ:
Việc thay đổi tỷ trọng mặt hàng tiêu thụ liên quan tới mức lỗ lãi khác nhau
nếu tăng tỷ trọng những mặt hàng có mức lãi cao, giảm những mặt hàng có mức
lãi thấp thì sản lượng tiêu thụ có thể không đổi nhưng tổng lợi nhuận có thể vẫn
tăng
d)Nhân tố giá thành sản phẩm tiêu thụ:
Giá thành toàn bộ sản phẩm là tập hợp toàn bộ các khoản mục chi phí mà
doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành sản phẩm
cao hay thấp phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật tư kỹ thuật
tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc giảm giá
thành là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
20
e)Nhân tố thuế:
Ảnh hưởng của thuế đối với lợi nhuận. Việc tăng giảm thuế do yếu tố
khách quan quyết định do chính sách, luật định của Nhà nước. Với mức thuế
càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng giảm mà doanh nghiệp vẫn phải
đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước.
f)Quan hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ trên thị trường:
lý. Đó là điều kiện để tăng lợi nhuận.
i)Chính sách Nhà nước:
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của các
doanh nghiệp ngoài việc bị chi phối bởi các quy luật thị trường, các doanh nghiệp
còn bị chi phối bởi những chính sách kinh tế Nhà nước (chính sách thuế, chính
sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái ). Vì chính sách thuế thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi nhuận của doanh nghiệp, hoặc chính sách tiền tệ thay đổi làm mức lãi
giảm đi hay tăng lên ảnh hưởng trực tiếp đến việc vay vốn của doanh nghiệp.
22
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN CỦA CÔNG
TY TNHH THẾ HỆ TRẺ
1.GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH THẾ HỆ TRẺ
1.1.Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty TNHH Thế hệ trẻ được thành lập ngày 27/01/2007 theo quyết định
số 4000LGP/TLDN của UBND thành phố Hà Nội.
Công ty TNHH Thế hệ trẻ có trụ sở giao dịch tại 48 Bà Triệu-TP.Hà Nội.
Công ty TNHH Thế hệ trẻ được thành lập năm 2007 có tư cách pháp nhận,
có con dấu riêng được mở tài khoản riêng và thực hiện hoạch toán kinh tế độc
lập.
Trong những ngày đầu thành lập hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty chưa được mở rộng bộ máy quản lý rất gọn nhẹ.
1.2.Chức năng của Công ty TNHH Thế hệ trẻ:
Công ty đã từng bước hoạt động sản xuất kinh doanh, sắp xếp lại lao động,
mở rộng và phát triển tiêu thụ sản phẩm hàng hoá tận dụng các khả năng sẵn có
nhằm đạt hiệu quả cao. Các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của
Công ty như sau:
-Sản xuất kinh doanh nước giải khát.
-Sản xuất lắp đặt các sản phẩm từ nhựa composit.
-Sản xuất lắp đặt bình đun nước nóng lạnh.
mưu tài chính và quan hệ chức năng khác trong lĩnh vực kế toán, tài chính, thống
kê, tiền lương, cân đối các khoản thu chi.
+Kế toán trưởng.
+Kế toán tổng hợp.
24
+Kế toán thanh toán theo dõi công nợ.
+Kế toán nguyên vật liệu, công cụ.
+Thủ quỹ.
c)Xưởng sản xuất : Có 2 xưởng.
c.1.Phân xưởng sản xuất nước uống giải khát gồm:
+Xưởng trưởng
+Thống kê.
+Tổ trưởng các tổ sản xuất.
->Chịu trách nhiệm trong việc đôn đốc sản xuất sản phẩm.
c.2.Phân xưởng sản xuất các sản phẩm từ nhựa composit:
+Xưởng trưởng
+Thống kê.
+Tổ trưởng các tổ sản xuất.
*Ngoài ra Công ty TNHH Thế hệ trẻ còn có các chi nhánh, đại lý ở Hà
Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phú, Bắc Ninh, Bắc Giang
Các đại lý tiêu thụ sản phẩm chính là nước uống tinh khiết đóng chai 5
gallons và một số sản phẩm từ nhựa composit.
25